Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới







Đôi Mắt Thủy Nguyên








PHẦN III: HÀNH KHÚC MIỀN TRUNG


Chương 1: Danh thắng Trung Kỳ


Trời đã sang thu! Nhưng núi rừng Tràng Kênh, vẫn một màu xanh bát ngát, mới đó mà tôi đã ở nhà cụ Trần, hơn một tháng trôi qua, với những buồn vui lẫn lộn. Một hôm! Sau bữa cơm tối, cụ Trần có nhã ý, đi ngoạn cảnh Phong Nha Kẽ Bàng một chuyến. Tôi lễ phép nhận lời dẫn cụ, đi thăm thú danh thắng miền Trung. Hôm sau tôi khăn gói lên đường, đưa cụ tiếp bước cuộc hành trình hai, vãn cảnh Phong Nha Kẽ Bàng, theo tôi, về hang động đẹp hơn vùng Lan Hạ. Thế mà sao đến với Phong Nha lần này, tôi chẳng chút ham hố, ít giới thiệu giải thích, cho cụ Trần cùng Thủy Đường, như chuyến Cát Bà Lan Hạ. Đêm về khách sạn ở Đồng Hới, trước khi đi ngủ, Thủy Đường nói nhỏ với tôi: “Hôm nay trông anh lạ lắm! Nội rất nhạy cảm, chớ để Nội buồn”. Tôi cộc lốc: “Anh hiểu!”. Rồi vào nằm trằn trọc mãi, đến quá nửa khuya…

Sáng hôm sau, tôi đón xe đưa cụ vào thăm phố cổ Hội An, lòng bỗng thấy nhớ nhà kinh khủng. Nắm tay cụ đi trên đường phố cổ, tôi bảo rằng hôm qua mình bị nhức đầu, mong cụ thông cảm, rồi vui vẻ kể chuyện này chuyện nọ, gắn liền cùng những bước chân qua, với những gì mình được biết về khu phố cổ này. Tối đến, ngồi nhâm nhi cùng cụ, hát hò ngâm thơ vui vẻ như ngày nào. Cụ Trần cũng làm thơ, nhưng toàn thơ chữ Hán, ngâm giọng sa mạc nghe cũng thấm thía vô cùng, nhưng hiểu chẳng bao nhiêu nên cảm nhận không nhiều.

Sáng ra, tôi đưa cụ ngược ra Huế, thăm lăng tẩm chùa chiềng, của đất cố đô. Bước lên thuyền rồng, thả trôi trên dòng Hương Giang thơ mộng, thưởng thức những câu hò, điệu hát da diết bi ai, não nùng mà say đắm lâng lâng, thấm tận đáy tâm hồn.

Cũng chỉ ở lại với Huế một đêm thôi, sáng ra tiếp tục cuộc hành trình, dừng chân bên núi Hồng, thăm quê hương cụ Tố Như.

Bên bờ Nam sông Long Vĩ, tôi hỏi thăm đường về Tiên Điền, quê hương của Đại thi hào Thanh Hiên Nguyễn Tiên Sinh (1765 – 1820).

Đến nơi, dân làng chỉ dẫn chúng tôi, đến khu lưu niệm cụ Nguyễn Du, nằm trong khu di tích, dòng họ Nguyễn Tiên Điền. Nhà thờ của cụ, được xây dựng năm 1825, trên mảnh vườn xưa cụ ở lúc sinh thời, thuộc xóm Tiền Giáp. Phía trên bàn thờ, có bức hoành phi, đề “Hồng Sơn Thế Phả”, do Trung Hiếu Đại Phu đời Thanh, tặng năm 1790, tức năm thứ 55 triều Càn Long, cùng bài vị bằng đá, có khắc dòng chữ: “Thanh Hiên Nguyễn Tiên Sinh”. Nghe nói mộ chính ở Đồng Cùng, xưa kia chỉ là ngôi mộ đất, cụ Đặng Thai Mai đã đến dựng bia, đề: “Tiên Điền Nguyễn Tiên Sinh phần mộ”.

Cụ Trần đi tới đi lui ngắm nghía: “Theo ta được biết, cụ mất vào mùa thu 1820 ở Huế. Đến mùa hè 1824, con cụ là Nguyễn Ngũ, vào Huế dời hài cốt của cha, về an táng trên đất nơi vườn cũ của ông. Mãi đến năm 1928, mộ của ông mới được cải táng về đây. Đó chắc cũng là nguyện vọng, được về nơi xứ sở của ông. Sinh tiền ông có mấy bài thơ, nói về quê hương gia đình, nơi ông luôn hướng về. Dù sinh ra ở Thăng Long, nhưng tình cảm, luôn dành cho quê hương Lam Giang Hồng Lĩnh đói nghèo

Mười con kêu đói non Hồng
Một thân ngọa bệnh phía đông Đế thành”

Hay là:

Quê hạn nắng mùa trắng tay.
Mười con đói khát mặt mày xanh rau”

Thực ra ông có 3 vợ 18 con, trong đó 16 người là con của bà ba, gồm 10 trai 6 gái.

Trên đường đi sang đình Chợ Trổ, cụ Trần vừa hút thuốc, vừa ngoãnh nhìn tôi tâm sự: “Tướng con lãng mạn đa tình, nhưng thủy chung một vợ. Dù cháu ta nó tâm sự, kể hết điều dại dột của nó rồi. Nhưng ta không thể, làm một việc trái đạo lý, đối với người quân tử, là bắt con, phải có bổn phận với Thủy Đường. Dù nó hết mực yêu thương con, và sẽ là một thê thiếp tốt, dẫu con lớn hơn nó, đến vài chục tuổi”. Lần đầu tiên tôi nghe, cụ gọi tên Thủy Đường, và mấy hôm rày, cụ gọi tôi bằng con, nghe thật là ấm dạ.

Bước đến đình Chợ Trổ, nhìn kiến trúc tinh xảo, trên các kèo gỗ, cụ Trần lại nói: “Đây nguyên là cái đình Chợ Trổ, xã Đức Nhân huyện Đức Thọ, được xây dựng từ cuối thế kỷ 18. Năm 1965, nhân kỉ niệm 200 năm, ngày sinh của cụ Nguyễn Du, được chuyển về đây, làm nơi trưng bày hình ảnh hiện vật, gắn liền với cuộc đời, và sự nghiệp của cụ, cùng dòng họ Nguyễn Tiên Điền”. Sau đó cụ chăm chú ngắm nghía đủ thứ, gần cả tiếng đồng hồ.Thủy Đường thì khác, hình như nàng chẳng để tâm, đi dạo quanh quẩn, rồi ra ngồi ngắm cảnh trước đình, làn da không còn trắng bạch như xưa nữa, mà rạng rỡ trắng hồng, trong tà áo tím thơ trinh.

Đến nhà Tư Văn, do cụ Nguyễn Nghiễm, tức cha Nguyễn Du, dựng tại khu vườn của ông tổ họ Nguyễn, để lại năm 1785. Đến thời vua Tự Đức, được trùng tu vào các năm, thứ 3 (1850) và Tự Đức thứ 13 (1860). Cụ Trần lại nói: “Nghe nói xưa kia, đây là nơi bình thơ văn, của các nhà khoa bảng ở xứ này”. Ấn tượng nhất với tôi là khánh đá, được treo trước nhà Tư Văn rất to, cũng rêu phong cổ kính, như đình chợ Trổ vậy.

Tiếp đến chúng tôi đi thăm Đàn Tế, và bia đá Nguyễn Quỳnh (tức ông nội cụ Nguyễn Du) do Xuân Quận Công Nguyễn Nghiễm, cùng em trai là Nguyễn Trọng, đồng phụng dựng để báo hiếu mẹ cha. Xong, theo hướng dẫn, chúng tôi cùng đến thôn Minh Quang, thăm đền thờ và mộ, cụ Tham Tụng Nguyễn Nghiễm cho biết, rồi ra tìm đường, lên chinh phục đỉnh Hồng Lĩnh (một trong cửu đỉnh của Anh Đỉnh). Hiện Hồng Lĩnh đang được đề cử, là một trong tốp năm ngọn núi cao, hấp dẫn khách ở nước ta.

Khá lâu sau, chúng tôi mới lò mò lên tới đỉnh, cao gần 700m (676m), nhìn xuống đồng lúa xanh mơn mởn, cùng dòng Lam Giang thơ mộng, dưới bóng chiều nghiêng, trông mát mắt vô cùng. Nghe nói dãy Hồng Lĩnh này, có 99 đỉnh lớn nhỏ, tôi cùng Thủy Đường thi nhau đếm.Đếm hoài đếm mãi, cãi cọ đúng sai suốt, cũng chẳng tìm ra đáp số. Hồi trưa chỉ ăn có tô phở, mà đi bộ nhiều, tôi đói quá, may mà cụ Trần bảo thôi, khỏi thăm những hang động nơi đây, rồi cùng xuống núi ra về, không thì chắc trẩm lơ.


Chương 2: Cầu Bến Thủy Đêm Mưa


Không hiểu vì sao! Chẳng thích qua đêm ở thị xã Hồng Lĩnh, tôi đón xe đưa ông cháu cụ Trần, ra phường Bến Thủy, phía Bắc sông Lam, dùng bữa cơm chiều. Tìm được nhà nghỉ, tôi vào phòng xuống tắm ngay, bởi mùa thu, mà hôm nay nắng nóng kinh người, thật khó chịu. Thủy Đường cũng tắm rửa sạch sẽ, bước ra trong chiếc áo ngủ màu hồng nhạt mỏng tơn, trông vô cùng hấp dẫn.

Khi nàng bước đến, tôi cười hỏi: “Không thích dạo phố đêm hay sao, mà mặc áo ngủ vậy Trần tiểu thư?”. Thủy Đường mở to đôi mắt: “Là thành phố Vinh hả anh! Em thích dạo cho biết lắm”. Tôi bảo: “Không! Chỉ đi dạo trên quốc lộ, rồi ra cầu Bến Thủy ngắm cảnh về đêm thôi, chứ anh ghét khu trung tâm Vinh lắm.Người như anh mà mấy năm trước, bị móc túi ở đó mới kinh chứ.Thật đáng gờm”. Đoạn tôi bước đến hỏi cụ Trần: “Dạ thưa! Tối nay cụ có đi dạo, cùng chúng con cho vui không ạ? Con định sáng mai về lại Hải Phòng, chứ chẳng ghé đâu nữa cả”. Cụ trìu mến nói: “Thôi! Các con đi dạo vui vẻ đi! Ta ở đây nhâm nhi bình rượu Huế, viết đôi câu cũng ý vị lắm rồi. Lưu này! Đừng có đi chơi xa lắm nhé! Ta nghe nói thành Vinh rất là phức tạp”. Tôi dạ một tiếng rồi xin phép cụ, đưa Thủy Đường ra quốc lộ. Phường Bến Thủy về đêm, cũng khá đầy đủ những nơi, để người dân vui chơi thư giãn, sau một ngày làm việc mệt mỏi. Ghé vào quán nước bên đường, mua nước xong, hai đứa cùng thư thả, đến bên cầu ngắm cảnh.

Dưới vầng trăng sáng tỏ, hòa cùng những bóng đèn điện, sáng lung linh đây đó, Thủy Đường trong chiếc váy trắng kín đáo, mái tóc dài buông thả, trông nàng mảnh mai thanh lịch, và duyên dáng làm sao. Tôi đứng lặng yên, nhìn trời nước mênh mang ảo mờ xa xa, trên dòng Long Vĩ lặng lờ trong sương khói, mà cảm nhận, có nỗi buồn, đang âm thầm len lỏi chốn thâm tâm. Nhìn sang bên kia! Dãy Hồng Lĩnh già nua, ngồi u uẩn thâm trầm, trong rêu mờ cổ kính, hoang liêu đầy bí ẩn.Nhìn những đụn mây lắm hình thù quái lạ, tôi thấy hình như có bóng ông Đùng thất thểu, bỏ núi ra đi vì chưa xếp đủ trăm hòn, mà đã nghe tiếng gà gọi sáng, của bà Đùng tinh nghịch, đùa chết người trong buổi ấy xa xưa. Còn tôi! Nào có điều kiện chi, mà chắc cũng phải ra đi, như mây trời vô định, như tông tích của ông Đùng, giờ ai biết dạt nơi đâu.

Thấy tôi trầm tư, Thủy Đường lay lay hỏi: “Này anh! Đang nghĩ gì vậy? Hôm ở Hội An, gần quá sao anh không đưa, Nội và em về thăm gia đình, để em được biết, đất trời quê hương, của kẻ phong trần lãng tử nó ra sao”. Nghĩ một lúc tôi nói: “Em thử đặt mình vào trường hợp của anh, để thấy có đưa được hay không thì em rõ. Dù vợ anh rất hiền từ, thương chồng con hết mực, nhưng không vì thế, mà anh muốn làm gì cũng được đâu. Đời anh chỉ được một cái, đựng đầy đảy phiêu linh, là hình bóng nước non nhà, theo những vết chân đi. Người ta bảo anh không màng danh lợi, thực ra hoàn toàn không phải thế, anh chỉ không vì cái hư danh ảo vọng, mà đánh mất chính mình.Người ta bảo anh mạnh mẽ gan lì bản lĩnh, thực ra đôi khi anh cũng yếu đuối vô cùng. Người ta bảo anh giản đơn, phớt đời quyết đoán, thực ra cũng lắm lúc đa mang, phức tạp rối rắm, dùng dằng dây dưa mãi chưa xong.

Anh là vậy đó! Và giờ anh rất đỗi hoang mang, phân vân giữa đôi đường đi ở, đối với một phương trời như duyên nợ, mà không phải quê anh”. Thủy Đường ôm lấy eo tôi, ngước nhìn lên ngơ ngác: “Anh nói gì em không hiểu. Có điều, tình cảm em dành cho, anh không chấp nhận, mà em đeo bám mãi, anh có khinh bỉ em không?”. Nhìn vào mắt Thủy Đường, tôi chậm rãi: “Bởi quá trân trọng, nên anh không dám nhận, mong em hãy giữ, để mai kia vun trồng hạnh phúc bên chồng”. Ngả đầu vào ngực tôi, nhìn dòng Lam Giang giờ đang chảy mạnh, nàng nói nghe như một lời độc thoại, như nói cùng sông Lam núi Hồng, chẳng phải nói với riêng tôi: “Tình yêu của em, trào dâng ào ạt như sóng trùng dương, gấp gáp như dòng Lam Giang cuồn cuộn chảy, mà phải ẩn mình, thâm trầm như ngọn núi Hồng kia. Từ nhỏ đã mơ đến một ngày nào đó, gặp được hoàng tử của lòng em.Em sẽ trao thân gửi phận, cho tình quân vô điều kiện, em sẽ không xấu hổ trao nhau, ngây ngất nụ hôn đầu.Ấy thế mà, khi hoàng tử của lòng em xuất hiện, nằm bên nhau biết bao lần, mà chẳng dám đòi hôn.Đôi lúc thấy chàng xa quá xa xôi, mà gần rất ư gần. Em lo sợ một mai, chẳng biết còn chi, cho chồng con em nữa, khi hoàng tử vô tình, mãi ngự trị trái tim em. Đã bao lần, muốn xin được hiến dâng mà không dám nói, đành chỉ là trong mộng với ai kia! Một phút dại dột đơn phương, em nước mắt đầm đìa, mà mơ tưởng đến một ngày, được người mình yêu say đắm, thì cái ngàn vàng kia, cũng chẳng uổng oan chi. Hồi nhỏ yếu đuối và nhút nhác, nên được Nội thương, mãi dìu dắt chở che, ngày hai buổi đến trường. Bao năm rồi, vẫn quấn quít bên Nội hơn là bố mẹ. Nội mong mai kia có được tấm chồng, biết bảo bọc yêu thương, như Nội hằng yêu thương che chở cưng chiều. Dũng cảm biết bao, khi dám tâm sự những điều thầm kín, của đời người con gái cùng với Nội.Sung sướng biết bao, khi một nhà nho như Nội, vẫn biết cảm thông chia sẻ với cháu mình, chuyện tế nhị khó tin.

Rồi mai đây! Hoàng tử của lòng em phiêu lãng, trên những nẻo đường hun hút, biết lấy danh phận gì để xuôi ngược kiếm tìm, chắc đành phải chôn chặt mối tình son. Là người con gái, một khi muốn làm một việc gì, là làm đến kỳ cùng, không bỏ cuộc dù mảnh mai yếu đuối. Một khi yêu, là yêu đến khát khao cháy bỏng, hừng hực lửa thanh xuân, lao vào bể ái, như con thiêu thân không màng hậu quả, say đắm ngất ngây, nặng hiến dâng chẳng đòi hỏi điều gì, trước người mình yêu quý. Chuyện chồng con đành phó mặc cho định số an bài, lắm lúc thương thân khóc mình sưng cả mắt, nhưng chẳng trách ai kia hờ hững vô tình. Thủy Đường như thế đấy ai ơi!”.

Búng tàn thuốc lá xuống chân cầu, cho nước mang đi, mở vòng tay ôm lấy người con gái, từ bấy lâu nay đã thuộc về mình: “Thiệt thòi cho em lắm!”. Nàng rơm rớm nước mắt: “Chỉ sợ anh cho rằng, em quá vô duyên khi vào phòng khách sạn, phòng đôi nào cũng có hai giường, mà em luôn chọn vào nằm giữa, để cái giường còn lại trống lạnh bơ vơ, như rồi đây em phải sống, những tháng ngày bơ vơ trống lạnh. Anh biết không! Nội rầy em dữ lắm về chuyện ấy, nhưng em xin Nội và bảo rằng, anh nào ở mãi với em đâu.Gần nhau được đêm nào, hay đêm ấy vậy, dù không hề có chuyện ái ân”.Giữa khuya bên cầu mát lạnh, tôi xoay người Thủy Đường lại, nâng cằm lên, làm hai dòng nước mắt rơi xuống ngực tôi, thấm vào ấm áp, mà xa xót vô cùng. Nhiều cặp gái trai đi xe máy, chầm chậm ngang qua tò mò soi mói, bởi hai chúng tôi tuổi đời chênh lệch quá, làm tôi chột dạ bảo về thôi. Thủy Đường chững chạc nói: “Em không ngại, can gì anh phải ngại”. Tôi bảo “Về thôi em! Kẻo Nội trông chờ, vì đêm đã vào khuya”.

Chợt trời đất như đồng tình ủng hộ, mây đen vây bủa khắp trời, che kín cả vầng trăng.Tôi vội vã kéo Thủy Đường tháo chạy. Không may tí nào, nàng vấp ngã, một chiếc giày cao gót bị đứt quai. Không kịp nữa rồi! Sấm chớp đầy trời, mưa tuôn xối xả, nàng chạy muốn hụt hơi, đứng lại thở hổn hển, mặt mày tái nhợt hứng đầy mưa. Tôi khom người xuống đặt lên lưng, cõng nàng chạy, như bay về khách sạn. Cụ Trần vẫn chưa ngủ, bảo rằng sao không liệu về cho sớm, để khỏi bị ướt mưa. Đêm hôm ấy! Để cho nàng toại nguyện, hai đứa đã trao nhau, nụ hôn dài như bất tận đến thiên thu. Khoảng gà gáy, cụ Trần phát hiện, Thủy Đường lên cơn nóng lạnh. May mà trên đường vạn lý độc hành, tôi luôn mang theo thuốc để phòng thân.

Thật là một đêm nhớ đời, bên núi Hồng sông Vĩ. Khi thuốc chưa phát huy hiệu lực, nàng như mê man trong miên trường, và mãi gọi tên tôi, làm cụ Trần ái ngại: “Thuốc có tác dụng không, mà lâu hạ sốt vậy con!”. Tôi trấn an: “Cụ đừng sốt ruột, em nó ngủ một giấc, sáng ra là sẽ khỏi thôi”. Cụ sờ trán cháu gái: “Tội con bé! Từ nhỏ đã rất ốm yếu. Lớn thế này rồi, bác sĩ vẫn bảo sức đề kháng của nó kém lắm, may mà lâu nay du sơn ngoạn thủy, nó chưa ốm một lần nào. Thế mà bắt ở với bố mẹ nó trên Hà Nội, gần nhiều bệnh viện lớn, phòng khi khám bệnh và điều trị cho tiện, nó đâu có chịu.Mấy năm đại học, có thời gian nghỉ là chạy về với nội, quấn quýt với Tràng Kênh Minh Đức chẳng chịu rời. Đi học thì ở chung ký túc xá với bè bạn, chứ không thích về ở với bố mẹ, đầy đủ tiện nghi nhưng ràng buộc đủ điều. Bố nó nghiêm lắm”. Chợt Thủy Đường mở mắt ngó quanh: “Anh! Hãy ôm em! Em lạnh lắm!”. Tôi ngước nhìn cụ Trần, cụ gật đầu thuận ý, liền nằm ôm Thủy Đường, quấn chặt nàng trong vòng tay ấm áp, tràn trề sinh lực, và nghe ở đâu đó ngoài kia, ngân lên bản nhạc “Một cõi đi về”, của Trịnh Công Sơn…

Buổi chia tay năm ấy, nàng tặng tôi chiếc điện thoại di động, nhưng bắt tôi phải hứa rằng, chưa về đến nhà, thì chưa được mở ra…



PHẦN IV: TRỞ LẠI THỦY NGUYÊN


Chương 1: Đôi mắt Thủy Nguyên


Khoảng tiết lập đông 2002, đang giúp việc cho một doanh nghiệp tư nhân ở Tân Bình. Vừa mới ăn sáng xong, nghe Thủy Đường gọi điện, báo tin cụ Trần đang lâm trọng bệnh. Tôi liền chạy đến nhà, báo cho vợ chồng chủ doanh nghiệp hay, để kịp thời ra Bắc, và xin được ở nhà cho đến tết luôn.

Vợ chồng chủ tử tế tính lương, chẳng những cho tôi thêm một tháng, mà còn tặng tôi cả vé máy bay, để kịp đến thăm Người.

Bước vào bệnh viện Bạch Mai, không cần đi thang máy, tôi chạy bộ lên mấy tầng vì sốt ruột lo âu. Hình ảnh đầu tiên đập vào mắt tôi, là cụ Trần nằm xẹp lép, trên giường bệnh trải ra giường trắng toát, hai mắt nhắm nghiền, da dẻ xanh xao, đang được Thủy Đường cùng bạn trai, ngồi chăm sóc ở phòng hồi sức cấp cứu. Nhìn thấy tôi phía cửa, mắt nàng sáng lên, chạy ra đón mừng khôn xiết, xách vali để bên chân tủ, ngồi kể huyên thuyên bệnh tình của Nội, một cách quá thân mật, khiến thằng bạn trai đứng lớ ngớ, chào xin phép ra về, và biệt dạng luôn từ buổi ấy.

Vài tiếng đồng hồ sau, cụ Trần mở mắt. Đôi mắt có thần, tia nhìn như xuyên thủng người đối diện, giờ khóc nhìn tôi rớm lệ: “Con đã về thăm Nội đấy ư!”.

Sau bao năm quen biết rồi thân thiết, lần đầu tiên tôi nghe cụ Trần xưng Nội với tôi.Tôi xúc động đứng lên, bảo Thủy Đường lấy khăn, đưa cho mình lau khắp người cho cụ, giọt lệ rơi ngậm ngùi, đau xót cho đôi mắt Thủy Nguyên.Hơn một tuần trôi qua, cụ dần khỏe lại. Một chiều đưa cụ ra hành lang hóng gió, cầm tay tôi cụ bảo: “Nội cứ ngỡ mình không qua khỏi, nhìn thấy con trở về, Nội vui mừng như được uống linh dược tiên đơn. Sao tệ thế con! Bao năm rồi chẳng trở lại, thăm Thủy Đường lấy một lần.Nó buồn lắm, có mấy đám con nhà tử tế đeo đuổi, bất đắc dĩ nó đành quen để mà quen. Hôm nay thứ bảy, lát nữa bố nó vào ở lại, hai đứa hãy ra ngoài tâm sự nhé con! Tội con bé!”.

Hà Nội đêm trở lạnh, trời lất phất mưa bay, hai đứa cùng che một cái ô, đi mãi đến bên cầu Thê Húc.Đứng ngắm cảnh quan phố phường Hà Nội, dưới làn mưa ngày càng nặng hạt, như những kẻ điên.Đang ở Sài Gòn nắng nóng, đến đất thủ đô giữa mưa phường gió phố, tôi rùng mình nghe thấm lạnh buổi đầu đông…người con gái kề vai tôi ấm áp, mà xa đến muôn trùng. Tâm sự hơn một tiếng đồng hồ trôi qua, Thủy Đường ngước nhìn tôi, với nụ cười ảm đạm: “Sao đến giờ này anh vẫn chẳng ôm em. Không lẽ sau bao năm xa cách giờ gặp lại, anh chẳng động lòng trước người con gái, đã vì anh mà chối bỏ biết bao người.Không lẽ lòng nguội lạnh thế sao anh”. Tôi im lặng nhìn sâu vào trong mắt người con gái, và thấy rõ những điều tôi đã thấy từ lâu. Giờ đôi mắt ấy như hờn dỗi van lơn, nhu mì đến tội nghiệp, tình như sóng trào dâng, mà phải cố nén kìm. Thủy Đường lại tiếp: “Không lẽ ôm em thôi, mà khó thế sao anh”. Không thể để người con gái ấy, chịu thiệt thòi thêm nữa, tôi mở vòng tay ra, ôm chặt lấy nàng. Thủy Đường ngất ngây, môi tìm môi trong vòng tay mạnh mẽ. Mưa vẫn rơi đều, mặc cho cái ô rớt xuống, nằm lăn lóc trong mưa. Tôi nhắm mắt…

Hơn một tháng nằm bệnh viện bởi dịch tràn phổi, và viêm phổi nặng do thuốc lá, cụ Trần đã bình phục, tỉnh tươi và mãi đòi về. Mấy hôm sau, anh Cả đến làm thủ tục, và thuê xe bệnh viện, đưa cụ về đến tận nhà, có bác sĩ đi theo. Tôi bế cụ bước lên cầu thang, vào phòng mở cửa sổ ra cho thoáng khí, đặt cụ ngồi trên giường nệm vương màu bụi, mấy tháng nay chẳng có ai giặt giũ lau dọn phòng. Gọi Thủy Đường lên, tôi bế cụ ra phòng khách, cho bác sĩ khám lần cuối trước lúc trở về, và dặn dò ăn uống thuốc men, xong vào phòng cùng vệ sinh sạch sẽ.

Sau đó mấy hôm, người đã khỏe mà đôi chân còn yếu lắm, nhưng cụ Trần thích đi dạo, nên sáng sáng chiều chiều, tôi đẩy cụ ân cần, trên khắp nẻo Tràng Kênh.

Quá bất ngờ! Một chiều cuối đông, bên Bạch Đằng giang huyền thoại, tôi được nghe chuyện tình lãng mạn, đầy nước mắt của một người già, sắp vĩnh biệt trần gian.


Chương 2: Chuyện Tình Của Nội


Ngày ấy nội vừa quá tuổi 30, cụ bà đã sanh hạ bác cả, và sắp sửa có cô em kế. Thời Pháp thuộc rồi chín năm, cửa tiệm ở Tràng Kênh này, làm ăn thật khốn khó, chữ thánh hiền chẳng mấy người mua nữa, nên ta đành thôi dạy học, vâng lời thân sinh, sang quản lý cửa tiệm của Người, vừa mới mở ở Quảng Yên. Khoảng vài tháng sau, có một khách đến đặt hàng, là một người con gái, mà ngay từ cái nhìn đầu tiên, cả hai người đã thuộc về nhau. Bởi bà ở gần đó, nên mấy tháng trôi qua, biết bao lần gặp gỡ, tâm sự đủ điều mà chẳng dám nói ra, tình cảm thật giữa hai người, dù trước đó nội có nói rằng, mình đã lập gia đình, sắp có đứa thứ hai, nhưng tình cảm của bà dành cho, ngày một thêm đậm đà thân thiết.

Một chiều nọ bà ấy đến thăm chơi, có ngờ đâu trời đổ mưa xối xả.Những người làm đã về hết, nội mời bà vào trong, ngồi tâm sự. Người con gái trinh nguyên, tuổi mới vừa qua đôi tám, nhỏ hơn nội quá một con giáp, sống dưới chế độ thực dân phong kiến, dám táo bạo ngỏ lời yêu trước, là một điều hy hữu vô cùng. Đã vậy còn là, với một người đã yên bề gia thất, chẳng mấy biết về nhau. Về phía nội! Với tư cách và quan niệm của một nhà nho, nội hoàn toàn không dám, thoát ra ngoài khuôn khổ, chắc cũng tại phần nào, phụ thân là người, kịch liệt phản đối chuyện đa thê. Nên nội tỏ ra thái độ, không dám đối diện, với tình cảm của chính mình.Bà cảm nhận được, và bảo rằng không sao, miễn chiều chiều được cùng nhau, hò non hẹn biển, cũng toại nguyện rồi, chẳng mơ ước gì hơn.Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén, nhưng với nội, mặc tình cảm dành cho nhau ngày một thêm sâu nặng, vẫn cố giữ khoảng cách bên nhau, khi chỉ có hai người.Có lần bà đã thẳng thắn, bảo rằng nội hèn nhác, không dám sống, với tình cảm thật của mình.

Thế rồi! Sau một chuyến, nội về thăm nhà trở lại. Một đêm trăng sáng, cùng đi dạo bên bờ sông, dưới hàng cây rợp bóng, đôi mắt bà thật buồn, như ẩn chứa một tai họa sắp xảy ra, rười rượi dưới ánh trăng. Về đến cửa tiệm bà bảo, đêm nay bà muốn ở lại, mặc mai kia thế nào, bà cũng vẫn cam tâm. Con biết không! Đã gần đến lúc, không cưỡng lại được nữa rồi, nội vẫn gắng gượng khoác lên người, cái cung cách thanh cao. Và trong một lúc hồ đồ, nội đã đẩy bà ta ra khỏi cửa, mặc cho bà kêu gào, khóc lóc xấu hổ van xin. Mãi đến khi bà than thở nói rằng, bố bà đang mắc tội, và bà sắp bị gả, cho tay thẩm phán già góa vợ, chỉ nay mai. Trước mâu thuẫn nội tâm dữ dội, mấy lần định mở cửa.Cuối cùng tình cảm dành cho nhau, và ý nghĩ sẽ mất bà đã thắng.Nội mở cửa ôm bà vào lòng, và khuôn thước vỡ tan.

Thuở ấy, thiên hạ mặc Âu phục, bảnh bao oách tướng, riêng nội vẫn áo dài khăn đóng, như ngày nào dạy chữ thánh hiền, mà lại khiến bà đem lòng ái mộ, đến liều yêu dám tình nguyện trao thân. Thế rồi dăm bảy đêm mặn nồng ân ái nữa, bà xách nón theo chồng, tưởng ly biệt từ đây. Nào ngờ sau hơn một năm, bỗng một đêm mưa gió bà trở lại, mắt sưng húp mặt mày thâm tím, đến độ khó nhận ra. Sau một lúc hỏi han nhau, bà ngồi khóc kể. Ngay từ đêm tân hôn, phát hiện ra, bà không còn trinh trắng nữa, lão thẩm phán già đã điên cuồng, ngày đêm hành hạ, dày vò bà cho mãi đến hôm qua. Hắn uống rượu say ngà, về chửi la tục tỉu, rồi đánh đuổi bà đi. Về nhà cha mẹ đẻ, mẹ thì thương xót cho con, hỏi han chăm sóc, cha thì một mực, bắt bà quay trở lại cho trọn đạo.

Nhất quyết không trở lại với chồng, mà đi thì về đâu bây giờ?Bà đánh liều tìm đến nội tựa nương.Cả hơn tháng trời, nội phải giấu bà như giấu người hoạt động, đợi đêm về mới tâm sự cùng nhau, mơ tính chuyện sum vầy. Ngày về thăm nhà, nội bạo gan dẫn bà theo, và thưa rõ sự tình, mong phụ thân mở lượng hải hà, rủ lòng thương mà cho bà tá túc, không danh phận gì cũng được. Nào ngờ đâu ông đùng đùng nổi giận, quát bảo nhà này không chứa, phường mèo mả gà đồng, và thẳng tay đuổi cổ bà ra khỏi cửa. Còn gì đau đớn tủi nhục hơn! Mắt ròng ròng tuôn lệ, bà ngậm ngùi lủi thủi bước đi. Nội cố chạy theo, đã bị ông cho người bắt lại, đè xuống đánh mấy mươi hèo, vì cái tội không giữ gìn lễ giáo gia phong.

Mấy hôm sau quay về cửa tiệm, nội tức tốc đi tìm bà, nhưng than ôi! Không kịp nữa rồi. Bởi ghen tức cuồng điên, đã biến lão thẩm phán thành một con ác thú, mãi hung hăng đến nhà bà, gây hại xài xể bố, nhục mạ chửi rủa, hăm dọa bố mẹ bà, chẳng thiếu điều chi. Nên sau khi không được chấp nhận, vào cửa nhà nội, bà trở về nhà cha mẹ đẻ, bị chửi mắng tơi bời, trời đất bao la, mà không còn chỗ để dung thân. Sau mấy đêm liền, khổ đau cùng cực, bà khóc hết nước mắt, rồi nhảy sông tự tử.Nội như một kẻ điên, gào khóc gọi tên bà, đến bỏ ngủ quên ăn. Giá như hồi ấy, nội mạnh mẽ hơn, suy nghĩ định liệu sáng suốt hơn, thì bà không phải chết. Khi đám tang bà, đã qua ngày mở cửa mả, nội cũng bớt điên dại, đúng vào thời điểm ấy, thì tin chiến thắng Điện Biên Phủ lẫy lừng, vang dội khắp non sông, chấn động địa cầu”…

Thấy cụ Trần lặng im, tay gõ gõ mãi cái ống điếu, như trẻ nhỏ cầm đồ chơi, chắc là thèm thuốc lắm. Tôi e dè hỏi: “Người con gái trong chuyện kể, có phải tên là Tĩnh Lãng, và cũng bởi cuộc tình lãng mạn thương tâm này, mà cụ đã kêu lên “nghiệp chướng” hai lần, khi nhìn thấy Thủy Đường…Cụ Trần kinh ngạc trố mắt nhìn tôi. Ánh mắt dường không chứa đựng, ánh sáng lung linh sắc biếc, của non nước Tràng Kênh nữa, mà thay vào đó là đôi vòm u ám, như mặt sông chiều vỡ vụn, chở nặng yên ba, với cái tên đã đi vào huyền thoại, đang chầm chậm trôi giữa tối đông buồn.


Chương 3: Xin Một Lần Yêu


Trước ngày tôi về quê đón tết, chiều thứ bảy Thủy Đường nghỉ việc về thăm, tôi mới hỏi, giờ em đang làm việc gì trên ấy.Nàng mới nói, em đang làm ở một nơi, mà lãng tử phong trần Nguyễn Lưu, có đi cùng trời cuối đất, cũng không ngoài vùng phủ sóng của em đâu. Cả ngày chủ nhật , ba chúng tôi ở nhà chơi vui vẻ. Thủy Đường ngẫu hứng dạy tôi hát Đúm, nhưng chủ yếu là, xem nàng biểu diễn mà thôi. Cụ Trần tỏ vẻ khoan khoái lắm, bỗng nàng nói:“ Em dạy anh hát Đúm rồi, bây giờ anh hát cải lương cho em nghe đi! Em và Nội rất thích”. Dù không hay gì cho lắm, trong những tháng ngày ngược Bắc xuôi Nam, tôi cũng biết thập thành sáu câu vọng cổ, đàn nghe cũng mùi mẩn lắm, nhưng chuyến này ra thăm cụ Trần bệnh, nên chẳng mang đàn theo. Mỉm cười tôi nói:“ Thôi được! Anh sẽ ca cho Nội và em nghe, một trích đoạn trong tuồng cải lương: Xin Một Lần Yêu Nhau. Anh sẽ đóng vai Âu Thiên Vũ, một trại chủ Hắc Ưng khí phách ngang tàng.Còn em sẽ là Hồ Như Thủy, con quan tổng đốc Tứ Xuyên hiểm ác. Em phụ diễn cho anh, diễn câm thôi, đứng cho có ấy mà”.

Lần đầu tiên nghe tôi ca cải lương, hai ông cháu kẻ đứng người ngồi, trố mắt nhìn xem tuồng cảm động lắm. Đến đoạn tôi lên câu vọng cổ: Như Thủy ơi! Chắc có lẽ thượng đế sanh ta ra, và đặt cuộc đời ta nhằm một ngôi sao xấu. Bởi thế cho nên đời ta cứ mãi lao đao khốn khổ, chỉ xin một lần yêu nhau mà không nói được…bao…giờ. Thủy Đường bỗng ôm lấy tôi khuỵu xuống, và gào lên nức nở:“ Xin anh đừng ca nữa… em chết mất”. Làm tôi cúi xuống đỡ nàng, mà nước mắt rụng như mưa.

Đêm ấy! Thủy Đường xin ngủ với tôi, được cụ Trần cho phép. Nhưng thay vì vào phòng nàng, tôi buộc Thủy Đường, cùng ra ngủ với mình ngoài phòng khách . Nói chẳng ai tin, dẫu đã quá tứ tuần, vẫn phơi phới thanh xuân, một lãng tử đa tình lãng mạn như tôi, mà chỉ ngủ chay với một người con gái, thanh tân duyên dáng yêu kiều, từ trước đến nay, chỉ dành trọn cho riêng mình.

Sáng hôm sau cụ Trần gọi đến, trao cho tôi một bao lì xì, bảo rằng đây là tấm lòng của cụ. Hãy thay cụ mua quà tết về, cho cha mẹ vợ con.Không muốn nhận, thấy cụ buồn so, tôi đành phải nhận, nhưng rõ ngại vì nhiều quá. Bước tới hôn lên trán người con gái, từ lâu đã thuộc về mình, thân kính chào cụ Trần xong, tôi quảy hành trang, bước ra đường đón xe, chứ chẳng cho Thủy Đường, đưa tiễn như trước nữa. Dù nghe rõ tiếng nấc, đầy đau khổ của buổi chia ly, tôi vẫn mạnh bước ra đi, không một lần ngoãnh lại, và mặc cho cái lạnh của mùa đông đất Bắc, tôi chỉ khoác lên người, một chiếc áo phong phanh…



... CÒN TIẾP ...



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 21.4.2018.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004