Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới







Ông Chồng Văn Chương









C on gái ngắm tấm ảnh, hỏi:

- Chụp năm nào hả mẹ?

-Năm tám mươi…

-Hơn ba chục năm rồi á!

Chồng nàng là nhà văn chương. Chính vì thơ văn của chàng, nàng phải lòng yêu. Văn thơ chàng hay lắm. Cuốn sổ tay thuở sinh viên nàng sưu tầm, ghi ghi chép chép thơ văn chàng – trên báo, thơ truyền tay,... Một thuở sách vở của chàng được nàng sưu tập, nâng niu trưng bày trên giá sách. Nàng ngưỡng vọng, bái phục chàng quá, tuổi trẻ mà tài cao. Chưa đến tuổi ba mươi, số tác phẩm nhiều hơn cả tuổi đời của mình.

Chàng là đàn ông chưa, thì nàng đâu rõ. Song văn thơ bút lực, tiếp xúc, giao du rộng, phụ nữ nhiều, yêu đương lắm, là lẽ thường tình, nàng đâu nghĩ ngợi nhiều về điều đó. Chàng chả phải là đàn ông đẹp, cơ bắp cuồn cuộn, năm, bảy múi. Vô tình nàng nghe người nào đó bình phẩm: mắt thao láo, trắng dã, trán dô, mồm cá ngão, người như xác ve, dạng đàn ông vô tích sự và bạc. Đằng sau chàng, họ gọi là tay Ngão. Ấy là đố kỵ, dèm pha người tài giỏi thôi - nàng nghĩ thế - vẩu, ngão là do lúc bé suy dinh dường, đâu phải di truyền.

Nàng yêu ngay từ buổi đầu khi nghe chàng nói chuyện văn thơ, say sưa diễn thuyết trên hội trường, giọng lên bổng xuống trầm đọc thơ văn mình. Hàng vài trăm, có khi cả ngàn sinh viên nín thở, hau háu đớp lấy từng lời, từng chữ của chàng. Trái tim non dại của cô sinh viên văn khoa năm hai đắm đuối, vòng vọng dõi theo bước chân chàng. Yêu mà, yêu như con thiêu thân lao vào lửa và cũng không hiểu mình, được cặp mắt xanh kia hạ cố từ lúc nào.


**


Chỉ còn nhớ, ấy là vào một đêm cuối năm, nàng cùng nhóm đệ tử của chàng - văn sĩ họ thường tụ bạ kiểu bầy đàn - theo chàng đi nói chuyện tại trường đại học nọ. Cô gái trẻ thật vinh hạnh trong nhóm tháp tùng. Sung sướng hơn, đến ngẹt thở, ngay trước lúc cả nhóm lên đường, chàng tình tứ trao bài thơ, như chàng thì thầm, cả đêm trước thao thức viết tặng “em yêu”. Tim nàng nghẹn đập, thổn thức là thổn thức. Nàng sẽ mãi mãi tạc ghi lời tỏ tình bằng thơ của chàng.

Trời đêm giữa tiết đông rét mướt, nàng nhớ, lúc đó muộn lắm rồi, sau buổi nói chuyện, sinh viên vẫn tụm quanh lục vấn, xin chữ ký,... Mãi quá mười một giờ  đêm, mới chia tay nổi. Cả nhóm tức tốc leo xe máy, chiếc thì máy cánh đời bảy chín, cái thì Babetta, thồ chở nhau, phi về phía ngoại ô thành phố, trại vịt của một đệ tử vốn hâm mộ chàng. Nó nằm bơ vơ, heo hút giữa cánh đồng.

Nàng còn nhớ mùi phân hôi rình, quàng quạng tiếng vịt kêu. Gió đồng hun hút. Cả lũ rét run lập cập. Nàng liêu xiêu bước trên bờ đầm và chàng cũng vậy. Lúc ấy trong nàng cuộn lên nỗi thương cảm con người tài hoa mà vất vả. Lòng nàng bật lên lời hứa, sẽ bao bọc, lo toan, chăm chút cho chàng. Trong túp lều chật hẹp, chủ trại thật chu đáo, phân công, chuẩn bị trước đồ nhậu. Trên bếp, nồi quân dụng tướng, cháo cuồn cuộn khói, hai con vịt ninh nhừ nhừ. Vịt được lôi vớt ra, dòng vệt cháo quánh quện long tong chảy xuống chiếc mâm nhôm đặt sẵn trên nền đất gồ ghề.

Đói, lại trong tiết trời đông rét mướt, cả lũ tệt ngay ra nền đất trải rơm. Bếp lửa cháy bùng bùng. Chả ai ta thán mùi hôi hám phân vịt, chỉ thấy mùi cháo, mùi thịt vịt thơm lừng. Tất cả đồng loạt lao vào cuộc đánh chén. Vịt không chặt, dùng tay kéo xé, rượu trong can đổ tràn cung mây ra bát. Cứ gọi là hỉ hả ăn uống. Lúc đầu nàng thoáng ngạc nhiên, điều mà trước đây ngỡ tưởng, nhà văn thơ họ thanh tao, chỉ ăn để sống, đâu phải sống vì miếng ăn. Chàng cũng đói, cũng lao vào cuộc: ngồi tệt trên nền  rơm, bốc xé thịt vịt, bàn tay giằng xé, bẻ kéo, lắm lúc vội vã buông rời miếng cánh, đoạn xương, vì nóng quá.

Nghe tiếng xuýt xoa, rồi nhìn chàng nhồm nhoàm nhai nuốt, nàng thấy thương thương và đáng yêu quá. Lúc cần giản dị, thì giản dị, như lúc ăn cháo ở lều vịt giữa cánh đồng hoang vu đó; lúc cần sang trọng, oai phong, thì hào sảng giữa hội trường. Mỗi khi diễn thuyết, chàng như lên đồng thánh nhập, quên hết mọi thứ, chỉ có văn thơ và văn thơ thôi. Nó là ngôi đền thiêng, là xứ mệnh quàng lên vai chàng, trên con đường thiên lý – chàng từng tuyên bố vậy, nàng thấy thương chàng quá, sao phải mang cái ách nặng nề, khốn khổ vậy! Kém gì đâu chúa Giê - su cõng trên mình cây thập ác.

Mọi người miệt mài ăn uống, hết bay nồi quân dụng cháo to đùng và hai con vịt ninh nhừ, uống cạn can rượu, họ no nê. Đêm khuya rét mướt, lều vịt bé tẹo teo, khi đã no say, trong ánh đèn điện ắc quy vàng vọt, nàng vẫn đủ nhận ra ánh mắt chàng nhìn mình, thứ ánh mắt, dù nàng còn rất thơ ngây, trinh nguyên thiếu nữ, vẫn đủ cảm nhận ra, đó là gì. Đó là ham muốn, là vuốt ve, là gần gũi. Kìa, chàng lại vừa dùng tay quệt, chùi lau miệng, vừa đắm đuối, thèm khát nhìn nàng. Tình tứ, nàng đáp lại. Ánh mắt giao tình của đôi khát yêu, đâu qua nổi những kẻ đang tụ bạ ở lều vịt.

Ở đấy, các đệ tử của chàng rất rõ và sau này nàng mới hay, nó có tên là “Lều yêu”. Công tắc điện được một bàn tay nào đó kín đáo dập xuống, ánh sáng trong lều vụt tắt. Và sau đấy, qua các giác quan, nàng cảm nhận những bước chân, những thân hình chuyển dịch, tiếng xào xạc, rào rạc trên rơm khô. Chắc từng đôi, từng cặp nam nam nữ nữ lui dãn vào các góc, quằn quại trong yêu đương – y như lao vào cuộc ăn cháo vịt vừa diễn ra ban nãy.

Trong bóng tối bao trùm, da thịt nàng rởn lên, khi cánh tay đó quàng trùm, quấn riết. Nàng chỉ kịp nhoài người ra, thì thân thể kia đổ ụp xuống. Từ khuôn miệng tham lam, mùi cháo vịt, mùi rượu nồng nàn, ngái ngái mùi thuốc lào,... tất tất cả như kích thích nàng vào cuộc. Và nhất là đôi bàn tay lần mò, riết ráo, thật kích thích. Kích thích bởi cảm giác trơn trụa của cháo, của mỡ... Và thế là thân thể nàng, đầu óc nàng cộng hưởng, oằn oại theo nhịp, theo dòng vệt đôi bàn tay và cái miệng tham lam, đang lang thang đâu đó. Nàng tự nguyện hiến dâng trong đam mê, bởi hạnh phúc được hiến tế tấm thân trinh nữ cho bậc thần linh văn chương! Dù là vật hiến tế, trong nàng cũng đồng hưởng, trào dâng cảm giác đam mê xác thịt.

Khi sắp bay bổng đến đỉnh cao ân ái, bất chợt nàng hụt hẫng. Bàn tay rứt miết dời khỏi cơ thể nàng; khuôn miệng tham lam, cũng đã buông thả mất rồi; chỉ còn nghe tiếng thở hồng hộc và thân thể ấy truồi truội tuột khỏi cơ thể nàng. Bởi lần đầu tiên trong đời va chạm, nàng chẳng rõ chàng đã biến mình thành đàn bà chưa. Sau này mới hay, cái lần ấy đó, nàng vẫn còn là trinh nữ, dù đã qua buổi hiến tế lên bậc thần thánh văn chương.


**


Nàng đã đến sống ở nhà chàng, thấy đời hạnh phúc quá, được chung sống với thần tượng của mình! Nhà chàng nho nhỏ, thực ra là rất nhỏ, chỉ hơn chục mét vuông, xây vẩy ra ở con ngõ trong khu tập thể. Song nàng coi đó là tòa lâu đài hạnh phúc. Ngoài khung cửa cây ngọc lan cổ thụ xõa bóng, hương hoa ngào ngạt. Nhớ trước đây mỗi khi tới nhà, chàng hái và trao tặng những đóa ngọc lan trắng, nàng nâng niu, mang về ép trong cuốn “Sổ tay yêu”. Đó là dấu vết, là kỷ niệm yêu với chàng. Giờ về đây, đêm đêm thoải mái hít thở, ngắm nhìn cây ngọc lan, nàng là chủ nhân của nó rồi.

Ngay sát chiếc giường của vợ chồng, không ra giường đôi, chả phải giường một, loại giường mét hai, nàng thu xếp, bố trí giá sách - mấy tấm gỗ chằng buộc - và trang trọng bày lên đó những tác phẩm văn thơ của chồng: tập truyện ngắn, tạp văn và thơ, mỏng mảnh, sang trọng. Mỗi sáng thức giấc, ánh mắt nàng vuốt ve, mơn trớn chúng. Nàng dành chuyên chiếc phất lông gà để đuổi bụi. Dù là một hạt bụi, nhất quyết không để chúng rơi, đậu lên tác phẩm của chàng. Sao có thể để những loại tầm thường kia rơi đậu vào thứ cao quý, tôn thiêng ấy.

Mới đầu nàng cũng xếp lên đó những cuốn sách bạn bè chàng ký tặng. Vẫn biết, văn thơ nào có ai chịu, ai công nhận ai đâu. Lần ấy ông bạn văn thơ kia vừa ký tặng sách song, dời khỏi nhà, chồng nàng vứt ngay tác phẩm của người ta xuống đất và buông câu:

- Thơ văn cái con tiều. ‘‘Giải rút’’ thì có. Cả mấy cuốn kia nữa. Vứt, vứt hết!

Nàng biết, đó là chồng ám chí mấy cuốn sách bạn bè chàng tặng, đang đặt trên giá sách. Sao nỡ xử vậy với tác phẩm của bạn? Chiều theo ý chồng, nàng loại bỏ chúng. Cái từ ‘‘giải rút’’, sau này sống với chàng, nàng mới hiểu. Lần đó nàng nào đâu để ý, nhưng nó cứ lọt vào tai nàng. Qua điện thoại, giọng chồng thưa gửi, mời hẹn họ nhậu nhẹt và sau đó bảo, nàng đưa tiền. Chi tiết ấy đã làm nàng nhớ và mơ hồ nhận ra, hình như chồng nàng đang chạy giải. Dịp đó chồng nhờ vả cả mấy nhà phê bình, sau đó thấy hỉ hả, ngấu nghiến đọc loạt bài phê bình liên tiếp đăng báo. Thế mà khi lễ công bố, không có tác phẩm của mình, chàng nghiến răng, quẳng tất thông báo kết quả giải thưởng đang cầm trên tay và cả những bài phê bình tán dương trước đó.

Lúc này đây nàng ở nhà một mình, thai kỳ bước sang tháng thứ bảy. Đứa con trong bụng quẫy đạp. Người mẹ âu yếm, nhẹ vuốt ve lên khối tình. Khối tình ấy là kết quả và diễn ra trong một đêm nàng cùng đám đệ tử theo chàng đi diễn thuyết. Cuộc yêu không phải diễn ra ở lều vịt hoang sơ, mà ở phòng ký túc xá. Nàng hãnh diện với chúng bạn trong lớp, trong khoa,… mời được nhà văn thơ nổi tiếng đến nói chuyện và công khai mình đang yêu chàng.

Đêm tình yêu không rượu, cũng không cháo vịt, không hôi hám phân tro, họ đắm đuối, miệt mài, cuồng nhiệt. Và kết quả là đứa con trong bụng nàng đây. Nàng tưởng tượng và ao ước, con sẽ giống hệt chàng, tài ba, sáng tác ra những áng văn chương để đời, trăm năm, không, cả ngàn vạn năm đấy.

Suy nghĩ và mộng mơ, nàng vẫn không quên bổn phận làm vợ, công việc nội trợ. Nàng sẽ nấu nồi canh chua, đĩa rau sống, đĩa thịt ba chỉ và tất nhiên không thể thiếu cút rượu, thứ mà chàng từng tuyên bố trước mặt các đệ tử, trong đó có nàng, rượu là tinh túy, hồn cốt của trời và đất. Lúc đó nàng cảm kích, quá thích thú câu phát ngôn ấy. Gần như mọi tuyên ngôn của chàng, nàng đều nắn nót, nghiêm cẩn ghi chép vào Cuốn sổ yêu và cả câu: “Rượu là tinh túy, hồn cốt của trời và đất”.

Nàng về nhà chồng, không cơi trầu ăn hỏi, không lễ cưới và cỗ bàn, không thướt tha tà áo dài, hay váy cưới vu quy, không đến cả tờ hôn thú, tức là theo không! Nàng cũng chả đếm xỉa đến sự phản đối gay gắt, kể cả lời dọa dẫm từ mặt con gái của cha nàng. Nghe theo tiếng gọi con tim, nàng bỏ ngoài tai tất cả. Đôi ba tháng nay cha mẹ đã tha thứ cho con gái rồi. Cha nàng dù không còn xua đuổi con gái như buổi ban đầu, nhưng chả hề nói với con một câu. Ông vẫn cương quyết:

- Tao cấm cửa thằng cô hồn, thằng Ngão đó nhá! Nó mà tới đây, ông đập cho què chân. Người gì mà nhìn thấy ghê, đầy ám khí.

Chả hiểu sao, bố nàng lại biết cái tên củ cái ấy của chàng – Ngão. Mẹ nàng thì giấu diếm, dấm dúi cho con gái chút chút tiền. Bà thương xót, học hành dang dở, chả công ăn việc làm, lại bụng mang dạ chửa. Chút chút mẹ cho, phần nào để nàng gắng gượng nuôi mình và đêm đêm tằn tiện bao bọc những cuộc nhậu của chàng với chúng bạn.


**


Sáng ấy nàng định bỏ buổi bán hàng. Con bé như hâm hấp sốt, nàng không gửi nhà trẻ nữa, mà bế ra ngôi quán đầu ngõ. Hơn năm nay nàng mướn chỗ đó, bán rau cà mắm muối, tạm đủ cho mẹ con, lại dành ra chút đỉnh phục vụ thú vui nhậu nhẹt của chồng. Nàng đang có nỗi lo, khoản tiền chồng nàng sắp sửa ra sách. Khi nghe số tiền đầu tư, nàng rụng rời chân tay. Nó tương đương bảy cây rưỡi vàng. Nàng biết, chồng mình tâm huyết, gửi gắm đời mình ở đó, nhưng nàng mệt mỏi mất rồi. Cứ như chồng nàng tuyên bố trong bữa rượu tiếp đáp đám bạn bè và đệ tử:

- Nó là tiếng nổ kinh thiên động địa. Chúng sẽ phải cúi đầu bái phục. Mẹ kiếp...

Nàng cau mày, khó chịu vì câu văng tục của chồng. Ngày trước chồng nàng cũng hay văng tục, nhưng nàng đâu để ý, lắm khi còn thấy là khí chất nam nhi.

- Chuẩn. Đại ca quá đỉnh! Tiên sư nhà chúng nó chứ. Chuyến này cứ gọi là chống mắt lên nhá. Sách ra, đắt như tôm tươi.

Giờ chồng làm thơ, theo đuổi sự nghiệp văn chương, nàng mặc, riêng đứa con thơ dại, nàng ngấm ngầm ngăn cản bố nó, đang định hướng cho con thành nhà văn thơ. Lần nghe chồng lựa chọn cái tên đặt cho con, nàng hãi hùng, thứ tên phạm húy phạm thượng, coi thường cả trời lẫn đất, không chết yểu cũng hóa điên. Nhất quyết nàng không nghe. Hồi con bé bi bố tập nói:

- Bố... mẹ... nhà... mình.

- Ơ kìa, nó làm thơ kìa - chàng lạc giọng, vội vàng lấy giấy bút ghi chép và giục con:

- Làm thơ tiếp đi con.

- Ông... trời... mặt... trăng

Thơ - do con gái tôi làm đấy. Bố nó đi đâu cũng oang oang khoe khoang với mọi người và đọc thơ của con, thêm bọn đệ tử xúm vào tâng bốc, thơ đứa bé lên ba  thành ra thứ thơ thần thơ thánh. Có hôm nàng ngồi bán hàng, con bé lon ton bên cạnh, một bà mua dưa hành hỏi:

- Con này làm được thơ phải không? Sao giỏi thế!

Nghe chất giọng châm biếm của bà ta, tôi ngượng chín mặt và bà ta giục con bé:

- Mày làm thơ đi, cho bác nghe một bài xem nào.

Nàng quá thấm thía với tập thơ chồng mình ra mắt đợt trước, tốn gần cây vàng. Đợt ấy nàng tong tả vay mượn ngược xuôi, còn nói dối cả mẹ, để cụ móc hầu bao cho con gái mấy chỉ và không rõ, con gái dùng vào việc gì. Nào nàng có phải dạng keo kiệt. Từ khi về nhà chồng, nàng cúc cung phục vụ, lo toan từng bữa nhậu. Song phải nghe lắm quá, nghe họ huyên thuyên, lòng nàng dần dần ra tức bực. Chợt một lúc bật lên nỗi nghĩ, sao có giống người đâu ác tâm, phỉnh phờ, xúi bẩy, đẩy người khác vào chốn đường cùng. Thật đúng là một lũ vô công rồi nghề, như cái đuôi bám đuổi theo chồng nàng.

Buổi đầu, nàng thấy họ cũng đáng yêu, những đệ tử văn chương, y như nàng và y như những người cuồng nhiệt, tôn thờ lý tưởng. Dần dà nàng ngộ ra rằng, nó là thứ cuồng nhiệt, tôn thờ giả vờ, sặc sụa mùi a dua, cơ hội và kiếm chác – mà là thứ kiếm chác bệ rạc, kiếm miếng ăn và dăm ba chén rượu nhạt. Đã mất công, thì phải sao cho xứng, kể cả cơ hội, kể cả kiếm chác, tranh thủ lý tưởng ấy.

Những đêm chồng nàng đi diễn thuyết, họ rồng rắn bám theo, dưới hội trường là những cổ động viên cuồng nhiệt, thậm chí đứng cả lên gào rú tán dương. Vẫn mấy bài thơ cũ mèm, mấy tản văn sáo rỗng, kiểu kêu hơn mõ, họ đã thuộc lòng, sao vẫn thấy hay ho, vẫn sùng sục vỗ nổi tay chân! Tâng bốc, cũng bởi họ chầu chực suất thù lao buổi nói chuyện, sau đó kéo nhau lê la ra quán xá và điệp khúc bốc thơm chồng nàng lên mây xanh. Những đêm không diễn thuyết, chiều chiều họ tụ bạ ngoài quán nước, trước cổng Viện, nơi cơ quan làm việc của chồng nàng, chờ trực tan giờ, là bám đuôi về nhà tụ hội. Thức ăn chưa xong, thì rượu xếch; đồ mồi xong xuôi, cả lũ lao vào cuộc nhậu nhẹt.

Cửa nhà chật chội, mẹ con nàng cứ việc lên giường nằm trước. Lắm đêm ngủ sâu cả giấc dài, mẹ con giật mình, vì đám nhậu tự dưng ré lên. Ngóc đầu ngó xem, có khi thầy chồng đang trỏ tay vào mặt một kẻ nào đó mắng chửi, còn kẻ kia nước mắt mũi ròng ròng, chắp tay, vái lấy vái để xin lỗi,... Và tan cuộc nhậu là màn diễn quen thuộc, cả chồng nàng cùng đám đệ tử ngã dúi dụi, ngã đổ nhào ra chiếu, kẻ nọ chồng đè lên người kia… ngủ. Họ đều say mà. Quanh mâm rượu vương vãi xương xẩu, bát đĩa, những thằng người nằm lộn ngược đảo xuôi, ngáy thở ồ ồ, chốc chốc kẻ nào đó mơ, ré lên cười, lảm nhảm:

- Đời là cái mẹ gì nhá, hầy!

Sáng sau, nàng phải hót dọn những bãi nôn tanh lợm, nồng, vung vãi đầu mẩu thuốc lá, thuốc lào hôi rình rình… ra bãi rác.


**


Sách dày ba trăm trang, giấy đẹp, bìa cứng gập, thửa riêng họa sĩ minh họa, in ấn một vạn bản. Số tiền bỏ ra tương đương bảy cây rưỡi vàng. Nàng biết moi móc ở đâu ra. Quán hàng rau dưa mà nàng tần tảo, chắt bóp, thu nhặt được mấy nỗi. Nhìn mặt vợ đần độn, ngơ ngác, hết từ gam màu tím tái chuyển sang đỏ đọng, cặp mắt thì ngân ngấn nước, chồng nàng vằn mắt:

- Vay nóng, vay ngân hàng, kể cả thế chấp căn nhà chết giẫm này!

Nghe tiếng quát của bố, con gái đang ngủ, giật mình tỉnh giấc. Nhà có phải của nàng đâu, cưới đâu giá thú, tiếng nói ngăn cản, phản đối chả có chút giá trị nào. Nàng chỉ còn biết nuốt nỗi lo vào lòng, cùng với bao mối căm giận khác, như căm hận đám đệ tử, tay đầu nậu sách, gã cho vay nặng lãi kiêm cầm đồ. Ngay buổi đầu tiên gã đầu nậu sách tới nhà, nhìn bản mặt, nàng đã thấy sặc mùi con buôn.

- Gai… gai đấy!

Đó là tay đó nói. Khi chồng nàng vừa đưa tập bản thảo, mở lượt đọc được đôi trang, gã lại tiếp tục:

- Gai gai quá! Nhưng tuyệt cú mèo. Thế mới là văn chương chứ!

Toàn gai gai góc góc, cú bọ, thì văn chương cái nỗi gì - nàng chua xót nghĩ vậy và buột miệng:

-Gai với góc!

Cả hai kẻ kia bỗng dưng nghe tiếng đàn bà thảng thốt vậy, ớ ra nhìn. Chả lẽ họ nghĩ, nàng cũng thấy gai góc ư? Lâu nay lòng nàng nguội lạnh văn chương mất rồi. Lý do cũng bởi bao đêm ngày phải vật vã nghe và sức sáng tác của chồng nàng lớn lao lắm, có ngày đêm sáng tác đến đôi ba bài thơ, ngon ơ cái truyện ngắn, hay vài cái tản văn.

Ngồi giặt áo, nghe tay đầu nậu sách nói, nàng thấy giọng điệu thằng cha này giống hệt lũ đệ tử của chàng. Đêm đêm nghe chúng tụng ca, ra rả rót vào tai, nàng  nghe phát chán phè. Chính vì mấy từ gai góc kia, rồi tuyệt cú mèo nữa của gã đầu nậu sách, tiếp đó là màn hót như khướu hót, chồng nàng ban đầu còn rớ rênh in ngàn bản, sau leo lên hai, ba và rồi tót lên vạn bản. Nghe nàng giật mình thon thót. Nó là tiền của, là mồ hôi, nước mắt, là gánh nợ quàng lên đời nàng. Bao đêm trường thao thức và giờ nàng đâm ra cũng làm thơ rồi:

Xin được làm búp chè dịu chát

Lặng lẽ chìm dưới đáy ấm người pha

Vắt kiệt mình để hương vị lan ra

Ấm lòng ai ngày dài khao khát

Người có biết

mỗi khi nâng chén nhấp

Là có em rời rã hòa tan

Người có biết

sau khi cuộc trà tàn

Người đổ bã là có em ngấp ngoải

Người có biết

để nồng đậm mỗi phút người tồn tại

Là có em nhạt thếch đến tận cùng.

  Lúc ấy nàng chỉ muốn lao vào, thằng tay chỉ thứ mặt trơn tuột, nhẵn thín, không lấy nổi một gọng râu của gã đầu nậu sách kia, xỉa xói cho hả cơn giận đang trào dâng lên trong lòng.


***


Nỗi khổ về chồng ra sách còn dài lắm. Chỉ riêng tấm bìa sách thôi, đã cơ cực. Tối nào nàng cũng phải lo toan mâm rượu thịt cho hai kẻ đó - chồng nàng và tay họa sĩ. Tay đó, chân tay, mình mẩy quái dị gấp đôi, gấp ba chồng nàng: cặp chân có đôi đầu gối củ lạc to đoành; lờm xờm lông lá đen rậm như chân tay khỉ. Nàng biết thế, vì đến nhà người, gã mặc chiếc chiếc quần ta vải nâu, kiểu lá tọa, thản nhiên kéo ống quần quá gối, co chân tọa lạc trên mặt ghế, chầu hẫu rít thuốc lào:

- Ông thấy chửa. Bức này toát lên thần thái, nội dung nhé. Tôi đ… phải giống họa sĩ nhà quê đâu nhá!

- Ông định xỏ mát ai, văn chương nửa mùa?

- Đây việc đếch gì phải mát mẻ ai.

Đấy, tác giả sách và họa sĩ đàm đạo chuyên môn về bìa sách thế đấy, trao đổi, uống rượu, cãi lộn nhau cả tuần quanh đi quẩn lại bức hình minh họa bìa. Giận dỗi, không chỉnh sửa, rồi gây sự, để chiều muộn hôm sau, gã họa sỹ lại vác đến tấm bìa minh họa mới. Nàng lầm rầm cầu mong, sao bìa sách xong cho nhanh nhanh.

Chiều muộn ấy gã họa sĩ đến, nàng lại vào bếp chuẩn bị món nhậu và cũng chả thiết để ý đến nội dung hội họa văn chương họ trao đổi với nhau nữa. Chắc lại dè bỉu, chê bai nhau, kẻ thì họa sĩ nghiệp dư, người thì văn chương nửa mùa. Đang nấu nướng, bất chợt nàng giật thót mình, nghe tiếng cười đến ghê rợn của chồng - bố nàng thường bảo, thằng ấy nhìn âm khí đã nặng, tiếng cười còn ma quái hơn. Chồng nàng cười và nhìn bức họa, vỗ đùi đánh đét một cái, gật gù, rồi hướng về phía vợ:

- Cô đưa tôi chỉ vàng!

Nàng nhẫn nhục moi móc ra chỉ vàng. Chồng nàng quẳng ngay xuống chiếu, giọng buông thõng:

- Công trả đấy. Biến!

Tay họa sĩ thản nhiên nhặt chỉ vàng và biến thật, biến không thèm đối lại một từ, một ngữ nào với chồng nàng. Hắn bước đi liêu xiêu. Có thể là hắn say, cũng có thế hắn chả chấp với một kẻ cuồng chữ, lại dân văn chương gần là nhà quê như dạng chồng nàng. Nỗi khổ ra sách của chồng nàng có lẽ chỉ gần bằng nỗi chán và nhục nhã nàng từng nếm trải. Lúc ấy quãng mười hai giờ, hay một giờ đêm gì đó, nghe điện thoại, bên kia đầu dây rít lên:

-Cô đến mà rước chồng cô về đi!

Chao ôi, những cuộc điện thoại bất chợt, réo gọi nàng đi thồ lôi chồng về diễn ra như cơm bữa, xoành xoạch, oành oạch, nàng đâu quen nổi. Lần tới địa chỉ ấy, dưới ngọn đèn vỉa hè, chồng nàng, không phải ngồi, mà gần như quỳ bò, động tác hết sức kỳ quái – bò, bò quanh quanh đám lòng lợn vương vãi, bò hẳn bằng bốn chân tay, ấy cũng là lần đầu tiên nàng thấy thằng người bò y như con vật, quẩn quanh quanh đám lòng lợn.Khi nhìn thấy vợ, chồng nàng hềnh hệch cười:

-Thằng này ngu lắm cơ.

Câu chuyện mà sau này nàng mới rõ như sau: Giữ đêm hôm khuya khoắt, anh bạn chồng nàng nghe tiếng đập cửa rầm rầm và tiếng gào gọi. Tưởng việc gì, bạn hộc tốc ra mở cửa, ngó nhìn thấy anh bạn văn thơ tên Ngão, say đứ đừ đư, đứng không nổi, ngồi không xong. Bạn vừa hé cửa, chồng nàng tống ngay vào nhà họ gói lòng lợn ăn dở, chả rõ gói lòng nhậu từ bao giờ và hét toáng lên:

-Lộc, lộc văn thơ đó. Hưởng xong, tao sẽ định nghĩa cho mày nghe, văn thơ cách tân, văn thơ cải tiến, văn thơ hiện đại, không cái kiểu văn thơ hủ nho nhá!

Ông bạn kia vốn có kinh nghiệm về chồng nàng, chả dại gì mở toang cửa, chỉ he hé và đứng chặn. Sáng hôm sau, bà hàng xóm hỏi ông ta:

-Nhà chú tối qua có việc gì, sao cãi chửi nhau khuya khoắt thế?

Nàng đã vất vả thồ lôi chồng về nhà. Dọc đường, ông chồng say ngất ngưởng, huyên thuyên nói chuyện văn thơ. Nàng chỉ sợ, chồng ngã ra, đập đầu xuống đường, thành tay chồng ngơ ngẩn.


**


Giấy tờ nhà giao cho gã cho vay nặng lãi, nhận tiền xong, chồng nàng khoái trí mang nộp nơi ra sách. Lũ đệ tử ríu rít theo cùng, gọi hẳn tắc xi vào đầu ngõ, chở tiền cho nó an toàn và oai. Đi từ lúc hai giờ chiều, tận mười  giờ tối bọn họ mới kéo nhau về. Cả đám líu ríu say, dựa vào nhau đi. Như họ tuyên bố trong bữa nhậu tiếp đó, tiếng vọng ra khắp ngõ, sắp có vụ động trời, để đời, đóng đinh vào nền văn chương nước nhà.

Lúc họ kéo nhau về, đó là lần đầu tiên, kể từ khi bước chân vào ngôi nhà này làm vợ, nàng không còn tong tả, hay hậm hụi làm đồ nhậu cho đám ấy. Nàng nằm trên giường, chăn phủ kín đầu, ôm con, nước mắt trào chảy.  Chồng nàng chả quan tâm đến vợ khóc hay ngủ, đang định gào trời thét đất, cứ mặc, cũng chẳng thèm sai khiến vợ đi chuẩn bị đồ nhậu như mọi bữa. Họ đã sẵn sàng, thịt chó, rau sống, riềng, mắm tôm, chanh và cả một can rượu tướng. Nằm trong chăn nàng ngửi thấy mùi mắm tôm tanh ngòm, mùi thịt chó hôi đến lợm giọng và nhất là lũ kia tranh nhau nói cười, tranh nhau chúc tụng và tranh nhau ăn uống. Cuối cùng lũ điên khùng kia đồng thanh cất tiếng ca hát:

Kết… đoàn chúng ta là sức manh!

Đằng trước ta đi đằng trước.

Đằng sau ta đi đằng sau.

Trước sau sau tr… ư... ơ... c!”

Ông trời ơi! Sao mẹ con tôi khốn khổ đến thế này,  người ta nỡ hành hạ nhau đến nước này sao!

Hàng xóm ở đây biết hết rồi, chịu đựng quen rồi, chấp nhận sống chung với lũ ngộ chữ, mắc bệnh vĩ cuồng văn thơ. Họ cũng khổ y như nàng.


**


Nàng lách lách người mới qua nổi đám thùng các tông chứa sách, chồng đống cao chất ngất sát tận mái nhà, phía trên phủ ni lông chống dột cho sách quý. Nhà cấp bốn, xây thời bao cấp, lâu ngày không sửa chữa, đâm dột nát. Vài tháng nay vì sách chiếm chỗ, bữa ăn, cả nhà ngự trên giường xơi cơm. Bữa bữa, nàng bê bếp ra vỉa hè nấu nướng, phòng ngừa hỏa hoạn cháy sách. Tác phẩm nhận về đươc tha lôi ký gửi khắp nơi chốn cửa hàng sách Thủ đô.

  Tuần đầu tiên, tuần thứ hai, thứ ba,… chồng nàng hăng hái lắm và cả nàng nữa, chiều chiều đến thăm nom, hỏi han xem độc giả quan tâm, mua bán được bao nhiêu tác phẩm. Rồi cả hai đâm chán, chả ai thiết tha thăm nom nữa. Sách nào ai mua bán đâu. Trong bữa ăn, chồng tay chén rượu, cứ từng tợp từng hớp tợp uống, miệng lầm rầm. Ấy là chồng nàng đang chửi rủa lũ độc giả ngu dốt, không hiểu cái hay, nét đẹp, thứ cao siêu trong tác phẩm của mình.

Có đêm nàng lo suýt chết. Con thì hầm hập sốt, trong màn nhìn ra, thấy chồng đứng bên đám sách, vung tay chân, miệng lảm nhảm đọc thơ:

- Em ới là em ơi!

Lo lắng con ốm, sách ế, chồng lại ra điên dại khùng, thì khốn. Cửa nhà chật chội, trước đây nàng từng khổ sở với đám đệ tử tha lôi, dâng hiến lên đại ca của chúng đủ thứ, nào đơm, đó, nơm, thúng,… nhất là mấy chiếc nón rách, rách bươm như của giống ăn mày. Chúng được bày treo lơ lửng khắp chốn nơi trong nhà – chồng gọi là nghệ thuật sắp đặt. Nàng chả thấy phong cách Việt ở đâu, như đám đệ tử kia tán dóc. Lại còn đám bát, đĩa, hũ sành sứt mẻ, chả rõ chúng thu lôi ở đẩu đầu đâu ra, đem đến tụ bạ, trưng bày ở nhà nàng:

- Đại ca ơi, đây là gốm thời lý đấy. Quý hiếm lắm!

Nàng nghe mà nóng mắt. Lý với Trần. Sao không bêu lên thời Thánh Gióng, cho nó cổ quái. Từ khi nhận sách về, nàng dọn dẹp, tổng khứ tiệt đám không gian Việt ấy  khỏi nhà. Cũng từ khi sách xếp chồng đống, chiếm hết chỗ nằm ngồi và thực ra nhà nàng đang nợ đầm đìa, đêm hôm lũ đệ tử chả còn mò đến quần thảo văn thơ nữa.

***

Cả tuần nay chồng nàng vắng nhà. Lúc đi chỉ thấy lầm lũi xếp quần áo. Mà sao tha lôi lắm thế, cả va li chật, vợ hỏi không bắt lời. Chắc là đi công tác - nàng nghĩ thế. Chả rõ thực hư thế nào, sau đó một đứa đệ tử úp mở, chồng nàng đang ngao du ở Đà Lạt với một sơn nữ, con nhà đại gia, yêu cả văn lẫn thơ. Nàng buồn bã nghĩ, yêu cái của nợ mất rồi. Nàng chả còn chút động lòng ghen tuông, tức khí!

Dắt con đi nhà trẻ, rồi tất tả quay ra quán, giờ cả nhà trông vào vại dưa, vại cà, lại thêm món nợ nóng, chưa kể căn nhà thế chấp, ngồi bán hàng mà nàng đâu còn tâm trí bán chác. Chợt bà hàng xóm đi qua, hỏi vọng vào, có việc gì, mà sao của nả lại vứt bừa ra ngõ. Nàng tong tả chạy về. Kìa, đúng là nhà cửa toang hoang, giường chiếu, xoong nồi,… vứt tứ lung tung ra ngõ. Một thằng trai to vật như con gấu, đầu húi cua, nghênh nghênh đứng trước nhà. Thằng này thì nàng đã giáp mặt, bữa nó cùng chủ đến trao tiền và nhận giấy tờ nhà thế chấp. Tiền vay quá hạn một tháng, không trả lãi lẫn gốc, chúng đến xiết nhà đây.

Những thùng cát tông vứt lổng chổng, sách vở tung tả  vãi rơi khắp khắp chốn nơi. Nhìn bức hình bìa cuốn sách - mặt một thằng người cười méo mó, bước đi xẹo xọ, cho đến lúc này đó, nàng mới chợt nhận ra, sao lại giống ông chồng Ngão văn văn thơ thơ của nàng đến thế./.


Hà Nội, ngày 09/12/2016 



VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004