Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





MỘT THỜI ĐI HỌC (2)





      Kính tặng quý thầy cô trường Tiên Long Quận I (Cũ)




Kỷ niệm những năm cuối bậc tiểu học để lại trong tôi rất nhiều điều không thể quên, thầy lớp Nhì theo lên lớp Nhất phụ trách Việt Văn, thêm thầy Kiêm Lữ dạy toán, cả hai thầy lẫn trò đều rất cố gắng dạy và học hết sức để chuẩn bị kỳ thi Tiểu Học đầu đời của học trò nhỏ. Thầy Văn đọc Chánh tả cả giọng Bắc và Nam để chúng tôi làm quen khi ra trường thi gặp vị giám khảo “người miệt ngoài” (chúng tôi thường nói thế), thầy còn đòi hỏi cả lớp phải một trăm phần trăm không lỗi chánh tả mới hài lòng. Thầy hay đọc cho lớp viết đoạn văn “ Về làng Mọi” của nhà văn Lý Văn Sâm (tôi nhớ hình như vậy) trong đó có câu: “Mây trôi trôi vô hạn, nước xuôi xuôi vô định, lòng tôi củng mênh mông như mây và nước lúc bấy giờ” là tôi thích và ghi nhớ nhất. Sáu mươi năm đi qua, không biết câu văn trên tôi viết lại đây có chính xác không, nó đã được in trong quyển “Chánh tả” bán ở Yễm Yễm thư quán của thi sĩ Đông Hồ sáng lập ở góc đường Nguyễn Thái Học nhìn sang đường Trần Hưng Đạo Quận 1 bây giờ. Hồi tưởng lại thời gian sau nầy, khi có dịp đứng trên chuyến phà sang sông về Gò Công thăm mộ một người bạn, nhìn nước chảy mây trôi, tôi lại liên tưởng đến câu văn đầy chất thơ ấy chợt thấy mình cũng đồng tâm trạng với tác giả lúc tãn cư về quê ngoại thời chiến tranh. Từ đấy, tôi cảm thấy yêu văn thơ và có ý nghĩ là trong tương lai sẽ theo học Văn Khoa vì sẽ được đọc sách, thơ văn và điều quan trọng nhất là khoa văn chương sẽ không bao giờ đụng đến toán, mặc dù má tôi có lần nói là “Làm nhà văn, thi sĩ sẽ nghèo và cuộc đời lận đận lắm con à”.

Trường tôi mở lớp Luyện thi Tiểu Học miễn phí cho học trò lớp Nhất vào các buổi tối sau lớp học, chia ra ngày Văn, ngày Toán mà cả thầy trò đều ra sức thi đua rèn luyện để đạt kết quả tốt nhất. Cuối cùng, sau thời gian học tập cật lực, vất vả đối với lứa tuổi 11, 12 của chúng tôi đã thành tựu, đã sinh hoa trái ngọt ngào. Năm đó, Nha Tiểu Học ra quyết định học sinh đúng 11 tuổi theo Khai sinh hoặc trên nữa mới được đi thi. Hú hồn, tôi vừa đúng 11 tuổi tròn. Cả lớp tôi hình như đậu một trăm phần trăm Kỳ thi hết cấp 1 tại Hội Đồng thi là trường Tiểu Học Vĩnh Hội Quận 4. Tôi viết ra đây như một kỷ niệm thời thơ ấu vì ngôi trường nầy cũng không còn nữa vì đã giải tỏa để mở rộng Quận Tư hay sao đó tôi không rõ lắm. Và thế là tên tôi được ghi lên “Bảng Vàng” đặt trước văn phòng Hiệu Trưởng và cũng để cho người dân quanh vùng biết là trường Tư thục có tỷ lệ Học sinh đậu cao, điều đó làm ba má và tôi hãnh diện trong lòng.

Nhưng sau đó, tôi lại không thi vào Đệ Thất. Trường Gia Long, Trưng Vương như các bạn nữ hồi ấy các bạn trai thì nộp đơn thi Pêtrus Ký, Võ Trường Toãn, v.v… mà theo quyết định của ông nội, cắp sách đi học “trường ma sơ” ở Tân Định Quận 3, để được học, trau dồi Pháp và Anh Ngữ. Nhờ vào những giờ Pháp văn tuy ít ỏi ở lớp Nhì trường Việt mà tôi có được kiến thức căn bản để theo học chương trình Pháp trường Thiên Phước. Bản thân ngoài những bài học ở trường bán trú, tôi về phải vùi đầu học thêm từ ngữ, toán, tiếng Pháp, lại một phen cực nhọc, vất vả “chạy ô mồ mắc ô mả” với những “con chữ” lạ hoắc không phải tiếng bản xứ của mình.

Điều mà tôi muốn kể ra là cũng gặp phải “thảm họa Toán”. Chương trình học cũng giống như bên tiếng Việt nhưng các môn đều bằng tiếng Pháp, lý, hóa, sinh vật kể cả Anh Văn cũng giảng bằng tiếng Pháp “phờ răng xe” tất tần tật ráo trọi. Nhưng ơn Chúa mọi ,mọi sự đều qua, lại còn được lãnh prix (phần thưởng) hàng tháng, hàng năm, nhưng… khổ sở nhất cũng là Toán (Mathématique, Algèbre) Hình Học, Đại số với tôi là nỗi sợ triền miên, các môn “quái quỷ” nầy là sự đau khổ to lớn hơn thiên tai, bệnh tật xảy đến cho tôi. Lịch sử lại lập lại, lại tái diễn: giờ Toán là tôi bị “ăn bánh tét nhưn mây” (thành ngữ quen thuộc của thế hệ chúng tôi hồi ấy) các ma sơ cũng đánh đòn dữ lắm, có hôm tôi làm sai bài Đại số trên bảng, sơ giảng đi giảng lại hoài, mà tôi cứ đứng thừ ra không hiểu gì, giận quá ma sơ quất cho tôi mấy cây vào chân đau điếng, mà tôi không dám khóc hay về mét má. Chiều về, lúc đi tắm, má thấy những lằn roi hằn trên chân tôi, má có vẻ xót xa nhưng lặng thinh không nói gì cả. Đến tối, má tôi kêu lại, chỉ nói khẻ: “Con phải ráng học, đừng để bị đòn nữa nghe”. Tôi lặng lẽ gật đầu mà nước mắt tuôn rơi vì tủi thân.

Ở mái trường ấy cũng còn có những ma sơ hiền và thương học trò kém như tôi, các sơ thường chú tâm rèn nữ công nữ hạnh, gia chánh cho các nữ học sinh, cả về luân lý (moral), cách giao thiệp với mọi người ngoài xã hội, cả giáo lý công giáo cho các học trò nữ lương lẫn giáo. Sau này, ở các lớp trên, có những chị lớn rất thành đạt và nổi tiếng ở nhiều lãnh vực, kể cả lứa tuổi của chúng tôi ngày ấy.

Khi hoàn thành xong bậc Trung Học (Certificat) vì hoàn cảnh gia đình, vả lại một phần vì yêu thích tôi vào làm ở một công ty tư nhân với chức vụ thư ký.

Sau khi Miền Nam hoàn toàn giải phóng, tôi đăng ký đi học lại để hoàn tất Tú Tài theo chương trình mới ở lớp Bổ Túc Văn Hóa ban đêm trường Bùi Thị Xuân Quận 1. Ở đây, thầy cô đều rất dễ mến, tận tình giúp đỡ chúng tôi những người lớn tuổi lấy lại cơ bản sau nhiều năm ngưng học tập khi tôi vào lớp 10A, 10B (tương đương 11, 12 của Sài Gòn trước đây).

Các thầy Hoàng dạy Lý, cô Trị dạy Hóa, cô Minh An phụ trách Văn, các cô thầy Toán tôi quên tên đều hết lòng giảng dạy, hy sinh giờ giấc sinh hoạt bản thân và gia đình để đến lớp Bổ Túc ban đêm của các học sinh lớn tuổi vừa học vừa làm như đa số chúng tôi lúc đó.

Vẫn phải trở lại những giờ Toán kinh khủng khiếp, thêm cái môn “Hình Học không gian” phải vận dụng trí tưởng tượng nữa mới “chết cửa tứ” lại phải nhờ các bạn học giỏi hơn giải lại các bài học hóc búa. Và kế tiếp là những Kỳ thi trắc trỡ, gian nan đối với bản thân tôi như “cá phải vượt vũ môn” vậy. Rồi đến cuối, cũng hoàn thành cấp 3 (theo tên gọi lúc ấy). Thế là thở phào nhẹ nhỏm như trút được cái “gánh học tập” nặng nề. Cho đến khi tôi ghi danh học Khoa Ngữ Văn Đại Học tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh và theo học hơn năm năm trời cũng “trần ai khoai củ” lắm vì cũng phải vừa làm việc vừa tranh thủ đến giảng đường sáng thứ năm chiều thứ bảy mong đạt được ý nguyện ngày thơ ấu là đậu bằng “Cử nhân Ngữ Văn”. Đó cũng nhờ vào công lao giảng dạy của quý thầy Hoàng Như Mai, Lê Đình Kỵ, Lê Trí Viễn, Trần Chút …ở Khoa Văn+Ngôn Ngữ, đã hết lòng truyền dạy cho chúng tôi. Ngày nay, có những vị đã đi xa nhưng chúng tôi không bao giờ quên ơn các thầy ấy.

Quá trình học tập từ thơ ấu của thế hệ chúng tôi ở thế kỷ 20 trước đây là như thế. Các thầy cô của chúng tôi như những người đưa đò đã đặt hết tình thương lẫn tâm huyết để luyện rèn, truyền tải kiến thức xây dựng những con người hoàn thiện, những công dân tốt cho đất nước mà không hề vì cá nhân mình và quyền lợi riêng tư . Chúng tôi những đứa trò nhỏ ngày đó luôn vâng lời cha mẹ, thầy cô dạy bảo, nếu có lầm lỗi gì mà bị thầy cô trách phạt thì cũng phải nghe theo, không hề phiền giận, vì người xưa có câu “Thương cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi” chắc hiện nay đã lỗi thời rồi, song lớp trẻ của chúng tôi ngày ấy đã yêu quý thầy cô và hành xử như thế. Các thầy cô xưa vẫn mãi là tấm gương sáng, sống động mãi trong tâm hồn chúng tôi từ ấy cho đến ngày nay./.



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 08.4.2018.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004