Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới






Đôi Mắt Thủy Nguyên








Chương 4: Vĩnh Biệt Đôi Mắt Thủy Nguyên


Năm năm sau, đầu tháng chạp 2007, tôi đã định cư nơi Sài Gòn hoa lệ, không còn phiêu bạt nữa. Đang giữa chiều trời đổ mưa xối xả, tôi nghe giọng Thủy Đường đứt quãng ở đầu dây: Nội sắp đi rồi…anh ơi!.

Vào báo cho vợ con biết chuyện, tôi vội vã đón tắc xi, tức tốc đến sân bay. Nhưng không kịp nữa rồi! Tôi vừa đến cũng là lúc, cụ Trần vừa nhắm mắt xuôi tay, chẳng biết có còn kịp, nhìn tôi lần cuối hay không nữa.Tôi chỉ còn biết nghẹn ngào, gọi nhỏ hai tiếng “Nội ơi!”, mà nước mắt rơi đầy

Tang lễ xong, chiều chiều ra viếng mộ, thắp hương cho cụ, lòng nghe luống ngậm ngùi. Nhìn sông núi Tràng Kênh Minh Đức, nhìn những con đường, tôi với cụ đã từng đi, đâu đâu tôi cũng thấy, ánh mắt ngời ngời thăm thẳm, thắm đượm tình người, đang dõi bước tôi đi.

Thế là hết! Thế là từ đây, trần gian không còn, bóng dáng phong thái nho gia, đầy tiên phong đạo cốt, của cụ Trần đáng kính nữa. Và tôi cũng không còn lý do gì, để trở lại Thủy Nguyên, dù trước đây cuối đông nào, tôi cũng gắng ra thăm, trước khi về quê ăn tết. Còn chăng là những hoài niệm, buồn vui đong đầy ký ức, là đôi mắt có thần, lung linh rạng ngời soi sáng bước chân tôi.

Sau đó Thủy Đường mang ra, đưa cho tôi hộp nghiên bút, và nói rằng Nội dặn dò, phải mang tặng cho anh. Ôi! Chẳng biết dưới ba thước đất kia, Người có thấu, kẻ lãng tử này đã từ lâu, đành chữ trả cho thầy. Nhưng âu phải nhận thôi, biết làm sao được,ngậm ngùi bên tôi, Thủy Đường nói: “ Có lần nhìn thằng cu nhà em, mỗi ngày một giống anh đến lạ, Nội buồn buồn nói, phải chi nó là con của thằng Lưu, thì hay biết mấy…”.

Chiều cuối cùng đứng trên mộ Nội, Thủy Đường rơm rớm nước mắt:“ Mai này rồi anh có nhớ em không? Chẳng biết miền đất Thủy Nguyên, với anh có còn chăng lưu luyến!”.

Nhìn Bạch Đằng giang đang trầm mình trong sóng khói , tôi nói mà như thể nói với chính mình: “ Quên sao được, những chiều vàng chiều xanh đêm tím, bên Bạch Đằng Giang hiển hách, trên núi rừng bát ngát mênh mông trùng điệp, trong hang động hoang sơ, trong chùa đền cổ kính, trong đình miếu nghiêm thiêng, của miền đất địa linh nhân kiệt Thủy Nguyên, vẫn còn lưu khắp dấu chân anh, cùng ai sóng bước. Quên sao được những ngày du sơn ngoạn thủy, nơi nước biếc non xanh, đẹp như tranh miền Lan Hạ Cát Bà.Cùng đón trăng hạ huyền lên trên biển, cùng đợi bình minh hừng, trên núi bãi nguyên sơ. Cùng ngâm mình trong làn nước trong veo, nơi bãi chiều Vạn Bội, như lạc cõi bồng lai thơ mộng, cùng ngủ chung một túp lều, qua đêm nơi hoang đảo, giữa trời nước mênh mông, ai mơ ước nụ hôn đầu. Quên sao được, những đêm cùng giường trong khách sạn, ai đã làm điều dại dột, ấp e hoài chưa dám nói trọn lời yêu. Những phố cổ Hội An, những Phong Nha tiên cảnh, những cố đô chiều lăng tẫm, tối trên thuyền rồng, cùng nghe điệu hát câu hò, tha thiết bi ai. Quên sao được nhà lưu niệm Nguyễn Du, ai đượm buồn thiếu nữ, ngóng đợi mãi mà tình lang, chẳng dám đến bao giờ. Quên sao được, những lời nói trong hang Vua: anh sẽ là vua, còn vọng mãi trong lòng, anh sẽ là vua…sẽ là vua. Quên sao được chiều đỉnh cao Hồng Lĩnh, cùng đếm chín mươi chín ngọn đồi, tranh cãi hoài, chẳng biết ai đúng ai sai. Quên sao được, đêm Bến Thủy cùng đứng bên cầu, nhìn núi Hồng sông Vĩ, dưới vầng trăng thơ mộng, mãi tâm sự bị mắc mưa, ai chạy đứt giày, ai cõng ai về, ai nhiễm lạnh sốt mê man, mà mãi gọi tình lang. Quên sao được, đêm Hà Thành mưa gió căm căm, cùng che mưa một cái ô, như hai kẻ điên, đứng mãi ngoài mưa, trên cầu Thê Húc. Quên sao được, mấy mươi đêm ngủ bên nhau, chỉ trọn nụ hôn đầu.Quên sao được, khi nghe trích đoạn cải lương Xin một lần yêu nhau, ai đã đau lòng ngã quỵ, nước mắt đầm đìa, thương xót một tình yêu. Quên sao được, nơi bến xe Tam Bạc, ai nuốt lệ vẫy tay ai, và nói những lời gì.Ai dạy, ai hát cho ai nghe, những lời hát Đúm tỏ tình xưa cổ,tình long lanh đáy mắt, dậy sóng bao lần, chưa xây nổi mộng cùng nhau. Quên sao được …quên sao được…

Trên đường trở lại Sài Gòn, bởi trước lúc chia tay, tôi đến bàn thờ, thắp hương cho cụ Trần một lần cuối, nhìn di ảnh của Người, mà đọng mãi trong tim, cái thần lực từ đôi mắt, ám ảnh đến bây giờ, trước mặt vẫn còn như. Ôi! Đôi mắt biết bay lên, cùng ước mơ chắp cánh, trông trời đất bao la, đẹp đẽ nước non mình. Thôi nhớ lắm thương nhiều, cũng đành xin vĩnh biệt, Đôi Mắt Thủy Nguyên ơi!

Một sáng hạ 20/04, ngồi lướt Face, tôi thấy lời anh bạn nhỏ, mới kết bạn mấy hôm: “ Dạ cháu xin hỏi bác Lưu, có phải là nhà thơ Nguyễn Lưu không ạ?”. Tôi trả lời : “ Ừ! Có gì không con!”. Nó nói tiếp: “Mong bác vui lòng cho cháu xin địa chỉ, và số điện thoại bác đang dùng ạ! Cám ơn bác nhiều”.Không thành vấn đề, ngại gì, tôi trả lời ngay.

Mấy hôm sau khoảng gần trưa, tôi ăn mặc chỉnh tề, ra lau bụi chiếc xe máy, định đi dự sinh nhật, đứa cháu nội một người bạn. Có cảm giác nhồn nhột, như ai đang nhìn mình chăm chú. Tôi đứng dậy vuốt lại mái tóc, đà bạc trắng như sương, nhìn sang bên kia đường và ngạc nhiên đến sửng sốt. Nhướng cặp mắt với thị lực, chỉ còn con bảy con ba, cố nhìn và thấy rõ, bóng dáng ai kia chưa lấm bụi thời gian, chưa nhạt nhòa trong ký ức. Mắt nhìn tôi ứa lệ, môi run run mím lại,tay dắt con thơ, thân mỏng mảnh hao gầy…

Thằng cu giống ai…giờ đã lớn…



PHẦN CUỐI : ĐÔI MẮT THỦY NGUYÊN



Quên khuấy mình giờ đây, đà mắt mờ gối mỏi chân chồn, tôi hấp tấp băng qua lộ, mặc dòng xe cộ ngược xuôi hối hả. Bất chấp bao kẻ lạ quen, khách qua đường dòm ngó, tôi phì phò chạy đến, xính xáng luýnh quýnh, dang tay ôm ghì lấy Thủy Đường, đính vồ vập những cái hôn nóng bỏng, lên đôi mắt lệ lưng tròng, lên vành môi khô úa, vì mỏi mòn héo hắc chuyện yêu đương. Chẳng biết thời gian, vẫn trôi qua hay đang dừng lại, cho tôi sưởi ấm người thiếu phụ, đã yêu tôi đành trống lạnh suốt xuân thì, bất hạnh chuyện hôn nhân. Từ trong hơi thở dập dồn, tôi nghe nàng gấp gáp: “Hãy buông em ra…ngượng chết được”. Đến lúc đó tôi mới cúi xuống, thơm lên vầng trán đứa trẻ. Chợt nghe Thủy Đường bảo: “Chào ba Lưu đi con!”. Thằng bé ngoan ngoãn vòng tay lại: “Con chào ba Lưu ạ!”. Tôi cười ha hả: “Tổ cha mày! Sao lại giống ba quá vậy không biết nữa.Chắc khi mang bầu, em mãi nghĩ đến anh chứ gì”. Thủy Đường giờ đã tươi tỉnh, nàng vén nụ cười đầu ngày rạng rỡ, như một thiếu nữ đang yêu: “Còn phải hỏi nữa, cũng vì chuyện này, mà bố nó không chịu nổi, phải chia tay với kẻ đồng sàng dị mộng. Mà này! Anh định đi đâu thì phải?” .Chết mất! Ồ vẫn chưa trễ, vừa dẫn hai mẹ con qua lộ, tôi vừa nói với Thủy Đường: “Nếu em không nhắc thì anh quên khuấy, chuyện đi dự sinh nhựt thằng cháu nội, của ông bạn già bên quận ba. Em này! Nếu chị đồng ý, em có dám, cùng đi dự sinh nhựt với anh không!” . Thằng bé tỏ vẻ thích thú, còn Thủy Đường, trong mắt dường có hai giọt nắng lung linh:“Mười mấy năm về trước, khi mới mười chín tuổi, em còn không sợ nữa là…”

Quá bất ngờ, nên khi nghe giới thiệu mẹ con Thủy Đường, vợ tôi chẳng kịp phản ứng gì, chỉ biết mời vào nhà, và bảo hãy tranh thủ tắm rửa, nghỉ ngơi cho mát. Sẵn đà thừa dịp, tôi dọ ý luôn: Em này! Hôm nay em không đi dự sinh nhựt cùng anh, hay là tiện thể, cho mẹ con Thủy Đường đi với anh luôn, rồi chiều về hãy tính, chuyện ăn ở của mẹ con cô ấy, chắc phải nhờ em giúp . Vợ tôi với vẻ mặt, không buồn cũng chẳng vui: Được rồi…em sẽ tính. Mà này! Trong bàn tiệc, lỡ người ta hỏi về mẹ con cô ấy…”Tôi vội ngắt lời: “Em khỏi phải lo! Anh tự biết phải trả lời thế nào, cho dù thằng cu nó quá giống anh”.

Vừa hoẹo vào đường Bàn Cờ, chỉ còn non nửa cây số là đến nơi, trời bỗng mưa như trút nước.Trễ quá rồi, tôi vẫn phóng trong mưa, mặc cho ba người ướt như chuột lột, quần áo bám hết vào da, khó chịu vô cùng. Gửi xe xong, bước vào nhà hàng, thì trời cũng tạnh mưa luôn. Khỉ thật! Đúng là mưa Sài Gòn, làm thằng cu đất Bắc nhìn ngơ ngác: “Thế là qua mưa rồi sao ba? Ngộ nhỉ! Hihi! Con mà biết mưa như thế này, thì đã bảo ba trú mưa rồi. Mẹ dễ bị ốm lắm, khi trước bố lai mẹ đi bị ướt mưa, về ngã bệnh luôn. Thật đấy!”. Tôi xoa đầu nó: “Đã có ba ở đây rồi, mẹ không bệnh được đâu, con đừng lo nhé! Mà sao bố con bỏ đi, không ở cùng với mẹ con nữa vậy?”. Nó vẫy tay bảo tôi cúi xuống: “ Bố con say riệu về, hét lớn rằng mẹ không yêu bố, mà chỉ yêu ba Lưu . Bố ký vào lá đơn ly dị, đã viết từ hồi nào, ném xuống bàn, rồi bỏ đi luôn thấy khiếp. Bố còn bảo, mày không phải là con của bố, đồ con hoang, hãy vào Nam mà tìm đến cha mày”. Nghe đến đó, tôi thấy sao mà quá đỗi thương tâm, cho mẹ con thằng nhỏ. Phải chi ngày xưa tôi mạnh mẽ như nàng. Dám phá vỡ khuôn phép, lễ giáo gia phong, theo quan niệm của ba tôi, cưới nàng làm vợ thứ, thì đâu ra cớ sự thế này.Trên đường về, trước khi vào nhà, tôi dang tay ôm thằng bé vào lòng: “Nếu bố con không nhận, thì ba Lưu xin làm bố con vậy.” Nó vỗ tay cười lớn, miệng hoan hô hoan hô…Thủy Đường vội bịt mồm nó lại: “Im nào! Dì nghe được sẽ mắng cho đấy”.

Bước vào nhà, chợt thấy không khí hơi ngột ngạt, sau một phút im lặng, vợ tôi bảo rằng, nhà thì còn chỗ cho năm bảy người tá túc, nhưng với mẹ con cô ấy thì không thể, nên đã hỏi thuê, một căn phòng nho nhỏ gần đây, mong Thủy Đường thông cảm cho. Thủy Đường từ tốn cất lời: “Em xin cám ơn chị! Chuyến này vào Nam, ngoài chuyện đến thăm gia đình anh chị cho biết, em còn dự định, muốn lập nghiệp ở đây luôn ạ! Nếu…”. Vợ tôi vội cắt ngang: “ Lập nghiệp à! Thì ra…việc này tui không thể giúp được, cô hãy tự lo liệu lấy”. Tôi nhẹ nhàng: “ Kìa em! Thủy Đường chân ướt chân ráo đến đây, làm sao mà tự lo lấy được. Thôi bỏ đi! Chuyện ấy để rồi anh sẽ tinh. Giờ anh đi nghỉ đây! Uống đôi ly vào buồn ngủ quá.À quên, em thuê phòng cho Thủy Đường ở đâu vậy? Anh đưa mẹ con cô ấy về phòng nghỉ ngơi, rồi về ngủ cũng được”. Vợ tôi đứng dậy: “Chìa khóa đây! Ở dãy nhà trọ con Tú. Anh liệu làm sao, thấy phải thì làm.Thuận ý vợ, tôi đưa đến rồi về ngay tích tắc. Đêm ấy, vợ tôi xách gối sang ngủ với con gái, làm tôi trằn trọc mãi, bèn dậy uống café…

Dù không nhận được sự ủng hộ của bà xã, sau đó tôi vẫn tìm thuê được cho nàng, một mặt bằng thoáng đãng, để mở shop quần áo,và ăn ở phía sau. Mấy ngày liên tiếp, tôi điện thoại và đi nhờ vã trực tiếp, những anh em trong nghề, để tìm được đầu vào ưng ý. Còn đầu ra, tùy thuộc vào năng lực, và thời vận của Thủy Đường. Hôm khai trương, vợ tôi cũng đến dự, và không hiểu sao, đêm ấy về tôi nằm, trằn trọc mãi không yên. Dường hiểu được tâm trạng của chồng, vợ tôi lên tiếng: “ Thủy Đường vào Nam, hơn một tháng rồi thì phải. Họ hàng thân thích chẳng có ai, thân gái dặm trường, nghĩ cũng tội cho cô ấy. Giờ ở đây anh chỉ ngủ thôi, mà ngủ không được, chi bằng hãy sang với mẹ con cô ấy, đêm đầu tiên về chỗ mới. Sáng ra liệu mà về, kẻo người ta dị nghị, em chẳng trách đâu. Cùng đàn bà con gái với nhau, em hiểu cô ấy, thiệt thòi khổ sở thế nào, sau ngần ấy năm yêu anh. Hãy dậy mà đi đi! Kẻo em đổi ý”. Tôi bật dậy hôn lên má vợ: “ Anh có lỗi với em”. Cô ấy hất nhẹ, và bảo hãy đi mau.

Lần đầu tiên sau gần mười một năm, kể từ đêm đông cụ Trần cho phép, hai đứa ngủ bên nhau ngoài phòng khách, giờ đây tôi mới được ôm Thủy Đường, nằm ấm áp trong vòng tay, dẫu không còn mạnh mẽ, săn chắc như ngày nào. Qua xiêm y, tôi vẫn cảm giác được, nàng đang nóng rực lên, như cái thời con gái ngây thơ vụng dại, và khi tôi nói, anh còn gì cho em, nàng rơm rớm nước mắt, nhoẻn miệng cười mếu máo: “ Còn nhiều lắm! Vẫn còn đó một chàng Lưu của em, phông độ đẹp trai bây giờ đẹp lão, với vòng tay ấm áp, đôi mắt Hàn nheo nheo, chan chứa tình người. Vẫn còn đó, mãi dành cho em, cả một khối tình nguyên khôi, chẳng lấm bụi thời gian, không phai mờ theo năm tháng. Bao lâu rồi, vẫn mới toanh nguyên vẹn, vẫn phơi phới xuân miên, trong thân xác dẫu hao gầy. Vẫn còn đó, đức vua của lòng em, với tâm hồn trong suốt như pha lê, không tì vết, trẻ mãi không già, trong sông núi Thủy Nguyên, trong tận đáy tâm hồn người con gái, đã trót một lần yêu, là yêu đến trọn đời. Vẫn còn đó, một tấm thân dù lão hóa, vẫn rất ư là chàng Lưu lãng tử, mà có khi, như thế mới là của em, dù không trọn vẹn,vì trời sanh em ra, không được may mắn như người.Tại sao anh không mở lòng, đón nhận em sớm hơn, khi em ngày đêm mong mỏi, đầy ước mơ mộng mị, ở cái thời mới lớn, mỗi giây phút được sống bên anh, đều ngất ngây hạnh phúc tuyệt vời, dù lắm lúc đơn phương. Em không trách anh, nhưng tiếc cho đời con gái, không được dâng trọn, cả thể xác lẫn tâm hồn, cho người mình yêu thương, mà vẫn phải, chuốc lấy khổ đau bất hạnh. Anh giữ cho em thanh tân, trọn vẹn để lấy chồng, và mong em hạnh phúc ư! Anh có thể giữ cho em phần xác, còn phần hồn, có giữ nổi không anh. Ngày em xách nón theo chồng, cũng là ngày em chợt hiểu ra, rằng mình không thể sống thiếu anh, cho dù kiếp này anh chẳng thuộc về em. Và chuyện trao thân gửi phận cho người ta, để được cái gọi là yên bề gia thất, là một điều quá ư rồ dại, hậu quả là sau bao năm, chẳng hạnh phúc lấy một ngày. Dù có với nhau một mặt con, vẫn không trói nổi đời nhau vào bổn phận, trong địa hạt hôn nhân hạnh phúc gia đình, khi em không thuộc về anh ấy. Thôi ! Hãy để cho quá khứ đau thương, đi vào lãng quên anh nhé! Bao nhiêu năm bị hành hạ dày vò, đã cướp mất của em, nhiều thứ lắm rồi, giờ em cảm thấy mình, đang được bù đắp phải không anh!”. Tôi ừ một tiếng, và nhắm mắt xót xa, cho số phận của một người con gái, duyên dáng mảnh mai yếu đuối, đã vì tôi, mà nửa đời khốn khổ lao đao…

Mấy ngày sau, tôi tìm xin vào trường gần, cho thằng bé chuẩn bị vào niên học mới, khi thời gian nghỉ hè, đã sắp cạn rồi. Thì ra tên cu cậu, không phải là Thủy Nguyên, như trên face, mà là Trần Lưu. Tại sao lại lấy họ mẹ, và tên giống như tôi.Thôi đó là chuyện của bố mẹ nó, chỉ một cái tên mà đã vậy, thảo nào chẳng lục đục quanh năm.

Đời cứ thế trôi đi, sau vài năm thuận buồm xuôi gió, trông Thủy Đường có da có thịt, và trẻ ra nhiều, vẻ tràn đầy sức sống, bên con bên tôi, dù mỗi tháng một đôi lần. Bởi tôi luôn biết tôn trọng vợ, không được đằng chân lân đằng đầu, chẳng làm gì thái quá, nên vợ tôi vui vẻ, thỉnh thoảng làm bữa cơm thân mật cuối tuần, mời mẹ con Thủy Đường sang dùng bữa, hoặc cùng nhau đi nhà hàng, quán lẩu đầy thân thiện, trong ấm ngoài êm, hạnh phúc vui vầy.

Chiều hôm ấy, tôi sang thăm như thường lệ, chẳng thấy Trần Lưu chạy ra đón chào hớn hở, mà là anh Cả, với vẻ mặt trang nghiêm, khắc khổ lạnh lùng. Thì ra anh vào Nam mấy hôm rồi, có vấn đề muốn nói chuyện với tôi . Để được riêng tư thoải mái, tôi mời anh ấy sang khu vực cầu Ánh Sao, vừa giải khát hóng mát vừa nói chuyện. Sau đôi câu hỏi han, anh Cả vào thẳng vấn đề rằng, trước khi nhắm mắt xuôi tay, cụ Trần đã tâm sự riêng với anh Cả, rồi giao cho anh chúc thư, cùng lá thư riêng phong kín, bảo gửi cho tôi, bởi cụ biết thế nào tôi cũng về, đưa tang cho cụ. Nhưng anh Cả đã không thực hiện, khi lén xé đọc nội dung bên trong, biết rõ số tài khoản, và số tiền trong sổ, cụ Trần trí lại cho tôi làm vốn luyến, vì coi tôi, như một thành viên trong gia đình, và biết tôi thiếu thốn, là trên sáu trăm triệu. Với tôi vào buổi ấy, là cả một gia tài, bây giờ cũng không nhỏ lắm, nhưng tôi dứt khoát không nhận, dù sau bao năm, anh Cả sống trong cắn rức lương tâm, giờ mới thực hiện được, di nguyện của người quá cố. Cuối cùng tôi cám ơn anh, và mong anh hãy sang tên cho Thủy Đường. Để cô ấy giữ cho Trần Lưu, có chút vốn trong tay, khi bước vào đời.

Khi đã cạn ly bia cuối cùng, anh ngập ngừng phân tỏ: “ Còn chuyện này tôi chưa nói với chú. Tôi vẫn biết, mấy năm qua chú và Thủy Đường, đang hạnh phúc bên nhau. Hay đúng hơn là, chú đang bù đắp những gì có thể, cho con gái tôi sau bao năm ,vẫn một lòng yêu chú, dù đã phải có chồng con, cho mẹ nó an lòng. Khổ nỗi giờ đây, bà nhà tôi ốm đau liên tục, muốn có Thủy Đường bên cạnh, là niềm an ủi sớm hôm. Còn một điều nữa, là lời trăn trối, của bố tôi trước lúc ra đi, là người muốn, anh em tôi bằng mọi giá, phải cố giữ, mảnh đất cuối cùng của tổ tiên, bên dòng sông huyền thoại Bạch Đằng giang. Thú thật với chú, những năm trước, đang thời ăn nên làm ra trên Hà Nội, tôi chẳng quan tâm gì, đến lời trăn trối của bố, chẳng giữ chi nhà cửa vườn tược, ở cái xó xỉnh Tràng Kênh, nên không ngăn cản khi thằng Út bán, đi lên Hải Phòng lập nghiệp. Phải chi hồi đó, tôi trích ra số tiền tương ứng, cho nó làm ăn, thì đã giữ được ngôi nhà. Để bây giờ, vừa rồi tôi đành cắn răng mua lại vườn nhà cũ, với giá gấp năm lần, khi thằng Út bán cho họ cơ đấy. Một nghìn mét vuông đất, với ngôi nhà năm hai mươi, một tấm suốt, ở thị trấn nhỏ heo hút, mà tương đương với giá trị một căn nhà phố, tọa lạc ở trung tâm Hà Nội, bốn hai mươi, ba tấm đúc, chú có hải không. Thế mà tôi cũng bóp bụng mới mua xong. Khi nãy tôi nói chưa hết, trước khi nhắm mắt, bố tôi đã tiên đoán được rằng, Thủy Đường sẽ bất hạnh, trục trặc chuyện hôn nhân, khi nó trở về, hãy để nó tá túc cùng chú nó, ở Minh Đức Tràng Kênh, để tiện cho chú vào ra thăm nó, ở cái nơi hai đứa đầy kỷ niệm”…



ĐOẠN KẾT


Thủy Nguyên Nghìn Thu Thương Nhớ


Mồng hai tháng chạp, năm hai nghìn không trăm mười bốn, tôi cùng mẹ con Thủy Đường, về Tràng Kênh dự kỵ cơm của Nội. Trước bàn thờ khói hương nghi ngút, nhìn di ảnh của Người, tôi nói thầm trong bụng, mặc cho đôi giọt lệ lăn dài trên má: “ Nội ơi! Con đã về thăm Nội đây. Nếu Nội linh thiêng thì đã thấy, mấy năm qua con và Thủy Đường, sống bên nhau thật là hạnh phúc phải không Nội.Tại sao Nội tiên đoán được, Thủy Đường sẽ trắc trở hôn nhân, mà không tiên đoán được, rằng một ngày nào đó, Thủy Đường sẽ tìm đến với con, như hiện tại hở Nội. Nội thương con mà bây giờ, vô tình Nội làm khó con mất rồi. Nếu con giữ Thủy Đường lại với con ở trong Nam, thì cô ấy không tròn đạo hiếu, mà để cho Thủy Đường, trở lại mái nhà xưa, nơi Tràng Kênh Minh Đức này, thì con không còn cơ hội, để bù đắp cho cô ấy. Sao vậy Nội! Con rất cám ơn Nội, đã ưu ái dành cho con cả một gia tài, trong cái thời con khốn khó. Nhưng không thể vì chuyện ấy, mà con bỏ tiền ra đánh đổi với vợ con, để về sống cùng Thủy Đường, trên mảnh đất của tổ tiên, ở Tràng Kênh Minh Đức, đẹp như mơ này, ví như thời còn phiêu bạt, dù đà gác kiếm, bỏ yên cương. Chuyện tình của Nội đã lỡ, nỡ lòng nào bắt tụi con phải chia xa, khi đang hạnh phúc tràn trề sao Nội. Thủy Đường đang trẻ lại, và ngây ngất say sưa, trong niềm vui mái ấm dù tạm bợ, làm sao con có thể nhẫn tâm, theo di nguyện của Người , dẹp tiệm quần áo trong Nam, cho nàng về đây ở. Anh Cả đang thúc ép con làm điều đó, bảo là theo di nguyện của Người, có phải thế không Nội. Nếu Thủy Đường có mệnh hệ gì, con chết mất Nội ơi!Dù được ở bên nhau, suốt phần đời còn lại, con cũng không thể cho nàng trọn vẹn, dẫu đời con gần xế bóng chiều tà.

Trước khi hai đứa trở lại Sài Gòn, anh Cả hỏi tôi: “ Chú suy nghĩ kỷ chưa! Hãy gấp rút thay tôi, tiến hành sang lại shop quần áo đi, buộc nó phải về đây thôi. Nói cho chú biết nhé! Cái nhà này tôi mua lại, và cho nó đứng tên là người thừa kế. Khi mẹ con nó về đây ở, để ngày ngày chăm lo cho mẹ nó, tôi có đủ tiền cho nó sống vô tư, chẳng phải làm gì đến suốt đời. Nhìn thấy chị Cả, mới sau tám năm không gặp, mà đã xuống sức trầm trọng thế này, tôi có phần ái ngại nhưng phải nói: “ Liệu việc bỏ tiền ra của anh, có mua được hạnh phúc, cho con gái mình hay không, mới là điều đáng nói. Tuy ở bên tôi, Thủy Đường không đòi danh phận , nhưng tôi luôn cảm thấy mình, phải có một phần trách nhiệm, với cuộc đời cô ấy. Anh Cả vỗ vai tôi một cái: “ Chú nói đúng! Và tôi cũng chỉ, muốn tốt cho con mình thôi chú ạ. Làm để cho con chứ cho ai, tôi nghĩ rồi nó sẽ rất hài lòng. Khi thực hiện bị nó phản đối, chú hãy nói rằng, chú chỉ là người thừa hành, cái quyết định của tôi.

Trời không thương cho một đóa hồng nhan. Vừa vào thu 2015, sau khi nhận được tin chị Cả bị tai biến, Thủy Đường gọi điện, không kịp đợi tôi đến, đã vội vã bay ra Hà Nội chăm sóc mẹ. Hơn một tháng sau nàng gọi điện, nói trong nước mắt rằng, tôi hãy trông coi, hoặc sang lại cho ai tùy ý, nàng không vào Nam nữa. Và hãy coi đó là món quà, nàng dành tặng cho tôi, vì mẹ nàng bị bán thân bất tọa, ngoài nàng ra không còn ai, chăm sóc an ủi được lòng bà.

Tôi đứng chết trân, giữa trời trưa Sài Gòn nắng đổ, mà nghe thân thể này, như muốn tan chảy, biến hình trong cõi tạm phù vân. Chẳng cần anh Cả gây áp lực với tôi, phải chăng đây là do bàn tay định mệnh, là số phận của nàng, có tránh cũng không qua. Tảo tác hơn mươi hôm, may mắn tìm được người sang tiệm. Ngày 04-09-2015, suốt từ sáng đến chiều, Sài Gòn mưa tầm tã, vừa nhận đủ tiền sang shop, cũng là lúc tôi nhận được tin, chị Cả qua đời. Tôi tức tốc bay ra, lo một công hai việc, xong tang lễ không về liền, còn ở lại đôi hôm.

Bên bờ Bạch Đằng giang huyền thoại, nơi Minh Đức Tràng Kênh, của Thủy Nguyên nghìn thu thương nhớ, Thủy Đường đau khổ đến cực cùng, khi vừa mất mẹ vừa phải sống xa tôi. Chỉ mấy tháng trôi qua, nàng đã hao gầy héo hắt trở lại, như ngày đầu tiên tôi gặp ở Sài Gòn. Sáng sớm mai, bên bình trà đậm đặc, anh Cả ngồi trầm ngâm chậm rãi: “ Có lẽ đây là do ý trời chú à!. Về phần tôi, tôi chẳng biết mình đã đúng hay sai, khi thấy con gái thế này…xót quá.Khổ thân tôi, phải chi bà ấy khỏe mạnh, thì tôi đâu tính toán hẹp hòi ích kỷ. Giờ chú thế nào! Hãy tha thứ cho tôi”.

Đặt tách trà đã uống cạn xuống bàn, tôi thả một tràng cười quằn quại, tan nát như gương vỡ: “ Tôi giờ nhẹ hều, như một chiếc ly không”. Xong đứng dậy định thu dọn hành lý, bỗng thấy đất trời tối sầm, quay cuồng nghiêng ngửa,tôi hốt hoảng gọi vang: “ Thủy Đường ơi! Anh chẳng thấy gì cả…”rồi ngã ra bất tỉnh…

Khi làm thủ tục mổ mắt, mới hay mình bị tiểu đường, hèn chi trọng lượng cơ thể giảm dần, sau hơn một năm những mười ba ký lô, bồi dưỡng gì cũng vô ích mà thôi. Chiều chiều đứng ở phương Nam, ngùi trông về phương Bắc, nơi miền đất Thủy Nguyên, ngàn năm thương nhớ đẹp như tranh, nơi con sông Rừng huyền thoại, ngày đêm trăn trở, chẳng biết người con gái thương tôi, đang sống thế nào. Có nuối tiếc niềm hạnh phúc mong manh, nơi Sài Thành hoa lệ, có đành lòng lạnh lẽo chốn cô phòng, khi mới nửa chừng xuân. Ôi! Thủy Nguyên ngàn thu thương nhớ, mà trăm năm chẳng dành được cho người.

Tôi giờ như cái bóng, lặng lẽ sớm chiều bên vợ đẹp con ngoan. Chẳng buồn lên Face, chẳng màng thế sự, chẳng rượu trà thuốc lá, chỉ ăn kiêng. Sớm chiều đi bộ thẩn thờ hai dạo, mong kéo dài tuổi thọ, để làm gì không biết nữa ai ơi! Khi những việc muốn làm không làm được, những việc không vui, mà làm đến trọn đời, chết mới hết mà thôi.Cứ ngỡ rằng, người vui nhất sẽ là chị Cả, được Thủy Đường ngày ngày, chăm chút yêu thương. Nào hay, chị vội nói lời chia tay vĩnh viễn, khi mùa thu đang trút lá khô vàng. Ôi!Tất cả đã lỡ làng, tất cả đã dở dang, tất cả sắp trở thành vô nghĩa, khi người đàn bà quá mất mác đau thương, đã đánh mất niềm tin yêu cuộc sống, mặc thân phận nổi chìm, trong cuộc bể dâu, chịu đựng sống âm thầm.

Tháng chạp đến, tôi lại về Tràng Kênh, trước là dự kỵ cơm, sau là thăm lại người tình, lỗi hẹn nghĩa trăm năm. Nhưng lửa lòng nàng đã nguội, chỉ nhớ về nhau là những kỷ niệm buồn, là chồng chất những tháng ngày mòn mỏi, lỡ một thời phơi phới độ thanh xuân. Nàng thấy hạnh phúc trên cõi đời, là cái gì hư hoang phù phiếm, mà nàng không thể nào nắm bắt được, đôi khi ngỡ trong tầm, thì đã tuột khỏi tay. Nếu còn yêu nhau, hãy dành tình cảm cho vợ con trọn vẹn, bởi thượng đế đã không ban, cho tôi thuộc về nàng.

Một chiều bất ngờ, trước khi vào lại trong Nam, nàng bảo tôi cùng đến Hang Vua, một trong những nơi, chứa đầy kỷ niệm. Đứng bên tượng Hùng Vương, với đôi mi rớm lệ, nàng mếu máo: “ Có vua Hùng làm chứng! Con xin trả lại người con yêu, cho vợ con anh ấy. Con đã sai lầm, khi cố tình chiếm đoạt, những thứ không thuộc về mình, và con đã trả giá. Con xin trả lại, dẫu anh ấy không còn nguyên vẹn, dù suốt cuộc đời, con chỉ yêu duy nhất một người, là anh ấy mà thôi. Đoạn bước đến bên tôi, mím vành môi nuốt lệ: “ Mình về thôi anh! Em đã khổ sở bao đêm, mới quyết định chia tay anh, kể từ khi biết bố mình, có con rơi trên Hà Nội. Từ đó thấu được tâm trạng, thái độ của vợ con anh, sẽ ra sao. Hãy tha thứ cho em, đã phụ lòng anh. Đừng buồn em anh nhé! Chính em ngày trước giữa Hang Vua này, đã thề rằng sẽ quyết chiếm cho được anh, kẻ ngự trị trái tim mình, giờ em xin trả lại”. Chợt nhớ lời thằng bé Trần Lưu, hôm qua mách nhỏ rằng, ba Lưu không được bỏ mẹ Thủy Đường, mẹ khóc nhiều đêm nó dỗ dành không được. Thì ra nó đã biết cớ sự rồi.

Ngày xưa cũng chính nơi đây , khi nàng mới mười chín tuổi, đòi tôi hôn thôi mà tôi luôn tránh né, nhẹ nhàng cự tuyệt. Còn giờ đây! Cũng chính nơi Hang Vua, bên tượng Hùng Vương cổ kính, tôi dữ dằng như con gấu đói, ôm ghì lấy nàng, hôn đắm đuối chẳng buông lơi, khi nàng đã nói lời chia tay đầy nước mắt.

Thật tội nghiệp! Nàng quá mỏng mảnh yếu đuối, chẳng thoát nổi vòng tay vẫn còn sức, riết chặt như gọng kìm, đành hổn hển van lơn: “ Ứ! Lưu của em ơi! Đừng hôn em nữa mà. Đừng!...mình về đi anh! Về thôi… anh ơi! Đừng anh!…Em… chết mất!…”


Sài Gòn 26-02-2016



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 12.5.2018.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004