Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới

Đền Huỳnh Cung - đền thờ Chu Văn An .




VĂN HÓA DÂN GIAN XÃ THANH LIỆT



T ôi về làng Thanh Liệt, Huyện Thanh Trì thành phố Hà Nội,tìm hiểu các di tích văn hóa văn nghệ dân gian của địa phương, được UBND xã giới thiệu cụ Vũ Huyên một vị lão nho cao tuổi, cư trú tại xóm Thượng biết nhiều sự tích của Thanh Liệt

Sự tích các vị thần được thờ


Cụ Vũ Huyên kể rằng :

Xã Thanh Liệt huyện Thanh tri Hà Nội là một làng cổ ở phía Nam kinh thành Thăng Long Những năm về trước, làng mang tên là Quang Liệt còn gọi là Kẻ Quang, vào năm Quý Mùi 1883 đời vua Tự Đức thì dổi tên là Thanh Liệt để tránh tên húy trong Hoàng triều. Xã Thanh Liệt thuộc tổng Thanh Liệt thuộc huyện Long Đàm phủ Thường Tín (sau đổi là huyện Thanh Trì ) trấn Sơn Nam Hạ .

Đến năm 1961 xã Thanh Liệt cùng với huyện Thanh Trì nhập vào Hà Nội

Về Địa lý, xã Thanh Liệt phía Bắc giáp xã Đại Kim và Tân Triều, phía Đông giáp xã Hoằng Liệt, và Tứ Hiệp, phía Nam giáp xã xã Tả Thanh Oai. Xã Thanh Liệt gồm 5 thôn là Cự Đông, Trù Nhĩ, thôn Trung, thôn Vực và thôn Văn

. Sử sách của nước ta cho biết sau khi dẹp yên cuộc khởi nghĩa của bà Triệu Thị Trinh nhà Ngô đã lấy đất Nam Hải, Thương Ngô và Uất Lâm làm Quảng Châu, đặt châu trị ở Phiên Ngung. Lại lấy đất Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam làm Giao Châu, đặt châu trị ở Long Biên

Năm Kỷ Mùi (479) nhà Tống mất ngôi, nhà Tề nối nghiệp trị vì đất nước đuợc 22 năm thì nhà Lương lại cướp ngôi nhà Tề, và sai Tiêu Tư sang làm thứ sử Giao Châu. Dưới sự cai trị của Tiêu Tư đã khiến cho dân Giao Châu khổ cực trăm bề, người người đều oán giận. Bởi vậy năm 542 có ông Lý Bôn (còn có tên là Lý Bí) lãnh đạo nhân dân Giao Châu nổi lên đánh đuổi Tiêu Tư chiếm giữ thành Long Biên lập nên nhà nước độc lập tên là Vạn Xuân

Thần tích chép tại làng cho biết ở thôn Vực trang Quang

Liệt có cụ Phạm Đô Tu một lão đô vật nổi tiếng, lão đô vật Phạm Tu sinh năm Bính Thìn (476) vốn là một người hào kiệt, có lòng yêu nước thương dân, căm ghét bọn quân nhà Lương xâm chiếm nước ta. Khi Lý Bí nổi binh đánh lại quân nhà Lương, mặc dù lúc đó Đô Tu đã hơn 60 tuổi, ngài vẫn tập hợp dân binh cùng nổi lên đánh đuổi quân nhà Lương, giúp Lý Bí chiếm được thành Long Biên

Ngày Nguyên đán năm Giáp Tý (544) Lý Bí xưng là Lý Nam Đế, lập nước Vạn Xuân, ban cho Phạm Tu đứng đầu hàng võ quan. Tháng 6 năm 545 nhà Lương sai Trần Bá Tiên đem quân sang đánh dẹp. Phạm Tu cùng Lý Nam Đế lập phòng tuyến ở sông Tô Lịch để chống lại.

Thế giặc mạnh, thành vỡ, tướng Phạm Đô Tu đã hy sinh tại trận ngày 20 tháng Bẩy năm Ất Sửu (545) . Vua Lý Nam Đế tiếc thương, phong ngài là Long Biên hầu, ban cho dân Quang Liệt thờ làm Bản cảnh thành hoàng. Nay tại xóm Vực có ngôi miếu thờ cha mẹ Phạm Tu, và cũng là nơi thờ vọng Phạm Tu, trước miếu có câu đối :

Dũng khí sông Tô thánh đức anh hùng truyền sử Lý

Hùng tâm bãi vải thần uy hiển ứng chép trời Nam

Ngôi đình chính của làng là nơi thờ Phạm Tu gọi là Đình Ngoại được xây năm Canh Ngọ, ngôi đình này hiện đang nằm ở giữa cánh đồng thôn Trung có hướng Đông Nam. Theo các cụ cho biết ngôi đình thờ Phạm Tu nằm trên đầu rồng, toạ càn, hướng ra đầm Ngọc Thanh (đầm Tròn)

Tại đình có đôi câu đối cổ thờ Ngài :

Trượng nghĩa cự Lương binh, hách hách tinh trung huyền nhật nguyệt .

Phong hầu minh Lý sử miên miên thang mộc ấm phần du

Cũng tại Thanh Liệt có một ngôi đình thờ Chu Văn An được dân gọi là Đình Nội. Tại dình Nội, ngoài bài vị thờ Chu Văn An, xã Thanh Liệt còn phối thờ 3 vị khoa bảng (đó là Chu Tam Tỉnh con trai cả của Chu Văn An thi đỗ năm Tân Hợi, Chu Đình Bảo là cháu 4 đời của Chu Công thi đỗ năm Giáp Thìn và tiến sĩ Lý Trần Thảo người Lê Xá nhập tịch làng Quang Liệt )

Trong dình Nội có nhiều đôi câu đối thờ :

Tấc lòng chưa thể như tro nguội

Nghe nói vua xưa gạt lệ thầm

Đình Nội là ngôi đình được sửa sang nhiều lần, khởi dựng năm 1765 đến năm Giáp Tý (1864) có vị Tú tài Vũ Huy Hiệu chọn đất thoáng xây lại đình gồm có ba gian chính và hai nhà giải văn, giải vũ . Đến năm Nhân Dần 1892 đình Nội được mở rộng hơn, đến năm Nhâm Ngọ xây thêm nhà thủy tọa bên sông Tô Lịch. Công trình này đáng là một di tích đẹp tiếc rằng về sau, mở đường Kim Văn đi qua khu vực đình, chia cắt đình và nhà thủy tọa. Mỗi khi làng vào đám trong lúc dân làng cúng lễ, xe qua lại gây bụi mù mịt. Đến năm 2010 thì phá bỏ nhà thủy tọa, xây dựng lại Đình Nội. to đẹp như ngày nay

Dân làng kể cho biết thầy Chu Văn An sinh ngày 15 tháng Tám, năm Nhâm Thìn (1292) Bố là người phương Bắc lưu lạc sang Nam, lấy bà Lê Thị Chiêm ở thôn Văn sinh ra Chu Văn An. Nay ở cuối làng Thanh Liệt còn ngôi miếu thờ mẹ của Chu Công. Ngày kỵ của bà là ngày 22 tháng Tám. Thuở thiếu thời ông nổi tiếng là người thanh tu khổ tiết, không ham danh lợi, học thức uyen bác nổi tiếng gần xa,

Lớn lên thầy được vua Trần Minh Tông vời vào cung để dạy chữ cho thái tử, và giúp rập công việc chính trị. Từ năm 1358 thượng hoàng Trần Hiến Tông mất, vua Trần Dụ Tông hèn yếu, các cựu thần không còn ai, bọn gian thần trong triều kết bè đảng lũng đọa triều chính, ông Chu Văn An dâng vua “thất trảm sớ” đòi chép 7 tên quyền thần nhưng không được vua chấp nhận, ông liền từ quan về quê dạy học. Ngôi trường của ông tương truyền bên hồ thuộc làng Huỳnh Cung, Học trò của thầy rất đông, trong đó có một vị thủy thần theo học, đã nghe lời thầy gay mưa tưới nước chocacs thôn xã thuộc tổng Hoằng Liệt. Việc làm trái ý Thượng đế nên thủy thần bị sét đánh chết, các thôn trong tổng đều thờ làm Bảo Ninh thượng đẳng thần.

Trong đình Nội là nơi thờ Chu Văn An có đôi câu đối Nôm :

Thất trảm sớ còn thơm, hương sử thẹn cho tuồng mãi quốc.

Lục kinh tro chưa nguội, biển huỳng treo mãi chốn danh hương.

Về Thanh Liệt hỏi chuyện các cụ và nhân dân, chúng tôi thấy tuy lão tướng Phạm Tu được phong là Thành hoàng làng, nhưng dân lại thuộc tiểu sử thầy Chu Văn An hơn. Để cho dung hòa hai vĩ nhân của quê hương, hàng năm đến ngày 08-10 tháng Hai (âm lịch) làng Thanh Liệt tưng bừng tổ chức lễ hội.

Lễ hội làng Thanh Liệt tổ chức vào các ngày mồng 8, mồng 9 và mồng 10 tháng Hai. Sau năm 1946 xã hội phải lo nhiều chuyện kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, và các quan điểm xã hội nên địa phương không tổ chức hội hè. Đến năm được phép mở lại hội làng các cụ phải tổ chức hồi cổ nhớ lại cách tổ chức ngày lễ cho đúng với truyền thống, Tôi không về làng đúng ngày hội nên không mô tả được không khí và hoạt động trong hội làng, chỉ xin giới thiệu mấy bài ca dao lưu truyền trong dân để các bạn xem xét :


Đám rước hội làng Thanh Liệt


Đi đầu đôi ngựa bạch cao

Mười hai cờ sắc vẫy chào đón xuân

Tiếp theo là trống tiền quân

Lọng vàng, tán tía bước chân dập dồn

Đến biển “Nam quốc Nho tôn”

Đôi tàn đi cạnh để dồn tùng dinh.

Ké tiêp là kiệu long đình

Hương trầm nghi ngút anh linh văn tài

Trống trung quân bẩy tiếng dài

Đến mâm cỗ ngọc đủ loài bánh hoa

Nữ quan khiêng kiệu Đức Bà

Hội nhạc đi trước tấu hòa bát âm

Tư văn các chức tay cầm

Tĩnh túc, bát bửu có phần trang nghiêm

Đến chiều trưng tịch quan viên

Gươm vàng, kiếm bạc bút nghiên hai hàng

Bức trướng “Nguyên soái” dát vàng

Uy nghi trước kiệu Thành hoàng Đức ông

Bát hương, bài vị bên trong

Rước ra đến khỏi cổng đình kiệu quay

Trống hậu quân báo kiệu quay

Trung tâm đám rước tránh ngay ven đường

Ngài mừng, Ngài hóa bát hương

Kiệu bay đến tận cổng trường Chu công

Lại bay trở lại công đồng

Nhập vào đám rước để cùng bước đi

Kiệu Bà đến Miếu Vực thì

Ghé vào dâng lễ, rước đi Đình Ngoài

Rước ngày Mồng Chín tháng Hai

Mồng Mười lễ tạ Đình Ngoài, Đình Trong.

Hội làng tôi kể đã xong

Nôm na ghi lại vài dòng xem chung. .

VÔ DANH


Ngoài bài ca trên , bà cụ Nguyễn Hữu Nguyên hơn 84 tuổi, còn nhớ một bài ca do cụ Tư Côi sáng tác cách đây hơn 70 năm. Bài ca này lời văn bình dân nhưng sắc sảo, dí dỏm. Tôi được nghe cụ đọc và ghi lại.


CHUYỆN LÀNG THANH LIỆT


Dân ta vào đám tháng Hai

Nhập tịch hôm mồng Tám không sai rành rành

Dân ta sắm sửa công trình

Nhà vuông đã dựng, cổng đình mới xây

Dù ai đi đến cổng này

Khen rằng cái cổng khéo thay công trình

Qua cổng rồi mới lên đình

Phường tuồng nó hát, tiệc đình cũng hay

Người khen hay, kẻ bảo chẳng hay

Được bữa “tiệc ngốt” hôm nay vì tuồng.

Kẻ không có tiền nhịn đói xem suông

Chen vai thích cánh vì tuồng hôm nay

Đồn rằng mở hội vui thay

Người như bát up đồn nay quan về

Thiên hạ lắm kẻ nên mê

Trẻ con người lớn kéo về cũng đông.

Trong đình mở tiệc hội đồng

Bởi vì hai đạo Sắc Rồng vua phong

Cho nên Quan Lớn có lòng

Sức giấy bẩm tỉnh trước đê cho làng

Rạp chèo bãi vải trông sang

Trông lên hàng thịt thấy hàng cao lâu

Hãy nghe tôi kể trước sau

Xóm nào xóm nấy rót dầu cầm canh

Dân ta lập lệ rành rành

Ai mà ngang trái dứt tình đóng rọ trôi sông

Dân ta phát rẫy phong quang

Từ Ngã Tư sở cho đến đường sang Đại Từ

Ước gì dân được trừ sư (trừ bớt sưu thuế)

Thì kéo hội từ hết cả tháng Hai


Chú thích : trong bài ca do cụ Tư Côi sáng tác, có nhiều câu được các cụ giải thích như sau :

* Tiệc ngốt : chỉ đông người chen nhau nóng đến chết ngốt, nhưng dân châm biếm gọi là dự “ tiệc ngôt”

* Hai đạo sắc Rồng : Năm đó, vua nhà Nguyễn ban sắc phong thần cho Thành Hoàng và Chu Văn An nên làng Thanh Liệt mở hội to.

- Quan Lớn : chỉ Hoàng Trọng Phu thái tử thiếu bảo tổng đốc tỉnh Hà Đông. Ông này có tư tưởng cải lương, đã dùng Thanh Liệt làm điểm chuẩn thực hành các ý đồ của mình.

- Rót dầu cầm canh: những năm xưa, vùng nông thôn chưa có điện thắp sáng, tại các đầu đường làng, ngõ xóm thường dựng cây đèn dầu, dân thôn cắt lượt nhau rót dầu thắp đèn

- Đóng rọ trôi sông : Trong hương ước của làng có khoản răn đe người nào chống lệnh làng sẽ phải “dóng rọ thả trôi sông” nhưng các cụ cho biết làng chưa thi hành luạt này bao giờ.

Các cụ kể cho biết trong hội làng Thanh Liệt có rước Đức Bà đi sau kiệu rước của Chu Văn An và Thành hoàng Phạm Tu . Đức Bà là ai, không có ai biết sự tích, nhưng các cụ lại đọc cho biết một bài ca do các nữ quan vừa khiêng kiệu vừa hát như sau :

Bài ca do cụ Nguyễn thị Nguyên đọc :

Mượn bút để ca giãi tấm lòng.

Tiên hoa một bức vẽ bao xong

Tấm lòng trịnh trọng vì non nước

Mẫu quán quê hương chẳng lấy chồng

Tích rằng Mẫu quán quê hương

Cha con Trịnh chúa là nàng Tiên hoa

Quyền hành đã chán ngôi cha

Mang thân nương tựa ngoại gia để hòng

Trái duyên chẳng chịu lấy chồng.

Ruộng nương ký gửi sự tình mai sau

Trai bàn cúng để dài lâu

Đồng dân phụng sự bấy lâu đến rầy

Lòng tế độ thôn dân sẵn có

Ca một bài để tỏ lòng ta

Thôn dân uyển chuyển đã qua

Bình yên hai chữ thái hòa là đây


Phong tục cưới hỏi ở Thanh Liệt


Cũng như các làng khác tục lệ cưới hỏi ở Thanh Liệt có nhiều điều ràng buộc theo hương ước cũ. Đến đời vua Khải Định các địa phương đều cải lương hương chính, thay đổi hương ước. Đến năm ông Hoàng Trọng Phu làm tổng đốc tỉnh Hà Đông đã trực tiếp thực hiện các điều mơ ước ở Thanh Liệt. Đó là :

-Xây dựng hương ước mới thay thế hương ước cũ.

-Xây dựng các cơ sở vật chất nhà hộ sinh, trường tiểu học Chu Công, nhà nuôi trẻ “ấu trĩ viên”, làm các giếng khoan dùng máy bơm quay tay để bơm nước sinh hoạt

- dùng vật liệu dỡ bỏ của Chợ Hàng Da đem về xây dựng quán chợ dài 12 gian có mái tôn. Căn nhà này để dân họp chợ, đến ngày hội làng dùng làm nơi biểu diễn của các đoàn ca kịch cải lương, tuồng, chèo. Trong nhưng năm 1940- 1950 đã có những đoàn ca kịch danh tiếng Kim Chung, Kim Phụng với các diễn viên vốn là con em làng Thanh Liệt nay đã thành danh như Lệ Thanh, Ngọc Bảo, Kim Xuân, Chu Thúy Quỳnh.

. Tại đây đã xây nên một ngôi nhà gạch cột lim ở ngay nơi ngã ba sông sang Bằng Liệt để làm nơi họp chợ

- xây cầu Quang Bình

Tóm lại, Hoàng Trọng Phu đã xây dựng tại Thanh Liệt một làng kiểu mẫu, ông ta rất hãnh diện về công trình của mình. Người làng kể rằng mỗi khi có khách về Hà Đông “xem kết quả cải lương hương chính” ông ta dều dẫn khách về Thanh Liệt xem làng mới, về Triều Khúc xem làng nghề dệt quai thao và múa bồng


Cưới hỏi :


Tuy làng đã bãi bỏ tục thách cưới, nhưng vẫn giữ lệ nộp cheo. Có phân loại cheo nội và cheo ngoại. Ngày cưới, có ông lão cầm hương dẫn đầu đoàn nhà trai sang nhà gái đón dâu. Vùng Thanh Liệt dùng hương đen loại dài, thường gọi là hương sào. Quanh bó hương sào, các cụ thắt mấy vòng giấy đỏ, nhưng số vòng phải chẵn

Khi nhà trai đến nhà gái, vẫn duy trì tục đóng cửa để bên nhà trai lì xì mấy đồng cho các em, lúc đó trẻ mới mở cửa, không chăng giây chắn ngõ

Tại lễ cưới xưa cô dâu chú rể phải lễ tơ hồng, bàn thờ tổ chức ngay tại sân nhà gái, trước khi đón về nhà trai.

Đến năm 1945, cách mạng xây dựng đời sống mới, đám cưới có đổi khác. Cái khác nhất là cô dâu chú rể không mang trang phục cổ truyền mà mặc theo hình thức mới . Cụ Nguyễn thị Nguyên kể lại : thời đó cô dâu mặc áo cánh, có thắt lưng như một dân quân, quần dài đen, Chú rể cũng mặc giản dị, Hai vợ chồng phải hát trong đám lễ hội, thường thì chú rể hát bài “Chiến sĩ ca” còn cô dâu lại hát “bài ca Hai Bà Trưng” dựa trên nhạc bài ca Hoa Lư Lời hát như sau :

Hai Bà Trưng thấy lòng (là lòng) đau đớn

Xót xa nước Nam điêu tàn

Thờ chồng là cùng giúp nước

Hết sức giữ gìn đất nước

Yếm khăn đánh tan lũ quân tham tàn

Chàng Tô một phen khiếp vía

Phá tan sáu mươi nhăm thành

Đất trời lưu danh.


Tang ma :


Chuyện sống chết trong cuộc đời là lẽ giờ, không ai tránh được. Nên các cụ già ở Thanh Liệt có tục đi hộ phúc. Khi có người tạ thế, không cần ai báo tin, các cụ mặc áo dài nâu. Đến nhà người đã khuất, tụng kinh niệm Phật, theo nhau đi mấy vòng quanh quan tài Họ vừa đi, vừa niệm Phật hiệu, vừa ca những câu ca an ủi, dặn dò người đã khuất.

Xưa kia áo vải chăn cù

Bây giờ áo mã dán hồ Hồn ơi


Sản vật của Thanh Liệt


Làng Quang Liệt ngày xưa có giống vải ngon nổi tiếng, trong tác phẩm Dư Địa Chí, cụ Nguyễn Trãi đã viết “ Xã Quang Liệt có vải ngon hơn vải bên Trung Quốc, các triều vua đều bắt dân cống tiến để tuế thời tế tự “ ( xem DĐC trong Nguyễn Trãi toàn tập, trang 223)

Các cụ già làng kể rằng trước năm 1945 vải có nhiều ở bờ sông,và cả bãi đồng bằng, Khi vải chín, màu quả đỏ cả một giải bên sông. Có câu hát rằng :

Hỡi cô đội nón quai thao

Đi qua Quang Liệt thì vào làng anh

Làng anh Tô Lịch trong xanh

Có nhiều vải nhãn ngon lành em ơi

Ngay trong đình Nội thờ Chu Văn An cũng có câu đối ca ngợi vẻ đẹp của bãi vải :

Đăng quải lệ lâm khai dạ nguyệt

Hương tùy tổ thủy kết tường vân

Nghĩa là :

Đèn treo rừng vải đêm trăng tỏ

Hương ngát sông Tô trụ ánh mây

Cụ Vũ Huyên , cụ Nguyễn Đăng Thưởng cho biết năm xưa có những cây vải được mang tên riêng, trở thành “thương hiệu”, đi vào thi ca :

Vải Quang từng được tiến vua

Thanh Hương, Hoa Dứa chẳng thua đường phèn

Tại bãi vải nhưng năm về trước, mỗi khi chín quả, người ta đến bó quả, bẻ quả ngay dưới gốc câytạo nên một sinh hoạt VHDG vui vẻ.

Nhiều cây vải được giữ giống rất cẩn thận nhưng từ năm 1957, sau CCRĐ đất đai đem chia quả thực, những người chủ mới không biết cách chăm bón giữ gìn nên mất giống vải.

Đến thời HTXNN, bà con Thanh Liệt lại có một đặc sản khác đó là dưa chuột bán tại chợ Quang và phố phường Hà Nội Dưa chuột được trồng tập trung trên các cánh đồng Mả Phiên (thôn Thượng) cây cậy ( thôn Trù Nhĩ) đồng Ban (xóm Bơ) đồng Dinh (thôn Trung) vườn Ái (thôn Văn)

Có câu ca rằng:

Làng Quang dưa , vải khắp đồng

Ngô khoai khắp ruông, nhãn lồng thôn Văn


Chợ Thanh Liệt :


Chưa ai biết chợ Quang (Thanh Liệt) có từ bao giờ, nhưng cái lẽ có sản vật ắt có nơi tiêu thụ, mà theo Nguyễn Trãi thì vải Quang có nhiều và nổi tiếng từ thế kỷ XV, nên chợ Quang có thể lập tù đấy.

Cụ Vũ Huyên kể rằng Trước đây chợ họp ở gốc đa đầu làng, ở đó xây một nhà gạch 8 gian cột nhà bằng lim chắc chắn Người ta họp chợ trong nhà và họp chợ lan cả xuống bờ sông, về sau chính quyền Nam triều (do Hoàng trọng Phu đảm nhiệm) đã dùng vật liệu thừa của chợ Hàng Da để làm một ngôi nhà 12 gian cột sắt, mái tôn, nhà đó rộng rãi nên khi làng mở hội, thường dùng làm nơi đón các đoàn về biểu diễn. Cũng có năm lại dùng nhà đó làm nơi cúng cầu mát

Để phân biệt hai nơi họp chợ, dân Thanh Liệt thường gọi đó là Cầu Gạch và Quán Sắt.

Ông Lân ở xóm Vực kể rằng thời kỳ tạm chiếm, quân Pháp đã cho phá Quán Sắt lấy vật liệu xây bốt (poste) Thế là Quán Sắt mất từ đó. Còn Cầu Gạch thì tồn tại cho đễn khi chính quyền xây trụ sở. Cả một dẫy nhà như trường Chu Công, nhà Hộ Sinh, Cầu Gạch … sản phẩm thời kỳ cải lương đều bị phá, chính quyền mới xây tại bên đường Kim Giang một dẫy 16 kiosque. Đến nay chợ Thanh Liệt kéo dài từ gốc đề trước UBND Xã đến giáp với cổng vào xóm Vực

Trước đây, chợ Thanh Liệt họp một tháng 6 phiên vào các ngày ba,ngày tám (3, 8, 13, 18, 23, 28 ) nổi tiếng là chợ Hàng Tổng. Nhiều người ở các làng đến chợ mua bán như người Kẻ Lủ nang quà bánh xuống bán, người Đình Gừng mang cá tới chợ, người các làng Đa Sĩ, Mậu Lương đến chợ bán dao kéo, lại có người Khê Tang, Khúc Thủy mang vải thâm, vải mộc đến bán

Xưa tại chợ Quang không có các cửa hàng tân dược như bây giờ, nhưng tại chợ lại có các cửa hàng thuốc của cụ lang Chí, cụ lang Hòa, cụ lang Thất, bà lang Bùi. Mỗi vị có một chuyên môn riêng, cùng ra tay tế độ giúp dân nên đều được kính trọng. Nói chung ngày phiên chợ Quang năm xưa có nhiều mặt hàng, nhưng chủ yếu là hàng nông nghiệp, chưa có hàng thương nghiệp công nghiệp như hiện nay

Hỏi các cụ về các món ẩm thực năm xưa, các cụ kể cho biết : Xưa có câu “muốn ăn ngon về chợ Thanh Liệt” Tại đây có hai món ngon :

- Nem Thanh Liệt Nem làm bằng thịt lợn ba chỉ, lấy miếng ngon dúng vào nước sôi cho tái miếng thịt và cứng bì rồi mang thái nhỏ như sợi

Dùng gạo tốt rang thơm nghiền thành bột, đó là thính, trộn với nem, khi ăn có kèm lá sung (để chống nhiễm trùng)

- Món giả cầy : Đung thịt ba chỉ đốt cháy bì, xong đem cạo cho sạch vết cháy, đem thịt thái miếng ướp với riềng, mẻ, nắm tôm trong 1 giờ. Lấy thịt đun nhỏ lửa trong khoảng nửa giờ, rồi múc ra bát .

Năm xưa, ở chợ Thanh Liệt có câu “nem cụ Tu, giả cầy cụ Xén” để ca ngợi hai món ăn của các cụ chế biến


Bề dày văn hóa tại địa phương


Thanh Liệt là một làng cổ, lại có truyền thống văn hóa, rõ ràng là một vùng dịa linh nhân kiệt Dân sở tại ai cũng thuộc câu chuyện cụ Phạm Đô Tu khởi binh đánh quân Lương, ai cũng thuộc câu chuyện thầy Chu Văn An dạy học Niềm tự hào đó, hiển hiển tại 9 cổng làng thông ra đường Kim Giang ngày nay. Ngoài vẻ đẹp kiến trúc, mỗi cổng làng đều có câu đối mang lời hay ý đẹp răn dạy con người.

Xin lần lượt giới thiệu các câu đối có tại các cổng làng Thanh Liệt :

1/ Xóm Thượng : có câu đối

Cự hướng thôn đầu, tiến đạt đều thịnh vượng

Đông thành xóm Thượng khang trang hưởng vinh xương

2/ Xóm Trù Nhĩ : có câu đối chữ Hán,

3/ Xóm Bơ : có câu đối :

Cộng thiếp tường hồng nhà nhạn năm phương cùng vui cảnh

Thỏa lòng dấu ngựa bánh xe ba giáp biểu danh hương

4/ Xóm Nội : có câu đối chữ Hán

5/ Xóm Cầu Tại xóm Cầu có 2 chiếc cổng, câu đối chép được như sau :

Thế sự thăng trầm đa biến cải

Hùng tâm học lý vĩnh thanh nguyên

-

Nghĩa xóm vui hòa sớm tối hoàn thành nhiệm vụ

Tình dân ấm áp chiều hôm trọn vẹn gia đình

6/ Xóm Giữa Có câu đối :

Sống vẹn nghĩa tình cảnh yên vui hạnh phúc

Làm tuân nhân ái đời tốt đẹp vinh quang

7/ Xóm Tràng Có câu đối chưa chép

8/ Xóm Mụ có câu đối :

Xóm ngõ giữ yên đời hạnh phúc

Dân làng phấn khởi sống an khang.

9/ Xóm Vực có câu đối :

Đồng tiến thân tình ấm cúng quê hương gìn mỹ tục

Vực thành trọng nghĩa vui hòa thôn xóm giữ thuần phong

10/ Trong thôn Trung, có một cổng làng tên là Lý Nhân . Tại cổng Lý Nhân có mấy đôi câu đối Hán và Nôm

Diện đối Thanh sơn viễn cận quang minh hàm thụy khí Bằng lâm lục thủy nhàn khan chuyển động dẫn thanh lưu

Thôn Trung mới tô thắm danh hương nhân đạo Nghĩa Đình Lý xưa sáng soi tiết liệt của làng Nhân

Ruộng nghìn mẫu xa, trong nước chẩy non cao trăm vẻ đẹp Cổng ba tầng rộng mở trăng trong gió mát bốn mùa xuân

Dân nghĩa kiệm cần chăm vun đắp gia đình hạnh phúc Lòng nhân trung hiếu quyết dựng xây đất nước phồn vinh.

Tại cuốn thư , có một bài thơ rằng :

Thôn Trung đình Lý dựng Nhâm Thân (1872

Tam giáp xây nêm đặt Lý Nhân

Kiến tạo vọng thờ ngài bản thổ.

TRùng tu tôn kính đức linh thần

Bốn mùa tế lễ tồn kim cổ

Sáu xóm tâm thành nguyện cách tân

Lễ nghĩa khơi nguồn văn hóa mới

Phát huy truyền thống của làng Nhân


Sinh hoạt thơ ca :


Tìm hiểu về sinh hoạt thơ ca, được biết cấc cụ sinh hoạt trong CLB thơ Tô Giang, có nhiều bài thơ ca ngợi cảnh tình quê hương.

Xin giói thiệu bài thơ của ông Nguyễn Đăng Thưởng đã được in trong tập Thơ Thanh Trì do Phòng VHTT huyện Thanh Trì xuất bản :

Mời thăm Thanh Liệt quê tôi

Sử xanh văn hiến sáng ngời ngàn trang

Sông Tô uốn lượn quanh làng

Bên bờ Tô Lịch ngút ngàn vải xưa

Vải Quang từng được tiến vua

Thanh hương, Hoa dứa chẳng thua đường phèn

Dưa chuột đặc sản một miền

Cùi dày, vị ngọt, ruột mềm quả to

Là quê võ tướng Phạm Tu

Bình Lương phù Lý rửa thù non sông

Thôn Văn quê của Chu công

Là nhà học giả nối dòng Nho gia

Mở trường dạy học tại nhà

Lê Quát, (Phạm)Sư Mạnh đều là môn sinh

Danh thơm vang đến triều đình

Vua mời giúp nước, an ninh trong ngoài

Dạy thái tử Vượng hôm mai

Tham gia quốc sự liệu bài an dân

Triều đình có bọn gian thần

Dâng “thất trảm sớ” vua Trần không phê

Từ quan, treo mũ trở về

Chí linh Tiều ẩn sơn khê phượng hoàng

Vịnh thơ thế sự giang san

Cuối năm Canh Tuất thiên đàng đón lên

Môn sinh bẩy xã trong miền

Cùng quê Quiang Liệt dựng nên míếu thờ

Đền công dưỡng dục ấu thơ

Gần đền còn lập miếu thờ Mẫu thân

Danh thơm gắn với sử xanh

Chu Văn An với trường Huỳnh là đây.


Kết luận :


Chúng ta vừa tìm hiểu tình hình làng Thanh Liệt với một thái độ cầu thị, làng Thanh Liệt ngày nay trong cơ chế thị trường đang có nhiều thay đổi. Chợ làng Thanh Liệt không họp theo phiên mà họp hàng ngày, lãnh đạo xã đang có ý muốn xây dựng chợ to hơn , cao hơn nhưng đó là vấn đề nan giải bởi xây chợ rồi dân có đến chợ đông như hiện nay không Sự vội vàng duy ý chí ở một số nơi phá chợ cũ để xât chợ to đã đưa đến kết quả không hay, đó cũng là điều cần rút kinh nghiệm



. . Cập nhật theo nguyên bản của tác giả từ HàNội ngày 14.4.2018.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004