Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới

tranh thủy mạc của Pierre Nava





ĐÔI MẮT THỦY NGUYÊN








PHẦN I : ĐẾN VỚI THỦY NGUYÊN



Chương 1: Duyên Kỳ Ngộ



Đ ứng trên cao điểm 177, dưới bóng chiều tà, tôi thật sự bị choáng ngợp bởi vẻ tuyệt mỹ của khoảnh khắc hoàng hôn, rất ư là lãng mạn, tưởng chừng như mình đang lạc bước thiên thai. Nước nước non non ảo huyền trùng điệp, thuyền lớn thuyền con nghiêng đổ bóng dài. Ôi! Cao điểm chứng nhân lịch sử, qua hai cuộc trường kỳ kháng chiến, vẫn lộng lẫy uy nghi. Nào Hòn Guốc, Hòn Bắn, Hòn Hài, Đảo Khỉ… Tất cả như đang chìm dần vào giấc ngủ, bị thâu tóm hoàn toàn trong tia nhìn như hổ đói của tôi. Quá sảng khoái, trong cảm giác bay bổng đầy mộng mị thiên tiên, tôi hét lên một tiếng sang sảng như chuông, âm vang đơn điệu giữa không gian trầm tịch, tựa chốn bồng lai đang cuốn hút cả tâm hồn : “ Đẹp quá!”.Và tự hỏi có ai đó lúc này, đang cùng ngắm với ta không.Chẳng biết còn nơi nào trên quả đất, có hoàng hôn đẹp thế này chăng? Lấy cuốn sổ tay ra, định ghi lại vài cảm nhận, nhưng tôi bị cứng bút, khi vẻ hoàng hôn dần dần toát lên một nét đẹp huyền bí, kỳ ảo và tôi thấy mình đang chạm cõi tâm linh.

Khi chảo than hồng đỏ rực, gối mặt lên những chóp núi lô nhô trầm uẩn, tự nhiên trong tôi có một cảm giác bồng bềnh man mác, và nghĩ đến những câu thơ điệu nhạc, làm rung động lòng người. Bước đến bên hòn đá nhỏ, cạnh pháo đài thần công, tôi ngồi xuống vừa đàn vừa hát, bài Con Thuyền Không Bến của Đặng Thế Phong, một cách say đắm đầy cảm xúc, khi khoảnh khắc hoàng hôn tuyệt mỹ đã qua đi. Xong đứng dậy vươn vai và tự nói một mình :“ Giờ này có còn ai đồng hành, cùng ta xuống núi không nhỉ?” . Giữa không gian trầm lắng đến độ, tiếng chân con kiến bò đi, tưởng chừng cũng nghe thấy, bỗng phát ra hai tiếng, như từ trời vọng xuống: “Có đấy!”

Tôi sửng sốt ngó quanh, làm mái tóc lòa xòa rối tung, bởi hơi thở đều đều của Mẹ biển sắp vào đêm, phả vào người mát lạnh, và chợt nhìn ra một hình nhân mặc áo chàm, với chòm râu bạc thấp thoáng, lờ mờ bên cây cối lúc chập choạng, làm tôi ngỡ ngàng như gặp phải tiên nhân: “Con chào cụ! Chẳng hay cụ về hướng nào ạ!” . Bước dần đến bên tôi, cụ vừa cười vừa nói “ Lão về thị trấn, còn anh về đâu?”. Tôi kính cẩn thưa: “ Dạ! con cũng vậy”

Một chuyến du xuân giữa điệp trùng non nước, chẳng biết duyên từ kiếp trước hay không.Tôi gặp cụ trông như hai kẻ phải lòng, cùng xuống núi thong dong, khi chiều tím Hải Phòng dần khoác áo đầu hôm.Vẫn bên tôi phấp phới áo màu chàm, một già một trẻ, thân nhau gần như trong chốc lát. Đêm thị trấn Cát Bà! Tôi với cụ như hai người khách lạc, giữa xô bồ dân đánh bắt tứ phương, đang lên bờ vui chơi thả cửa. Khi bình rượu Tây Môn Khánh nặng đáo để, mà tôi rất khoái khẩu dần vơi, nhìn bến Cát lung linh ánh đèn thuyền bè, hắt bóng ảo huyền bàng bạc trên mặt nước, cụ mới nói rằng cụ ở Thủy Nguyên, bên Tràng Kênh Minh Đức. Đã bao năm xuôi Nam ngược Bắc, nhưng chưa bao giờ đặt chân lên mảnh đất, có con sông Bạch Đằng lịch sử vẻ vang này. Nghe cụ nói tôi như mở cờ trong bụng “ Ồ! Nếu không chê con chừng nào cụ về cho con theo với!” .Tôi nhìn cụ, cụ nhìn tôi, đôi bạn mới nhìn nhau giữa đêm xuân, nơi Cát Bà thơ mộng, qua ánh mắt dường quen thân tự rất lâu rồi. Đặt ly rượu xuống bàn cụ chậm rãi: “Nếu già này đoán không nhầm, thì anh là một lãng tử lang bạt kỳ hồ, quen ăn cơm góp tứ phương có phải không nào”. Tôi mỉm cười xấu hổ : “ Dạ phải” rồi lặng im chờ câu trả lời. Nhấp một ngụm rượu, khè ra một tiếng nhè nhẹ, cụ tâm sự: “ Lão là con cháu họ Trần, sống lâu đời ở quần thể Tràng Kênh Minh Đức, thân sinh của lão làm quan dưới thời Khải Định chẳng mấy năm, ông trả ấn từ quan, về vui thú điền viên giữa núi rừng heo hút. Khi lão lớn lên.Ồ! Thời thế, thế thời nhiễu nhương loạn lạc, đành bỏ dạy chữ thánh hiền, vui qua cây bút chiếc đàn, cái đục sống bên cha. Thời kháng chiến cũng chung tay góp sức ở hậu phương, cùng cả nước đánh giặc, khi non nước thanh bình, qua tuổi trung niên rồi, ngoảnh lại nhìn, héo hắt mộng tiêu dao. Vì kinh tế khó khăn, vả lại chẳng có bà con chi trong đó. nên không có điều kiện vào thăm thú, thưởng ngoạn đất phương Nam, cùng miền Trung Việt. Máu giang hồ sục sôi giờ lắng xuống, già rồi quanh quẩn ở đây thôi.Lão rất hiểu cái hiếu kỳ háo hức khám phá, chiêm ngưỡng những điều mới lạ độc đáo của anh. Thôi được! Nếu muốn theo lão thì mai đến quán trọ, cùng đi Hải Phòng ghé thăm ông bạn già ở gần ngã ba Thượng Lý, tâm sự một đêm rồi về có được không?”. Tôi sung sướng nói lời cám ơn và hỏi: “ Sao cụ tin con!”. Cụ nói: “ Lão tin vào trực giác của mình”

Suốt đêm ở thành phố Hải Phòng, tôi không ngủ được. Hết ngồi lại nằm, nghe hai cụ già luận chuyện cổ kim. Nên khi bước lên xe, về Tràng Kênh Minh Đức, vừa an tọa, tôi đã ngủ li bì chẳng biết trời trăng. Chợt nhận ra có người vỗ vỗ vào vai, tôi mở mắt ngơ ngác rồi bước ra khỏi xe. Như một người vừa thoát ra, lại trở vào cơn mộng mị, tôi đưa mắt ngỡ ngàng nhìn khắp xung quanh. Nơi nào đây mà như bồng lai tiên cảnh? Nơi nào đây mà non nước đẹp như tranh? Chẳng phải Hạ Long, càng không phải Lan Hạ! Vậy đây là nơi nào trên trần thế, mà tuyệt mỹ dường kia. Ồ! Núi nào kia! Mà mơn mởn tươi non giữa ngày xuân ấm áp, sông nào kia mà dòng chảy lơ thơ, hai bên cây cối mọc xanh rì. Quá cảm kích và phấn chấn, tôi vỗ một cái vào cây đàn đang cầm trên tay, làm nó rung lên nhiều cung bậc, nghe rộn ràng cảm xúc.

Dường hiểu được tâm trạng của tôi, cụ Trần giảng giải: “Dòng sông anh đang ngắm là sông Rừng, còn gọi là Bạch Đằng giang huyền thoại, nơi ghi lại nhiều chiến công, hiển hách lẫy lừng trong lịch sử. Và ngọn núi cao đó, là núi U Bò, nơi Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn từng đặt bản doanh, quan sát chỉ huy trận thủy chiến oai hùng vĩ đại. Còn kia là núi Con Rùa, núi Hoàng Tôn nằm bao bọc, chở che cho Tràng Kênh Minh Đức. Thôi! Giờ về nhà tắm rửa nghỉ ngơi cái đã, chiều hãy tham quan thưởng ngoạn sau.

Nhà ông là một cửa tiệm đồ mỹ nghệ và tạc bia mộ. Bước vào trong, tôi thấy có vài người thợ đang làm. Vừa tìm chỗ treo cây đàn, và bỏ túi xách xuống, chợt nghe tiếng reo mừng từ sau nhà: “Ông Nội đã về! Hihi! Vậy mà con cứ tưởng, chí ít cũng vài hôm nữa Nội mới về cơ chứ”. Tôi ngoảnh lại nhìn, và cái thằng tôi lãng mạn đa tình, trố mắt nhìn không chớp, đứng sững sờ bất động, như pho tượng đằng kia.

Người con gái có làn da trắng toát, mịn màng hơi ngả xanh, vẻ huyền bí như người trong mộ địa, vận bộ bà ba đen, cùng chiếc khăn đen trùm kín mặt. Nàng cũng nhìn tôi sững sốt, làm rơi con dao nhỏ, đang cầm ở trên tay. Gần một phút lớ ngớ trôi qua, nàng từ từ kéo khăn che mặt xuống, khẽ gật đầu chào. Tôi nghiêng mình chào lại, và ngỡ ngàng nhìn môi mắt thôn trinh, người cứng đơ như bị hớp hồn. Đúng lúc đó cụ Trần bước tới, giới thiệu tôi cùng cô cháu: “Đây là anh Lưu, bạn của ông, trong những ngày thưởng ngoạn ở Cát Bà”. Nàng dạ một tiếng rồi nhanh nhảu đi làm cơm, thỉnh thoảng nhìn tôi, với ánh mắt biết cười quyến rũ …


Chương 2: Thủy Nguyên Quyến Rũ


Đứng trên đỉnh núi U Bò, giữa một chiều xuân, trời không mưa cũng chẳng nắng.Trừ những công trình xây dựng đó đây ra, vạn vật như cùng xanh thắm một màu, thâm trầm dòng sông Giá, như dải lụa mềm, tạo một nét chấm phá thơ mộng, cho bức tranh tổng thể. Và trời nước gặp nhau, khi nhìn những núi non hùng vĩ, nằm soi bóng xuống dòng sông huyền thoại Bạch Đằng giang, rạng ngời trang sử đẹp lung linh. Hèn chi người ta nói, nơi này đẹp như một Hạ Long cạn không sai.Núi tiếp núi trùng trùng điệp điệp, muôn hình vạn trạng mê ly, xanh biếc đến tận trời. Nhìn quanh núi, tôi dường thấy Hưng Đạo Vương nhân từ mưu lược, đang bàn kế sách cùng các quan văn võ, trong đại bản doanh. Nhìn xuống ngã ba sông mênh mông sóng vỗ, tôi dường thấy, cuộc thủy chiến diễn ra đang hồi ác liệt, thuyền đối phương sập bẫy, hỗn loạn tan tác tơi bời, quân giặc chết chìm, phơi xác trắng dòng sông hiển hách, đang khoác vẻ hiền hòa, như dòng sông Giá thơ mộng phía bên kia. Tự cổ, sông núi ở đây như thiên la địa võng, lẫy lừng bốn ngàn năm lịch sử, đánh đuổi bọn xâm lăng. Và tôi nhớ đã đọc đâu đó, lời của Nguyễn Trãi, khi người đặt chân đến mảnh đất này: “Nơi mà các con sông giao lưu sóng nước liền trời, cây cối che bờ, thật là nơi hiểm yếu ở biên cảnh”. Mải mê nhìn ngắm đất trời Tràng Kênh Minh Đức, tôi quên cả người con gái đang nắm tay mình đằm thắm, và quên cả cụ Trần đang ngồi như trái núi ở đằng kia. Hoàng hôn bắt đầu phủ xuống, làm cho non nước càng tĩnh lặng, đẹp diệu vời như bức tranh thủy mặc.Nhìn trời nước mênh mang, khoác áo hôn vàng lãng mạn, phơn phớt chút buồn man mác, hồn lữ thứ bên dòng sông huyền thoại, như bị trời đất nơi đây cuốn hút mất rồi.

Ngày thứ hai! Ba ông cháu đến dâng hương, tại chùa Trúc Lâm Tự, được xây dựng trên một trái núi nhỏ, vô cùng độc đáo.Chùa tuy nhỏ nhưng đậm nét cổ kính trang nghiêm.Vào bên trong có nhiều tượng lớn nhỏ, đẹp thiêng liêng trong không khí cửa thiền. Khi bước ra, nhìn phía trước vẫn thấy dòng sông, ghi bao dấu ấn những trận chiến oai hùng, lẫy lừng khắp chốn thơm đến thiên thu, đang lặng lờ ru giấc ngủ ban trưa ấm áp. Ra ngoài sân, cháu gái cụ Trần liền vội hỏi: “Khi nãy lạy Phật, anh có khấn nguyện gì không?”. Tôi không trả lời mà hỏi lại: “Còn em?”. Nàng bẽn lẽn ửng hồng hai má thỏ thẻ: “Dạ có ạ! Nhưng chẳng bao giờ nói cho anh biết đâu nhé!”. Cụ Trần nhìn trời rồi bảo tôi: “Hôm nay thời tiết thật dễ chịu, giờ lão đưa anh sang phía bên núi Hoàng Tôn, thăm viếng đền thờ Trần Quốc Bảo cho biết. Ngài là cháu nội của vua Trần, đã tử trận khi giúp Trần Khánh Dư, đánh bại tướng giặc Ô Mã Nhi, vào tháng hai năm 1288, trước chiến thắng Bạch Đằng, vang lừng bốn biển năm châu. Ngài được lập đền truy phong thái tử, được suy tôn là Thượng Đẵng Phúc Thần, phong sắc Thành Hoàng làng Tràng Kênh. Sinh thời, ngài được vua giao trọng trách, trấn thủ vùng biển hiểm yếu, đóng quân ở Áng Hồ Áng Lác này. Rất tiếc anh không có duyên đến sớm, vào đầu tháng giêng để dự hội đền”.

Giữa trùng điệp núi non, sống động kỳ ảo, đẹp đến nao lòng, cụ Trần đứng uy nghi bên chân núi Phượng Hoàng, chòm râu bạc phất phơ trước gió, mắt thăm thẳm sáng như sao, mặt hơi ngước lên đầy vẻ tự hào: “Người ta nói Thủy Nguyên như là một quốc gia thu nhỏ, và quần thể nơi này đẹp nhất Thủy Nguyên, anh thấy có đúng không? Là sự kết hợp hài hòa giữa non xanh nước biếc, đạt đến độ hoàn mỹ làm rung động lòng người. Còn đây! Hãy nhìn đi! Lăng mộ có vị thế đắc địa chưa! Theo phong thủy, lăng mộ này nằm ngay chân núi, hai bên có hai cánh của núi Cánh Chim hùng vĩ che chắn. Phía trước mặt là con sông Rừng hùng hồn hiển hách, tạo nên thế “Gối sơn đạp thủy” là thế tốt nhất. Phía sau lưng, dựa vào núi Phượng Hoàng gọi là chủ phong. Tả hữu có “Thanh Long Bạch Hổ” hộ vệ, đứng chầu vào núi, tạo thành tay ngai, người xưa nói là để chặn ác phong tà khí. Sách gọi nơi đây là “Tàng phong đắc thủy”, nên phó tướng Vũ Nạp chọn nơi này, làm đất mai táng mong “táng tiên ấm hậu”, hòng mang lại thịnh vượng ấm no, cho con cháu sau này. Đền được xây dựng từ thời Trần, mới được trùng tu năm ngoái (1994). Tôi bước đến tiền đường, nhìn hai tầng tám mái đao cong, có “Lưỡng long song phụng”, rồi nhìn bao quát mộ phần, đền thờ của ngài, thấy rất xứng đáng là di tích lịch sử cấp quốc gia, với vẻ bề thế quy mô cổ kính, kiến trúc độc đáo, mỹ thuật viên mãn của nó. Đang bước vào hậu cung xem tượng Trần Quốc Bảo như thế nào, chợt nghe cô cháu nội cụ Trần, thỏ thẻ bên tai: “Anh phải ở nhà em lâu đấy nhé! Còn nhiều nơi lắm, em sẽ hướng đạo cho anh”. Khi bước ra ngoài tôi cũng nói nhỏ: “Quan cảnh quê em thật hùng vĩ và thơ mộng”. Vươn vai hít sâu một cái, nhìn sóng Bạch Đằng nhấp nhô, như đưa ta ngược dòng lịch sử, nhìn miền Tràng Kênh trù phú sinh sôi, mà thấy thật đúng là: “những chiến tích xưa chắp cánh cuộc đời nay”.

Trên đường về, tình cờ tôi dẫm phải dưới chân, một mẫu đá nhỏ dẹp, tròn quay thật đẹp mắt. Thấy tôi cúi xuống lượm lên, cụ Trần nói: “Đây chính là mẩu đá trong truyền thuyết xưa kia: “Vào những đêm khuya trăng thanh gió mát, các nàng tiên thường rũ nhau đến ngọn núi này chơi cờ, mải mê quên cả trời sắp sáng. Nên sáng ra vội vã quay về, đánh rơi cả các quân cờ, tím xanh đỏ vàng trắng, trông rất đẹp mắt này xuống núi. Thực ra, từ buổi khai sơn phá thạch, đây là công trường chế tác đá trang sức của người xưa, được các nhà khảo cổ phát hiện, khi khai quật di chỉ Tràng Kênh. Những mẩu quân cờ này, chính là lõi của những vòng đá quý…

Khi trở về, người con trai út của cụ Trần, nhìn tôi với vẻ mặt hơi ác cảm. Nhưng cũng nhờ chú ấy, trông coi việc buôn bán ở cửa tiệm, nên ngày thứ ba, hai ông cháu lại dẫn tôi, lên đường tiến về chùa Mỹ Cụ, còn gọi là Linh Sơn Tự ở xã Chính Mỹ. Là ngôi chùa đứng hàng đầu, trong những danh lam cổ tự ở Thủy Nguyên này. Cụ Trần nói: “Nơi đây từng là điền trang, của Hưng Ninh Vương Tuệ Trung Thượng sĩ Trần Cung. Ngài được Phật hoàng Trần Nhân Tông, tôn là bậc thầy về thiền học. Chùa từng là thiền viện, một đại tùng lâm của Phật giáo. Trong chùa còn lưu giữ nhiều giá trị văn hóa. Tương truyền rằng song thân vua Lê Đại Hành đã đến đây cầu tự, sau đó sanh ra vua. Có nghĩa là chùa phải được xây dựng vào khoảng thế kỷ mười. Anh hãy nhìn xem vẻ cổ kính của năm gian tiền đường và ba gian phật điện thì khắc biết. Trong chùa còn ghi dấu nơi tu hành của nhà thiền học Tuệ Trung Thượng Sĩ, người đã hướng dẫn đức vua Trần Nhân Tông, sáng lập ra thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Ngoài kia, bên những tàn cây cổ thụ, còn lưu lại văn tự cổ nhất, là trụ đá mang niên hiệu Chính Hòa (1680-1705), thời vua Lê Hy Tông. Còn kia là bia đá, chỉ ghi lại quá trình trùng tu tu tạo. Anh hãy nhìn tổng quát đi! Chùa được thiết kế ba tầng cao từ chân núi lên, hai bên có “hổ phụng quy chầu”. Theo phong thủy, chùa nằm theo thế Ngũ Linh “Phụng Long Quy Hổ Tượng”. Ngọn núi phía trước cách vài trăm mét kia là núi Con Hổ, bên trái kia là núi Con Rùa, dãy núi đá xanh sau lưng ôm lấy lưng chùa là núi Rồng Xanh. Phía xa xa kia là Núi Voi, ở huyện An Lão, chầu về giữa chùa. Chỗ chúng ta đang đứng đây, là đầu núi có tên Đầu Phượng, nên dân gian mới gọi rằng “Linh Sơn Núi Phượng”.Dù được trùng tu nhiều lần, nhưng nét đẹp cổ kính vẫn còn nguyên đó. Hãy vào đây! Đây là quả chuông đồng cổ…”.

Tôi bước vào trong, thấy nào tượng Phật lớn bé, bằng đồng bằng gỗ mấy chục pho, trông rất cổ kính trang nghiêm, nhưng vẫn toát ra vẻ đẹp lung linh huyền ảo, lộng lẫy say đắm lòng người. Đặc biệt nhất là tượng Phật A Di Đà, cao trên một với tay, tòa sen rộng gần một sải tay. Nghe nói được tạc luôn từ thân cây gỗ lim, mọc ngay chỗ đó, nên không thể nào xê dịch được. Và cụ Trần nói, chùa Mỹ Cụ là nơi ghi dấu nhiều sự tích, về những nhân vật lịch sử qua các thời Lý Lê Trần. Tương truyền vua Lý Nhân Tông, đã từng dừng chân ở nơi đây. Đi dưới những tán cây thông tùng bách, rậm rạp mát rười rượi, rồi nhìn xuống vườn cây, nào nhãn vải trước chùa, um tùm rợp bóng, tôi thấy mình như đang quay về lại với ngàn xưa.

Tối hôm ấy, cụ Trần ngồi viết thư pháp, với mực tàu đen. Tôi đứng bên nhìn mà chẳng biết gì cả, ngoài những chữ quá quen.Kỹ thuật vận bút của cụ quá điêu luyện, với bút pháp tinh tế, đưa qua lại xuống lên, chấm phết như rồng bay phượng múa.Tôi đứng xem, thỉnh thoảng không khỏi trằm trồ khen ngợi. Thấy tôi chú ý, cụ vừa viết vừa nói các kỹ pháp cho tôi nghe: nào phương bút, liên bút, lộ phong, tàng phong,… là như thế nào, nhưng tôi chẳng lĩnh hội được gì, làm cụ mất cả hứng.

Sáng hôm sau, đang còn ngủ tôi nghe cụ gọi: “Lẹo ơi, lên ông bảo”. Quá đỗi ngạc nhiên, khi một tiểu thư có phong thái dáng dấp yêu kiều, quý phái thanh tao như cháu gái cụ Trần, lại có một cái tên thật xấu xí, khiến tôi phải phì cười đến tỉnh giấc luôn. Cơm nước xong, cụ bảo tôi lấy xe máy đưa cô cháu nội, mang những chữ cụ viết thư pháp hồi hôm ,sang khu đình Kiền Bái, giao cho cụ Thức bạn của cụ, tiện thể thăm thú đình Kiền cho biết. Thì ra đây là ngôi đình cổ nhất của thành phố Hải Phòng, còn bảo lưu nhiều nét kiến trúc đặc sắc, từ thời khởi dựng 1681.Là công trình kiến trúc tiêu biểu của thời Lê, còn lưu dấu ở Hải Phòng.

Mới bước vào tôi đã bị cuốn hút ngay, bởi năm gian tiền đường độc đáo. Gian giữa là khoan thuyền, bốn gian còn lại được trang trí khá thẩm mỹ, và phong phú với nhiều họa tiết cổ: “nào rồng phượng,tia lửa, lưỡi mác, hoa lá cùng những cảnh sinh hoạt dân gian, như rồng nối đuôi nhau, cậu bé ngồi nghêu ngao trên mình trâu, trông thật tự nhiên và sống động. Rồi hình nhiều con thú ngộ nghĩnh, leo trèo trên các vây rồng. Rồi nào thằn lằn, voi, ngựa, lợn đan xen, trông gần gũi lạ thường. Đang vào thăm hai vị Thành Hoàng Ngọc và Bích trong truyền thuyết, đã từng phù vua đánh giặc Nguyên, nên vua Trần đã cho lập đền thờ, và phong thần hiệu cho hai anh em sinh đôi chết trẻ này, thì cô cháu gái cụ Trần bảo rằng: “Anh tranh thủ lai em sang nhà con bạn, ở bên Bảo Hà Vĩnh Bảo. Xe đang bon bon trên quốc lộ Mười, thì cô nói như hét vào tai, bởi sợ tôi không nghe rõ: “Tên em không phải là Lẹo đâu nhé! Lẹo là tên Nội đặt, cho dễ nuôi hồi bé đấy”. Tôi hỏi: “Tên bây giờ thì sao?”. Nàng lại hét: “Bây giờ anh đặt tên cho em đi!”. Tôi nghĩ một lát, rồi nói một cái tên có vẻ sến, nhưng rất hợp với cô bé: “Anh xin đặt tên em là Trầm Hương Lãnh Phụng Hắc Y Mỹ Nhân Trần Tiểu Thư được chưa?”. Cô cười toe toét: “Tên này chỉ dành riêng cho anh gọi em thôi đấy nhé”. Tôi ừ và theo lời cô hướng đạo, chạy vào làng Bảo Hà. Thì ra đây là một làng nghề tạc tượng.Đến nơi tôi chỉ ngồi im lặng, nghe hai cô gái tâm sự thao thao bất tuyệt, nháy mắt bĩu môi, mà sợ về trễ sẽ bị cụ Trần quở trách. Ấy mà nào có về đâu, trên đường đi cô bảo, giờ đưa em cầm tài, em sẽ đưa anh đến thăm đền chợ Giá ở Mỹ Giang, được mệnh danh là ngôi đền đẹp và có tiếng ở Thủy Nguyên ngày xưa đấy nhé! Đến nơi Trần tiểu thư nói: “ Vào đi anh! Người ta nói hồn thiêng trinh nữ Phổ Thị Huyền, đã báo mộng cho vua Lý, tiến cử hai em trai là Phổ Hộ và Phổ Hóa, đánh tan 30 vạn quân Tống đang lăm le bờ cõi, đóng quân tại sông Rừng và An Lâm thị, khi ngài đang ngủ trong chùa Mỹ Cụ”.Thì ra hồn thiêng trinh nữ báo mộng, đời vua Lý Nhân Tông.“ Mỹ Giang hương lửa mãi ngàn năm” là ý trong mấy câu thơ của Lý Nhân Tông, trong tiệc mừng chiến thắng:

Trinh nữ nhất tiêu hồn báo mộng

Mỹ Giang hương hỏa ức niên xuân”

Đền chợ Giá lung linh huyền thoại, hội đủ tứ cận: nhất cận thị, nhị cận giang, tam cận lộ, tứ cận sơn

Ngoài cảm giác đứng trước nơi tôn nghiêm, và rờn rợn khi bước vào nơi nổi tiếng linh thiêng ra, tôi thấy dù hơn 9 thế kỷ qua, nhiều lần trùng tu phục dựng, đền cũng chẳng có gì nổi bật, so với những đền chùa nổi tiếng khác ở Thủy Nguyên. Khi ra ngoài, đứng dưới tán cây bồ đề, nghe nói tuổi đà năm thế kỷ, Trần tiểu thư đến bên tôi: “Hi! Anh có sợ không?Có xin gì cho em không đấy?”Tôi mỉm cười bảo rằng không, nàng vụt chạy ra xa và hỏi “Đố anh em tên gì?” Không cần suy nghĩ tôi trả lời ngay: “ Thủy Nguyên” Trần tiểu thư hét lớn “ Sao anh biết! Không phải, là Thủy Đường, Thủy Đường anh nghe chưa?Là Thủy Nguyên cổ đó.” Tôi cười và cũng hét “ Nghe rồi!” Nàng hét lại “Nghe rồi thì về, ha ha !” Đến lúc này tôi mới thấy mình trẻ con quá, thật không nên tí nào khi đùa vui thế này giữa chốn linh thiêng. Khi về ngang chợ nàng nói: “ Thế là anh biết tất, ba cái nhất ở quê em từ xưa rồi nhé! :

Nhất cao có núi U Bò

Nhất đông chợ Giá nhất to sông Rừng”

Chợ bây giờ chỉ là nơi bán phẩm sản vật như thế này thôi.Còn chưa đến đền Mỹ Giang thờ hai ông em Phổ Hộ Phổ Hóa của bà, bị chìm thuyền sau khi thắng trận trở về nữa. Nhưng thôi! Về muộn kẻo ông lại mắng cho. Về đến nhà, trời đã quá buổi hoàng hôn, Trần tiểu thư lại bị đứt quai dép nữa, ngại thật. Nhìn thấy cụ Trần ngồi trước hiên, mặt đăm đăm mà tôi nghe lành lạnh ở gáy quá. Dắt xe vào,tôi chào kính cẩn nhưng cụ chỉ ừ một tiếng đâu trong cổ họng.

Cơm nước xong chẳng biết làm gì cho cụ vui, tôi bèn lấy giấy mực ra tập viết thư pháp, Thủy Đường lăng xăng chạy tới chạy lui hoài, rõ ngại. Thấy tôi ngồi viết chẳng ra chữ gì, cụ Trần bước đến bên khẽ bảo: “Trước hết phải biết cách cầm bút, phải am hiểu kỹ thuật vận bút. Phải khởi bút như thế nào, thâu bút ra sao. Lúc nào là cán bút được giữ nghiêng, lúc nào là thẳng đứng vuông góc với mặt giấy. Không nắm cơ bản thì anh không thể nào viết được.”

Thế rồi sau đó hàng chục hôm, ngày đi vãn cảnh gần thì có cụ Trần, xa thì chỉ có hai đứa, đêm về hôm nào cụ cũng hướng dẫn tôi viêt thư pháp, giảng giải đủ các kỹ pháp, nào trung phong, thiên phong, án đề, đốn tổn, xoay bút, liên bút. Tập viết nét cơ bản đến nhừ cả tay, mà khi thực hành chẳng chuẩn được chữ nào. Chẳng giấu gì, khi còn học tiểu học, trung học, tôi luôn là trưởng ban bách báo, chữ viết khá đẹp, chắc là do thiếu tập trung, chứ tôi nào tối dạ thế…


Chương 3: Anh Sẽ Là Vua


Hơn hai tuần trôi qua! Tôi được biết hầu hết, các đền chùa đình miếu, lớn nhỏ ở Thủy Nguyên, nhờ ông cháu cụ Trần. Một chiều đang rảo bước, bên bờ Bạch Đằng giang huyền thoại, bỗng cụ Trần nói: “Cát Bà là hòn ngọc Viễn Đông, nghĩ cũng không sai chứ nhỉ? Rất tiếc vừa rồi trên vịnh Lan Hạ, già này chỉ thăm thú vãn cảnh bên ngoài thôi. Nghe nói hang động miền Lan Hạ, còn đặc sắc hơn Hạ Long ở chỗ, nó còn giữ được nguyên dáng vẻ rất hoang sơ”. Tôi trả lời: “Dạ con có ghé vài hang động, so với Sửng Sốt, Bồ Nâu của Vịnh Hạ Long thì đúng vậy ạ! Ở đấy chưa có bàn tay kiến tạo của con người”. Cụ lại hỏi: “Anh định ở đây lâu không? Còn nhiều hang động anh chưa biết nữa đấy”. Tôi buồn buồn: “Dạ không cụ ạ! Con định tuần sau sẽ vào Lạch Bạn Thanh Hóa, đi biển kiếm ít tiền, rồi vào Nhật Lệ Quảng Bình, làm thời gian nữa để đi Phong Nha Kẽ Bàng cho biết”. Cụ rút ví lấy ra một triệu đồng và bảo: “Anh hãy cầm lấy để có cái mà lận lưng. Người như anh đi biển làm công phí lắm, hãy cầm đi chớ ngại, tiền già này có cả khối chẳng phải lo”.Trao qua trả lại tôi dứt khoát không nhận.Chợt thấy mặt cụ tối xuống, buồn thăm thẳm, tôi đành nhận và xin lỗi đã làm cụ mất vui. Cụ thở ra một tiếng rồi nhẹ nhàng bảo: “Già này biết anh là người không coi trọng vật chất, khổ nỗi ở đời, con người ta không có tiền, làm việc gì cũng khó”. Tôi dạ một tiếng, rồi cùng cụ quay bước trở về, mặt trời cũng vừa xuống núi.

Sáng hôm sau, Thủy Đường xin Nội cho phép, đưa tôi đi thăm hang Vua ở Minh Tân. Sau vài giây ngần ngừ, cụ Trần ừ một tiếng nhỏ. Khi chỉ có hai người, cụ Trần nói: “Già này tin anh, nhưng không tin cháu gái của mình, bồng bột bốc đồng nông nổi lắm, anh hiểu chứ?”. Tôi nhìn vào mắt cụ: “Cám ơn cụ đã tin con!”…

Từ xa đã nhìn thấy hình con rồng dũng mãnh uy nghi, tựa bức tường thành của núi Vệ. Bước vào hang, hình ảnh đầu tiên đập vào mắt tôi, là tượng vua Hùng sống động, được tạc bằng đá, với một trình độ nghệ thuật cao rất tinh xảo. Một vũng nước trong mát, phản chiếu hình ảnh những nhũ đá đó đây, rực rỡ lung linh huyền ảo, khiến cho lòng say đắm ngất ngây, xao xuyến chút Hạ Long. Đang xem những cái ngách thông lên trời, sâu xuống dưới đất, rồi bước vào xem cái ngách thông ra phía sau, thì Thủy Đường kéo tôi lại: “Em nghe người ta nói ở đây, ngoài chuyện vua Hùng Vương thứ 18 chọn làm Ly cung, để chống lại quân nước Thục phương Bắc ra, còn có tương truyền một thiên tình sử ngọt ngào lãng mạn, giữa vua Hùng Vương thứ 6, cùng tiểu thư xóm núi Quế Nương, hiền thục đoan trang tài sắc vẹn toàn, khi ngài đánh thắng giặc Ân, ca khúc khải hoàn, dừng chân lại nơi đây, vui yến tiệc cùng dân làng. Nếu là vua, anh có chọn một tiểu thư xóm núi như em không?”. Tôi vừa bước trở ra, vừa nhìn vào mắt nàng bộc bạch: “Anh đã có một vợ hai con rồi, đó là điều không thể”. Thủy Đường đỏ bừng mặt như muốn khóc: “Em chỉ nói nếu anh là vua cơ mà! Hãy trả lời em đi! Không thì em chẳng chịu về đâu”. Nói xong nàng áp mặt vào ngực, tay quàng lấy vai tôi nũng nịu. Chẳng muốn phiền hà rắc rối, tôi đưa tay đỡ nàng đứng thẳng người: “Không những riêng anh, mà bất cứ đức vua nào cũng sẽ chọn em làm hoàng hậu”. Mặt nàng hớn hở, rạng rỡ hẳn lên,tung tăng chạy đến bên tượng vua Hùng: “Có đức vua làm chứng, anh đã nói đó nha! Phải giữ lời đấy”. Xong nàng chạy ù ra phía cửa hang, lấy hai bàn tay đưa lên miệng làm loa: “Anh sẽ là vua” làm tôi nghe như đất trời cùng vọng lại: “Anh sẽ là vua! Anh sẽ là vua!”…


Chương 4: Tạm Biệt Thủy Nguyên


Về đến nhà! Thấy người đàn ông lạ, có vẻ rất trí thức, lớn hơn tôi khoảng chục tuổi, nhìn là biết ngay, con trai cả của cụ Trần. Chẳng biết làm nghề gì, anh này trông cao lớn, và nghiêm khắc hơn cha, qua tia nhìn sắc lạnh. Tôi ngả nón chào lễ phép, anh chưa kịp ừ, Thủy Đường đã bá cổ anh: “Bố! Bố về khi nào? Con định vài hôm nữa, sẽ lên thăm bố mẹ. Hà Nội dạo này còn lạnh lắm không bố?”. Anh vuốt tóc con gái, rồi thơm nhẹ lên trán: “Còn lạnh lắm con. Lâu nay có ôn bài không đấy!”. Thủy Đường nũng nịu: “Còn lâu mà bố, hết mùa xuân rồi con sẽ ôn bài”. Anh mắng yêu: “Lần này trượt nữa, là đừng có mà gọi bố nghe chưa! Bố không chấp nhận con học, bất cứ một trường cao đẳng nào đâu đấy”. Nàng xù miệng: “Dạ! Con biết rồi!”. Đoạn anh nhích ghế mời tôi ngồi: “Tôi đã nghe bố tâm sự nhiều về chú. Giữa cái thời buổi, người ta đổ xô ra kiếm tiền, mà còn có mẫu người như chú thật hiếm đấy.Gia cảnh thế nào? Bố mẹ có khỏe không, mà đi lang thang như thế?”. Tôi chưa kịp trả lời Thủy Đường đã ngắt ngang: “Kìa bố!”. Tôi từ tốn: “Dạ thưa anh! Gia đình em cũng thường thôi ạ! Em đã có một vợ hai con. Vợ em ở nhà bán buôn chăm con nhỏ. Ba mẹ em trẻ hơn cụ nhà anh khoảng mười mấy tuổi, có thằng em út đỡ đần sớm hôm, em mới nhẹ gánh thế này. Chẳng giấu gì anh! Em nghỉ việc nhà nước đã mấy năm rồi, chán cảnh quan trường, vỡ mộng vui thú điền viên, em lang bạt kỳ hồ từ dạo ấy”. Bỗng Thủy Đường nhìn tôi mắt rớm lệ, đứng dậy uể oải đi vào buồng.

Tối hôm ấy tôi nhậu hơi say, vì tửu lượng của anh này, cũng thuộc hàng thượng thặng. Khi anh ấy cùng cụ Trần đã đi nghỉ, tôi lên phòng khách ở trên lầu, nằm trên chiếc trường kỷ chạm trổ rất tinh tế, đánh một giấc say sưa. Chẳng biết trời đã sáng chưa, chợt tôi nghe lạnh lùng hai tiếng: “nghiệp chướng”, mơ hồ mở mắt ra, tôi thấy bóng cụ Trần. Khi định đưa tay vuốt mặt, tôi mới phát hiện tay mình đang bị nắm hờ, và mấy sợi tóc con gái, vướng vào môi nhồn nhột. Khẽ nhõm người dậy, tôi vô cùng ngạc nhiên, khi thấy Thủy Đường ngồi dưới sàn, một tay nắm lấy tay tôi, tay kia cầm chiếc phong bì dán kín, mặt áp vào ngực tôi, vành môi hơi hé mở đang ngủ rất ngon lành. Năm ấy nàng mới mười chín tuổi…

Hai hôm sau, giờ chia tay đã đến, Thủy Đường đi tới đi lui với đôi mắt đỏ hoe, gói ghém hành lý cho tôi, mà lệ ứa lưng tròng. Một lần nữa tôi lại nghe rõ ràng hai tiếng: “nghiệp chướng” phát ra từ đôi môi, đang mím chặt của cụ Trần. Hơi chột dạ, tôi quảy hành trang bước ra chào tạm biệt cụ, rồi mắt hướng ra lộ tìm xe khách. Thật bất ngờ, cụ Trần bước đến với ánh mắt trìu mến, vỗ vào vai tôi: “Khi nào có dịp, anh hãy trở lại thăm già này với cái Lẹo nhé! Dù chỉ mấy mươi ngày, nhưng chắc là, mảnh đất Thủy Nguyên này sẽ nhớ lắm đây”.Tôi cúi đầu dạ một tiếng rồi nặng nề chậm chạp bước đi. Chợt nghe tiếng Thủy Đường: “Lưu! Chờ em với!”. Nàng vội vã xin phép Nội, rồi phóng xe ra đến bên tôi: “Ngồi lên đi anh! Em sẽ đưa anh đến Hải Phòng”. Ngồi phía sau xe, tôi im lìm chẳng nói. Đến một khúc cua, Thủy Đường dừng lại: “Anh hãy cầm tài đi!”. Nàng ngồi ôm lấy tôi như sợ mất một báu vật đang dần tuột khỏi tay: “Anh đi chậm thôi! Và chớ nói một điều gì.Em lạnh lắm”.

Trời hôm ấy nhiều mây, vài hạt mưa xuân lất phất trong gió sớm se se lạnh, những bóng cây bên đường rủ buồn, dường chẳng muốn đón nhận một ngày sang. Mấy chục cây số đường mà sao qua nhanh thế, thoáng chốc trước mắt đã xuất hiện trong tầm nhìn, bến xe Tam Bạc ở ngã ba sông Lấp rồi.

Định bước lên xe, tôi giật mình quay lại, khi Thủy Đường giơ cả hai tay lên vẫy vẫy: “ Nguyễn Lưu!”.Vành môi son đỏ yêu kiều méo xệch, xể xuống như chực khóc. Tôi đáp lại: “Thủy Đường!”. Xong nàng dựng chân chống xe, người như muốn quỵ xuống gọi lớn: “Em!... Em sẽ rất nhớ anh!”. Tôi bước lên xe và vẫy tay nói lớn: “Tạm biệt Thủy Nguyên!”.


Phần II: LAN HẠ MỘNG MƠ


Chương 1: Trở lại Tràng Kênh


Ba năm sau! Giữa mùa hạ 1998 ở Xuân Lộc Đồng Nai. Sau những ngày sáng nắng chiều mưa, là những ngày giông gió đầy trời, mưa thúi đất. Tôi lên tàu về Quảng Ngãi, thăm cha mẹ vợ con, rồi lên đường ra Bắc. Cuối tháng năm rồi, mà phượng vĩ chưa thắp nắng lung linh rực rỡ, chỉ lát đát hồng phơi, trên thành phố hoa phượng đỏ. Đến bến xe Tam Bạc, lật sổ ghi chép ra, tìm số điện thoại tôi gọi về Tràng Kênh. Ở đầu dây bên kia, tiếng cụ Trần mừng rỡ, khi biết tôi đang trên đường về, thăm lại Thủy Nguyên. Vừa đến nhà, cụ liền ôm lấy vai tôi hỏi chào đon đả, xách hộ túi cho tôi, đem vào để ở bên trong. Trời trưa hè nóng nực rít ráy quá. Cụ bảo tôi đi tắm rửa đi, rồi dùng cơm trưa cùng với gia đình. Thằng Út lườm tôi một cái.

Chẳng biết cụ Trần điện báo từ lúc nào, mà trời vừa chạng vạng, Thủy Đường đã bỏ trại hè sinh viên, từ Hà Nội về đây để gặp tôi. Bữa cơm tối được dọn ra, mọi người quây quần bên nhau thật vui vẻ và ấm áp. Bên bình rượu dầm thuốc Bắc, cụ Trần khề khà kể cho tôi nghe, chuyện trên nguồn dưới biển trong những năm qua. Dù tuổi đã quá tám mươi, trông cụ vẫn còn tráng kiện lắm. Cơm nước xong, cùng ra trước hiên hóng gió, từ phía sông Rừng phả vào mát rượi. Được cụ Trần cho phép, Thủy Đường nắm lấy tay tôi, tản bộ đến cuối đường thị trấn, kể tôi nghe chuyện vui buồn của sinh viên, cùng những nỗi niềm, bấy lâu ấp ủ trong lòng. Mới mấy năm thôi, giờ trông nàng đã chững chạc hơn nhiều.

Trăng hạ huyền đã nhô lên tự lúc nào chẳng biết. Tôi đưa mắt nhìn nơi hợp lưu Bạch Đằng giang huyền ảo, mà nghe lòng lữ thứ, cũng thì thầm sóng vỗ mênh mang…mênh mang…

Sáng hôm sau, vì thấm mệt tôi dậy rất muộn. Thủy Đường đang vệ sinh nhà cửa, liền gác việc, đi mua về cho tôi một hộp bánh cuốn. Ăn xong, bước xuống cầu thang, tôi thấy cụ Trần đang chỉ việc cho anh em thợ. Chẳng biết có phải là con cháu mấy mươi đời, của Trần Hưng Đạo hay không, mà thấy cụ có những nét hao hao, giống tượng của Người đây đó quá đi thôi. Tám mấy tuổi rồi lưng vẫn thẳng, đi không cần gậy, râu tóc bạc phơ da dẻ hồng hào như một tiên ông,trong bộ áo dài khăn đóng màu huyết dụ, đôi mắt sáng óng ánh ngời ngời trí huệ, hơi ươn ướt lung linh, phản phất vẻ đa tình. Nhìn thấy tôi, cụ cười thân thiện, mời tôi dùng trà, chuyện vãn đôi câu. Nhìn làn khói trắng cụ rít bay ra, bồng bềnh uốn lượn như mây rồng khói phượng, tôi hiếu kỳ xin được kéo một hơi. Có ngờ đâu! Chỉ một hơi thôi mà tôi say bí tỉ, không thể ngồi được nữa, Thủy Đường phải dìu tôi vào phòng nằm mệt lã, mơ hồ như một giấc chiêm bao. Khi mở mắt ra, thì hoàng hôn đang khoác lên mình sông núi Tràng Kênh, chiếc hoàng y thơ mộng, anh em thợ đã nghỉ ngơi sau bữa cơm chiều. Nhìn vẻ mặt Thủy Đường, tôi thấy có gì như hụt hẫng, có gì như trầm uẩn hoang liêu. Phải chăng tôi đã làm gì nên tội, để buồn trên sóng mắt yêu kiều. Đưa tay sửa nhẹ mái tóc, vuốt cái mặt ươn ướt, tôi nghe thoang thoảng, thơm mùi hương thiếu nữ. Thấy tôi đã tỉnh, cụ Trần cười khanh khách: “Có một lần say như thế để nhớ đời, cũng là điều thú vị đấy. Thôi vào tắm rửa đi rồi ăn cơm tối, chứ từ trưa đã chẳng ăn gì”. Tôi dạ một tiếng, rồi uể oải bước vào buồng tắm. Lòng ái ngại nhìn xô nước nóng, còn bốc hơi nghi ngút, chiếc khăn phong trần được giặt hồi nào, thơm phức bẹn lên trên. Tắm xong bước ra ngoài, với cảm giác nhẹ nhõm thật sảng khoái, chẳng thấy ai, bước ra sau nhà thấy Thủy Đường, đang ngồi trên một gốc cây to, được cưa phẳng làm ghế ở ngoài vườn, ngồi nghe nhạc từ chiếc điện thoại, mà thời ấy tôi chưa sắm nổi cho mình. Bước đến gần, tôi nghe tiếng Khánh Ly đang ca bài: “Rừng xưa đã khép” của Trịnh Công Sơn. Thủy Đường ngước nhìn lên thỏ thẻ: “Chắc là mai em trở lại trường thôi”. Tôi im lặng rút điếu ViNaTaBa, ngậm vắt vẻo trên môi, chần chừ một chút, rồi mồi lên nghe nhờn nhợn, đành vứt điếu thuốc đi, để lại đôi bàn tay hoang, trống trải dư thừa. Nàng tắt điện thoại đứng lên: “Thôi em vào dọn cơm đây! Anh chắc đói lắm rồi”. Biết nói gì đây! Tôi đi hay ở là quyền của tôi, nàng trở lại trường hay không, là tùy nàng quyết định, ai cấm cản được ai. Trong bữa cơm, cụ Trần mời rượu tôi chẳng uống, cứ nghe người nằng nặng sao đâu. Mãi đến khi uống nước tráng miệng, tôi mới tỏ cùng cụ: “Dạ thưa Nội! À quên, dạ thưa cụ!Chuyến này trở lại Thủy Nguyên, nguyện vọng của con là, được đưa cụ đi thăm thú hang động miền Lan Hạ, mà mấy năm trước, cụ bỏ dở lưng chừng chưa đi hết”. Mắt cụ Trần sáng lên, hiển lộ niềm vui rõ rệt: “Được anh quan tâm như thế, lão cảm kích vô cùng. Già rồi, có trai trẻ cùng du sơn ngoạn thủy, còn gì hơn nữa. Thế anh định chừng nào đi?”. Tôi mỉm một nụ cười đầu tiên: “Dạ ngày mai ạ!”. Sống nhiều năm ở đất Bắc, nên từ ngữ và giọng điệu của tôi đều bị lai lai, chẳng thuần Trung nữa, khiến cụ Trần phải thốt: “Người Trung mà nghe anh nói, cứ như là con dân gốc Bắc ấy. Cái Lẹo ngày mai có đi cùng không đấy?”. Suốt bữa cơm, Thủy Đường lặng im không nói, giờ mới lên tiếng: “Dạ cháu không biết nữa ạ!”. Cụ Trần nhìn cô cháu nội hơi soi mói, nở một nụ cười khó hiểu: “Sao lại không biết, thôi già đi nghỉ đây. Mai đi sớm, chứ trễ trời nắng lắm đấy”. Tôi lại móc bao thuốc lá ra, châm lửa rít vài hơi nhè nhẹ, mắt nhìn theo làn khói thuốc mơ màng: “Mai em không đi à!”. Nàng trả lời cộc lốc: “Không!”. Tôi lại hỏi vì sao, nàng liếc nhìn tôi một cái: “Chẳng hiểu vì sao cả, không đi là không đi thế thôi”. Tôi đứng dậy nhìn nàng: “Thôi được! Anh ra ngoài hóng gió một lát đây!”. Nàng cũng đứng dậy: “Em xin đi nghỉ trước ạ!”.

Đêm hè Tràng Kênh, nồng nàn hơi thở của núi sông, lùa vào mát lạnh, mà sao trong tôi, thấy nực nội vô cùng. Khóa cửa lại, bước lên nằm trên chiếc trường kỷ thân quen, lòng trăn trở, suy tư rồi cũng chìm sâu vào giấc ngủ. Quá nửa đêm, đang bồng bềnh giữa đôi bờ hư thực, tôi có cảm giác, hình như ai đang ở bên mình. Mở mắt ra, tôi thấy Thủy Đường đang thả hồn phiêu diêu, ở một cõi xa xôi nào đó, đôi mắt đầy ưu tư, thoáng chút mơ màng. Chỉ được một lúc, tôi lại trầm mình trong giấc ngủ, và mơ thấy cùng nàng bay lên, bay lên trên sông núi đẹp mê hồn, tựa mộng của Thủy Nguyên.

Khi thức dậy, thấy cụ Trần đang nhấm nháp chén trà, bên cái bình độc ẩm, xuống bếp chẳng thấy cơm nước chi, băng qua đường gọi ba tô phở, tôi mới quay về sửa soạn tóc râu. Thủy Đường không cùng ăn sáng, khi tôi và cụ Trần, chuẩn bị khăn gói hành trình, nàng mới gọi theo: “Cho em đi với!”. Quay người lại, chẳng hiểu vì sao tôi nói như ra lệnh: “Ăn sáng xong mới được đi!”. Nàng phụng phịu nuốt vội vàng tô phở, rồi mang cả cái lều xếp dã ngoại, của nước nào chẳng biết đi theo…


Chương 2: Thiên Đường Cát Bà – Lan Hạ


Khi đến Cát Bà, tôi lễ phép thưa: “Nếu cụ chưa từng đến, con xin được phép bắt đầu cuộc hành trình, từ rừng quốc gia, đến ngôi làng cổ Việt Hải, về động Trung Trang, để tiện cho tối về khách sạn ở đây, ngủ được không ạ?”. Cụ đồng ý, tôi vào thị trấn thuê phòng xong, rồi lên đường chinh phục đỉnh Ngự Lâm.

Rừng quốc gia Cát Bà, được Unesco công nhận, là khu dự trữ sinh quyển thế giới. Nơi đây còn giữ nguyên vẹn, vẻ hoang sơ kỳ bí, của một khu rừng già ngàn năm tuổi. Cụ Trần thanh thản hòa mình, trong bản giao hưởng lá reo, nước chảy, chim ca nở nụ cười rạng rỡ. Nhìn rừng Kim Giao trải dài thơ mộng, Thủy Đường nhìn tôi cười trong ánh mắt: “Chẳng biết từng ngắm, cánh rừng hoang dại nên thơ như thế này, anh Lưu đã tặng cho quần thể nơi đây, bài thơ nào chưa nhỉ?”. Tôi cười: “Đã có nhưng chưa hay, em biết không! Loài cây này gắn liền với truyền thuyết, về một mối tình đầy bi kịch, của đôi trai tài gái sắc, bị gia đình nghiêm cấm, ngăn cản, Cuối cùng với tình yêu mãnh liệt, họ quyết định sống chết cùng bên nhau, hóa thân thành cây kim giao, để đời đời bên nhau mãi mãi”.

Với thân thẳng mọc sát nhau, hằng hà sa số đang kỳ ra hoa kết trái, rừng cây quý hiếm này, vẫn không kém phần cuốn hút, dưới nắng hạ lung linh. Hôm ấy tôi như một hướng dẫn viên du lịch, luôn nắm chặt tay cụ Trần, miệng huyên thuyên kể cho cụ nghe, những động thực vật quý hiếm ở đây, mà tôi đã từng nghe, đọc được ngoài rừng kim giao bát ngát, mà thực ra trên đường đi, gặp nhiều cây tôi chẳng biết gọi tên gì.Hihi!

Càng lên cao, đường đi càng khó khăn hiểm trở, sợ cụ Trần mệt, tôi phải dừng chân cho cụ ngắm nghía, núi rừng xung quanh mấy lần, rồi nghỉ giây lát, uống nước mang theo cho lại sức. Bỗng từ đâu mấy chú khỉ nhìn chúng tôi, kêu the thé lên mấy tiếng, rồi nhảy phóc vào rừng. Ở đây họ nhà ve dồi dào sinh lực hay sao, mà ca mãi bài ca muôn thuở, làm xáo động tâm tư cô bé Thủy Đường. Đến đoạn bậc thang dốc, ẩm ướt khó đi lại hẹp nữa, khó khăn lắm tôi mới đưa được cụ Trần, cùng chinh phục đỉnh Ngự Lâm cao 225 mét, một trong những đỉnh núi cao nhất quần đảo Cát Bà. Đứng trên đỉnh Ngự Lâm, cụ Trần vẫn còn sức nở nụ cười chiến thắng. Nhìn khắp xung quanh, như thần dân thiên hạ dưới chân mình, miệng không ngớt trằm trồ vẻ đẹp hoang sơ kỳ vĩ, cùng tiếng gió như bản giao hưởng thần tiên, mà trời đất nguyên khai, ban tặng cho nơi này, cùng với bầu không khí trong lành mát mẻ làm sao.

Đứng trên đỉnh cao, nhìn xuống xung quanh, tất cả đều bị thu nhỏ lại và càng nhích gần hơn trong tầm mắt người chinh phục, khiến ta dễ dàng hòa mình, gần gũi với thiên nhiên và cảm xúc dễ dâng trào.

Chỉ khó đi thôi, chứ đường rừng chẳng mấy khi nắng lọt xuống đầu, nên cả ba người đều chưa đổ mồ hôi. Thỉnh thoảng gặp những cây cổ thụ thật ấn tượng, mà tôi chẳng nhớ tên, nên không giới thiệu với cụ Trần. Có đoạn phần lớn là thảo dược, cây cỏ, tôi cũng im luôn vì mù tịt, chỉ biết là cây thuốc thế thôi, chứ chẳng mấy biết tên, và nó đặc trị những bệnh gì. Đến thung lũng Mé Gợ, nhìn thấy cây đại thọ,không biết đã mấy ngàn năm tuổi hay chưa, cụ Trần bỗng nói: “Anh biết cây gì đây không? Đó là cây sấu cổ thụ đấy, trông tuyệt nhỉ?”.

Đến ao Ếch, chúng tôi dừng chân tạm nghỉ, và ngoạn cảnh xa gần, bên một cái cây nghiêng tàn xuống mặt ao. Gần đó có một cây to, rễ tua tủa như râu, của vị sơn thần trong thần thoại, tỏa bóng vĩ đại trùm khắp một vùng, làm không khí nơi đây mát rượi trong lành, giúp người mau lại sức, tiếp bước qua thung lũng Mây Bầu, để đến với làng chài Việt Hải. Đường ríu rít chim ca, đó đây vài loài hoa e ấp, làm Thủy Đường ngây ngất lâng lâng, ca trọn khúc du hành. Vẫn nắm tay cụ Trần, tôi tâm sự: “Hôm nay con không đưa cụ, đến thăm hang Quân Y tức động Hùng Sơn ở vùng này, vì con thấy nó không hợp với cụ, bởi đã mất đi vẻ hoang sơ đáng quý, chẳng biết có thiếu sót không nữa”. Cụ Trần vui vẻ: “Không sao! Thế này là tốt lắm rồi, già lấy làm hoan hỉ lắm”.

Cuộc hành trình đi bộ, đã trên chục cây số, thấy cụ Trần càng đi càng chậm lại. Biết cụ mỏi mệt rồi, đưa balô cho Thủy Đường, tôi xin phép được cõng cụ. Và phải thúc ép dữ dội lắm, cụ mới chấp nhận. Cõng cụ trên lưng gần hai cây số, mới đến làng Việt Hải, mà tôi vẫn thấy bình thường. Quá tứ tuần mà còn được thế này, thì phong độ quá đi chứ nhỉ? Chắc là nhờ tôi thường xuyên luyện rèn thân thể, dù quảy bước phong trần.

Làng Việt Hải –Một vùng đất hoang sơ, nằm giữa quần thể đảo Cát Bà, được bao bọc bởi núi cao và rừng già, ngôi làng như tách biệt hẳn, với thế giới xô bồ hiện đại. Là ngôi làng đậm nét hoang sơ, và vẻ đẹp quyến rũ nhất mà tôi từng biết đến. Đây đó những mái nhà lá, ẩn hiện dưới những bóng cây xanh, giữa núi non chon von hùng vĩ, những ruộng lúa xanh rờn, tạo cho ngôi làng cổ, nằm riêng biệt giữa biển khơi, có sức cuốn hút lạ kỳ, bởi cảnh và người ở nơi đây, đều hiền lành trong sáng, nguyên thủy hoang sơ, mà ăm ắp tình người. Đi sâu vào một ngôi nhà bên chân núi, thấy có giàn mướp đắng, đôi hàng dưa chuột leo lên những cây choái cao, đang trĩu quả mơn mởn non xanh. Ngoài vườn khá nhiều các loại rau, được chăm bón tốt tươi, phía sau nào gà vịt ngỗng ngan, cùng vài chú heo con, được ngăn cách với vườn rau, bằng hàng rào lưới nghề chài. Bước vào gặp chủ nhà, chắc nhỏ tuổi hơn tôi nhưng hơi sạm. Tôi gật đầu chào, anh nở nụ cười hồn nhiên, như trẻ nít chào lại, rồi lăng xăng đem trà nước lên mời. Không để mất thời gian, tôi tỏ ý muốn nhờ anh, cho ăn một bữa cơm, vì trời đã quá trưa, người quá đói. Anh vui vẻ nhận lời ngay, ra bắt vịt làm thịt liền, theo ý muốn của tôi. Thủy Đường ra vườn hái mướp đắng, dưa chuột rau thơm, còn tôi hái rau diếp cá, cùng những thứ mà mình ưa thích. Bỗng Thủy Đường véo tay tôi: “Anh nhìn kìa! Khiếp thật”. Tôi nhìn theo, và thấy một thiếu nữ, trần truồng như nhộng, đầu phủ chiếc khăn, chắc là vừa mới tắm xong, bình thản bước vào nhà, y như là không có sự hiện diện của chúng tôi.

Đang đói mà được ăn một bữa cơm dân dã, cây nhà lá vườn, vịt gà tự túc, ba chúng tôi người nào cũng vui vẻ, hả hê ăn đầy bụng. Xong bữa, tôi móc ví ra đưa, anh chủ nhà bảo nhiều quá không dám nhận. Tôi bảo rằng coi như, đây là tình cảm chân thành của tôi, và dúi luôn vào túi cho anh. Anh cúi đầu biết ơn, rồi nhiệt tình chỉ lối về bến Cát. Tôi cám ơn anh, và tiếp bước cuộc hành trình.

Được lạc bước hồng hoang, nơi làng quê cổ tích đầy nên thơ lãng mạn, tôi đưa mắt ngắm nhìn khắp núi non, làng mạc trời mây, ở nơi đây một vòng, cho hằn sâu ấn tượng vào ký ức. Để Việt Hải hoang dã nên thơ, sẽ đọng mãi trong tôi, cho đến hết cuộc đời. Thủy Đường bước theo tôi, với giọng đầy ngưỡng mộ: “Quê em cũng có, những làng mạc sâu xa heo hút, nhưng không mang được dáng vẻ đặc trưng nguyên thủy, đầy quyến rũ thế kia, bên những con người chân chất vô tư, không màng danh lợi, xem phú quý như rơm, ở một làng quê nằm giữa biển khơi này”…

Đến thung lũng Trung Trang, đường chiều nghiêng nắng đổ, sắc vàng hoe óng ánh nhuộm lối vào, đàn cò trắng lơ thơ bay về tổ, đi bên cạnh hai người, mà lòng như chạm nỗi cô hiu. Vẫn nắm tay cụ già suốt những hồi đi bộ, mà cảm thấy thân thương, như là Nội của mình. Mà vẫn thấy nỗi buồn nhen đâu đó, không rõ ngọn nguồn, giữa biển núi nguyên sinh. Chẳng hiểu vì sao, hay là tâm hồn tôi mỏi mệt, giữa chiều buông xuống thung lũng Trung Trang, rộng lớn nhất Cát Bà này. Bỗng nghe Thủy Đường thốt lên, khi nhìn rừng Kim Giao nhuộm bóng chiều tà: “Lãng mạn quá!”. Tôi lấy lại bình thường, nắm chặt tay ông bước vào cửa động,, sừng sững những khối đá, như chạm trổ điêu khắc rất công phu. Nhìn những tảng thạch nhũ sắc cạnh, óng ánh lung linh, cụ Trần há hốc: “Chẳng khác nào cửa kho tàng, ngọc ngà châu báu được mở ra. Đúng là tuyệt tác của hóa công”. Thủy Đường ngẩn ngơ, mơ mộng lắng nghe: “Em nghe có tiếng nước chảy. Ở đâu vậy anh?”. Tôi cười: “Nó chảy ngầm, trong những lớp đá vôi đó em à!”. Cụ Trần ngắm mãi, những nhũ đá thiên hình vạn trạng, sáng lung linh huyền ảo, với vẻ đầy tiên phong đạo cốt, giữa hang động kỳ bí hoang sơ, khiến tôi ngỡ mình như lạc bước bồng lai, với cõi lòng nhẹ tênh, thanh thản vô cùng. Đi sâu vào trong nữa, đến bên hàng chục phiến đá, đứng song song như có sự sắp xếp, của bàn tay con người, tôi nói với cụ: “Đây là chiếc đàn đá, của hóa công ban tặng cho chúng ta! Cụ hãy đàn đi!”. Cụ Trần lấy ống điếu gõ vào mấy cái, làm nó ngân vang ong ong khắp vùng hang động. Bên cạnh tiếng đàn kỳ diệu, tiếng róc rách của nước, còn có những âm thanh lạ lẫm vo vo, hợp thành một khúc hòa tấu hỗn tạp ma mị, khơi gợi hiếu kỳ, khiến Thủy Đường cũng bắt chước, đưa tay gõ vào mấy cái rồi hi hi ha ha, âm thanh ngân vọng, làm tôi cũng hứng thú vô cùng.

Khi bước ra về, cụ Trần nói: “Nhìn chung động không đẹp hoành tráng phong phú, bằng “Thiên cung” hay “Sửng sốt” của Hạ Long. Nhưng lão thích nét nguyên thủy, hoang sơ tĩnh mịch ở nơi này”. Tôi dạ một tiếng trên đường về thị trấn, dưới màn đêm buông xuống nặng nề.

Nhìn bến Cát ngời ngời ánh sáng, những bóng điện lớn, nhỏ từ thuyền lớn, thuyền con, xuồng hàng, hắt ánh bạc như gương xuống mặt nước, đây đó những tiếng gọi đò ơi, hàng ơi khiến Thủy Đường thích thú: “Ở đây về đêm nhộn nhịp, vui quá anh nhỉ?”. Tôi chỉ ừ gọn lỏn một tiếng, rồi về khách sạn tắm rửa ăn uống, lên giường nằm ngả lưng thư giãn, sau một ngày đi bộ hơi nhiều. Cụ Trần mới uống trà hút thuốc đó, mà đã ngáy khò khò, chắc là do mỏi mệt. Đang thiu thiu chứ chưa ngủ hẳn, bị Thủy Đường đến lay lay: “Anh ơi! Dậy đi! Em không ngủ được. Hãy đưa em ra ngoài bến dạo chơi đi! Em muốn biết bãi tắm Cát Cò! Tụi bạn em bảo ở đấy thơ mộng lắm”. Ôi! Giờ này mà còn muốn dạo chơi ư? Thích thì chìu cho thời sinh viên đầy mộng mơ, thêm một chút gì để nhớ. Trước khi đi, tôi cẩn trọng viết đôi chữ, đặt vào tay cụ Trần đang say giấc.

Đứng trên bờ, tôi gọi đò ơi! Liền có một chiếc đò trờ tới: “Bác đi đâu ạ!”. Tôi nói: “Hãy đưa anh ra bãi tắm Cát Cò”. Người lái đò tỏ vẻ ngạc nhiên: “Giờ này không còn ai ở đấy đâu. Vả lại…”. Tôi vội cắt: “Hiểu rồi! Anh sẽ trả gấp đôi tiền công cho chú. Anh là người từng sống nhiều năm ở đây mà”. Đến nơi! Nhìn bãi tắm Cát Cò 1 nhộn nhịp xôn xao đang chìm trong giấc ngủ. Thủy Đường háo hức muốn xuống liền, nhưng tôi bảo nàng hãy ngắm nhìn đi, rồi ra hiệu cho người lái đò, đi tiếp qua Cát Cò 2, vì vào năm ấy, người ta chưa bắc chiếc cầu, nối giữa Cát Cò 1 và Cát Cò 2 như bây giờ.

Bước trên bãi cát mịn màng mát lạnh, giữa trời đất nước non, ảo mờ trong sương khói. Dưới ánh sáng nhờ nhờ, của vầng trăng hạ tuần sắp nhô lên, sóng dập dềnh dưới bóng chiếc thuyền con, đã hạ neo lã chã, Thủy Đường buột miệng kêu lên: “Tuyệt quá anh ơi! Đời em chưa có lấy một lần, được du sơn ngoạn thủy như thế này!”. Người lái đò ý tứ, bước về nơi cuối bãi ngồi hút thuốc. Thủy Đường ngả lưng nằm dài trên cát, tận hưởng ngọn gió biển đêm phả vào mát lạnh, mặn mà hơi ươn ướt giữa canh khuya. Hai mắt nàng nhắm lại, như đang chén say sưa, cái cảm giác tuyệt vời, và khấp khởi đợi chờ một điều chi sắp sửa. Dù đã đến nơi đây mấy chục lần, nhưng đây cũng là lần đầu tiên, tôi đến với bãi tắm này, vào giữa khuya im vắng. Toàn cảnh bãi tắm, toát lên một vẻ thần bí, huyền ảo đầy mê hoặc, khiến hồn tôi giữa đôi bờ hư thực, như đang sống những giây phút thiên tiên, trong diệu kỳ hư huyễn đầy thơ mộng.

Bỏ nắm cát mịn màng trên tay xuống, kéo lấy tôi Thủy Đường ngần ngại hỏi: “Giữa trời đất tựa cõi nguyên sơ, lãng mạn thế này, anh chẳng động lòng sao!”. Tôi nhẹ nhàng: “Có chứ”. Nàng thỏ thẻ: “Có mà sao anh chẳng hôn em đi! Hay nhan sắc của em, không đủ sức quyến rũ, một kẻ phong trần lãng tử như anh hả”. Tôi ôn tồn: “Không phải đâu em! Làm như thế anh cảm thấy có lỗi, với vợ anh vàNội đáng kính của em”. Nàng gắt: “Anh chẳng muốn hôn em!”. Tôi vỗ về: “Không phải! Anh trân trọng tình cảm giữa hai ta”. Thủy Đường giãy nãy trông thật hung hăng, rồi sà vào lòng tôi tức tưởi: “Em không cần cái trân trọng đáng ghét của anh. Ở trường biết bao người lịch lãm đeo đuổi, đề cập chuyện tương lai, mà em chẳng thích lấy một người. Vì ai? Vì ai thế! Anh chẳng biết sao. Không lẽ một người sống rày đây mai đó như anh, chẳng có lấy một mối tình vụng trộm nào sao hử?”. Tôi trả lời: “Có chứ! Nhưng anh cảm thấy việc làm của mình, không hợp với đạo lý, nên gạt bỏ chuyện ấy từ lâu. Về thôi em! Kẻo Nội lo lắng, và người đưa đò, đợi chờ lâu không tiện”. Nàng ấm ức: “Nội ngủ rồi, còn người đưa đò, anh đưa thêm cho người ta một ít là được, chứ có gì phải ngại. Em không về, em muốn ở lại đây”. Tôi hơi bực bội: “Ở lại đây mà lớn tiếng, làm kinh động đất trời tựa mộng, đánh mất những giây phút thiêng liêng hòa hợp hiếm có, giữa con người và gió trăng non nước hữu tình, diệu huyền an tĩnh cõi tâm linh”. Nàng dỗi: “Tại anh tất! Giờ hãy xem em như tiên nữ giáng trần, xuống tình tự cùng anh, là người phàm nơi hạ giới đi!”. Tôi cười: “Anh đã xem như thế, từ lúc đến đây rồi. Được chưa nàng tiên nhỏng nhẻo!”. Nàng cười nhẹ nhõm, hít hít mũi mấy cái, nhìn sang bóng con đò, giờ này trông bé bỏng nên thơ, vương nét buồn man mác: “Thôi được! Em chẳng làm khó anh nữa đâu. Cám ơn anh đã cho em, những giây phút lãng mạn khó quên, đối với đời một người con gái”. Hai đứa cùng đứng lên, bỗng Thủy Đường ôm ghì lấy tôi, hỏi một câu khó xử: “Anh có yêu em không?”. Chẳng biết trả lời sao, tôi cứng miệng ngậm tăm, mắt ái ngại nhìn nàng, đang dần buông lỏng chiếc vòng ôm. Phía trời đông vầng trăng khuyết dần lên cao, tỏa ánh sáng lạnh lẻo, trùm lên bãi tắm hoang vu huyền ảo, một màu lưu luyến khó phai…

Sáng hôm sau còn mê ngủ, đã bị Thủy Đường gọi dậy. Nhìn thấy cụ Trần ngồi uống trà, với vẻ an nhiên thư thái, tôi vệ sinh xong liền vội đến: “Dạ thưa cụ! Đêm qua…”. Cụ Trần cắt ngang: “Không có gì chứ?”. Thủy Đường từ phía sau nói với lên: “Chỉ đi dạo thôi chứ có gì đâu Nội!”. Rồi chạy lên bá cổNội nói nhỏ: “Con “muốn gì” mà không được đó Nội! He he!”. Làm cụ Trần phải phì cười: “Tổ bố nhà cô! Đừng có mà hư”.

Ăn sáng xong, tôi bèn thưa với cụ: “Bến Bèo làng chài Cái Bèo chắc cụ biết rồi, nhưng con muốn đến đó, cho em nó biết luôn thể, rồi hãy đi Nam Cát, đảo Khỉ, ra thẳng làng chài cửa Vạn rồi quay về. Nếu còn thời gian, sẽ thăm thú vài nơi khác nữa ạ!”.

Đến bến Bèo, nhìn quanh gần bờ, thấy một chiếc thuyền câu chắc vừa làm nước, sơn sửa mới toanh, tầm máy F10 thì phải. Tôi bước đến thấy chủ thuyền, đang loai hoai dọn dẹp phía sau lái, bèn gọi anh lên đặt vấn đề: “Nếu chưa đi biển, anh có thể giúp tôi vài hôm, đưa ông cháu dạo quanh vịnh Lan Hạ - Cát Bà được không ạ! Vì tôi muốn đi riêng lẻ, nên không thích đi tàu du lịch, anh làm ơn giúp cho”. Anh ngần ngừ rồi hỏi: “Ở lại đêm ngoài vịnh luôn ư?”. Tôi gật đầu, anh gải gải cái cổ đen nhẻm định ra giá: “Ở lại ngoài biển thì khác đấy nhé! Chí ít cũng phải…”. Tôi cắt ngang: “Anh yên tâm! Tôi sẽ trả cho anh, hơn hai ngày lênh đênh câu ngoài biển, được chưa? Thôi! Hãy lo làm những thủ tục cần thiết rồi mình đi. Nhớ dặn dò vợ con, là tối anh không về nhé! Ha ha!”. Anh chủ thuyền cười vui vẻ, rồi kéo dây cho thuyền sát vào bờ, cùng tôi giúp cụ Trần, và Thủy Đường lên thuyền ngồi đợi.

Nắng thủy tinh lung linh, bắt đầu rực rỡ giữa một sáng hạ, tôi và cụ Trần đứng trước mũi thuyền chuyện vãn. Thủy Đường nằm trong cabin bé tí xíu, ló đầu ra thích thú, ngắm nhìn phong cảnh, ánh mắt trong veo đầy háo hức hiếu kỳ. Thuyền đi chầm chậm trong thung lũng, giữa núi non hùng vĩ, làng chài Cái Bèo khoác lên mình, một vẻ cổ tích hoang liêu. Ra đứng bên tôi được một lúc, Thủy Đường mới hỏi: “Làng trông ngộ quá anh nhỉ? Kìa! Đứa bé bơi xuồng giỏi quá”. Tôi vuốt nhẹ mái tóc bồng bềnh trước gió mỉm cười: “Chúng nó quen với sóng nước, từ trong trứng mà em! Đây là làng chài nổi cổ nhất, và quy mô nhất ở nước ta, đã có từ thời tiền sử đó em ạ! Theo anh được biết, Cái Bèo là một di chỉ khảo cổ giá trị nhất, ở vùng ven biển và hải đảo Đông Bắc này, Vào năm 1986, người ta khai quật lần thứ 3, tìm thấy gần 180 công cụ bằng đá, cùng những mảnh gốm cứng mỏng thô dày, và những di cốt của cá biển, thú…điều đó minh chứng được rằng, đây là nơi cư trú, của nhiều ngư dân từ thời tiền sử. Nghe nói cổ nhất, là cách đây 7000 năm lận đó em!”. Thủy Đường lè lưỡi, quay sang phía chủ thuyền tôi nói: “Để tiết kiệm thời gian, giờ mình đi chầm chậm, ngắm lướt qua vịnh Lan Hạ, đến đảo Nam Cát ngoạn cảnh, ăn trưa luôn anh nhé!”.

Đôi tay trần của Thủy Đường, bắt đầu ửng đỏ lên dưới nắng hạ, cùng hơi nước mặn của gió biển, vẫn say sưa ngắm nhìn, đóa hoa lan của trời nơi hạ giới. Mãi cho đến khi thuyền cập bến buông neo, bỗng Thủy Đường đỏ mặt: “Mấy ông Tây kỳ quá”. Tôi nhìn theo và thấy vài cặp ngoại quốc đang tắm nắng, họ nằm nghịch nhau trên bãi cát thoai thoải đằng kia: “Giữa trưa mà sao họ vẫn tắm nhỉ? Thôi kệ họ đi”. Bước trên đảo, nhìn ngắm xung quanh, cụ Trần nom có vẻ đắc ý: “Rừng biển bao bọc, nước non cùng xanh mướt một màu, vùng biển này mang đậm nét hoang sơ nhỉ?”. Tôi họa theo: “Dạ! Người ta bảo đây là điểm đến lý tưởng, trên vịnh Lan Hạ thật không sai cụ nhỉ?”. Cụ lại tiếp: “Một bức tranh sơn thủy hữu tình, điển hình cho Lan Hạ. Được nghỉ ngơi nhìn ngắm nơi này, thật không uổng chuyến đi”. Với vẻ mặt đầy mãn nguyện, cụ ngồi nhắm mắt, nghe tiếng sóng thì thầm, gió hát chim ca, giữa trưa hè Nam Cát, dường quên hết, những ưu phiền bề bộn chốn nhân gian, qua vành môi hé mở, một nụ cười thanh thoát.

Ngồi nghỉ trong chòi lá một lát, tôi bảo anh lái thuyền: “Anh lên lựa đầy đủ những hải sản tươi ngon, rồi nhờ họ làm cơm cho bốn người ăn nhé! Khi nãy họ hỏi mà tôi chưa trả lời”. Thủy Đường xen vào: “Cho em theo chọn nữa!”. Khi quay lại, Thủy Đường đưa mắt ngắm thiên nhiên bốn bề, rồi nhìn nước biếc non xanh, cát trắng ở những bãi cát nhỏ trên đảo, suối tóc dài tung bay, bồng bềnh trong nắng gió, nàng tỏ vẻ rất hài lòng: “Thật quyến rũ và ấn tượng. Đúng là trạm dừng chân lý tưởng anh nhỉ?”. Tôi ừ và nói: “Theo anh được biết, ở đây còn có những hang nước ngầm xuyên núi. Nếu dùng xuồng luồng lách, đi trong cụm đảo Nam Cát này, cũng thú lắm em! Rất tiếc thời gian không cho phép”.

Cơm nước nghỉ ngơi xong, Thủy Đường bảo rằng em muốn, được tắm một lần ở đây làm kỷ niệm, tôi đành chìu theo ý nàng, cùng lội xuống dòng xanh trong mát, ngâm mình ngắm từng đàn cá nhỏ tung tăng, bên những chùm rong biển, rồi lặn ngắm san hô, đến thỏa thích mới lên bờ. Bộ áo tắm màu hồng nhạt, lẫn vào trong nước biếc non xanh, một bóng hồng trinh nữ, trông ấn tượng vô cùng. Một lát sau, trên hành trình đi làng chài cửa Vạn, tôi nói với Thủy Đường: “Nếu em còn muốn tắm nữa, chiều nay anh sẽ đưa em, đến một nơi mà với anh, nó tuyệt vời hơn cả ở đây”. Xong tôi bước ra sau lái, nói với anh chủ thuyền: “Mình ghé đảo khỉ trước, rồi hãy đi cửa Vạn anh nhé!”. Anh chủ thuyền cười vui vẻ, rồi tăng tốc, rẻ nước sang hai bên mũi thuyền, tung lên trắng xóa.

Từ xa đã thấy vài chú khỉ, chơi đùa trên núi đá. Thủy Đường thích thú reo lên: “Ôi! Thật ngộ nghĩnh dễ thương quá!”. Bước lên đảo, tôi mua một bình hồ lô rượu thuốc, cho cụ Trần cùng anh chủ thuyền ngồi nhấm nháp, xong xin phép đưa Thủy Đường lên núi dạo chơi. Thấy nàng có vẻ khoan khoái, và sung mãn quá, tôi đưa lên tận đỉnh núi cao, giữa xế chiều lộng gió. Thủy Đường vừa lấy kem ra ăn, vừa đưa mắt say sưa, ngắm hàng trăm đảo lớn nhỏ, nhô lên từ thảm lụa xanh, đây đó điểm phớt màu trắng dịu, dăm ba bãi cát, của tổng thể miền Lan Hạ, nàng sung sướng đến sững sờ: “Ôi! Cả vịnh Lan Hạ, đều nằm gọn trong tầm mắt của em. Thích quá anh ơi!”. Tôi nói: “Ừ thích thật! Giờ em hãy thâu tầm mắt, nhìn xuống chân núi mình đang đứng đi! Có đẹp không! Bãi lớn hơn đang có người tắm đó, gọi là bãi tắm Cát Dứa 1. Bãi nhỏ hơn khuất sau mõm núi hình con hổ, đang có người ngồi kia, là bãi Cát Dứa 2. Cạnh đó là vườn có nhiều cây si, cây phong ba đẹp lắm”. Trên đường đi xuống, Thủy Đường nói: “Em khát nước quá ạ! Anh bỗ quả dứa ra, cho em ăn đi!”. Tôi bảo: “Đây là dứa dại, ăn không được đâu em! Ngày xưa nó mọc nhiều khắp đảo, nên người ta mới gọi tên là đảo Cát Dứa. Bây giờ nuôi vài chục con khỉ, để thu hút sự hiếu kỳ của khách du lịch, nên mới gọi là đảo Khỉ. Giờ anh đưa em xuống bãi tắm Cát Dứa 2 nhé!”.

Ngang vườn cây, nghe nhiều tiếng chim ca ríu rít, hót vang lừng, Thủy Đường nhảy nhót, hồn nhiên như đứa trẻ: “Hi hi hi! Thích quá đi mất! Kìa! Mấy cây si cổ thụ tuyệt quá! Nào! Cây kia có chú khỉ con nữa, chụp hình cho em đi anh!”. Tôi ngạc nhiên hỏi: “Em đem theo máy ảnh à?”. Thủy Đường nheo mắt cười: “Em đã lén nháy anh và nội, hàng trăm lần rồi đấy, và cả tự chụp nữa, anh không để ý đó thôi!”. Tôi cầm lấy máy ảnh chụp cho Thủy Đường, từ vườn cây sang bãi tắm khoảng hơn vài chục kiểu, rồi đưa máy cho nàng. Dưới nắng chiều trên bãi hoang, trông nàng thật lãng mạn, nên thơ đầy quyến rũ. Nàng lội xuống, nhìn làn nước trong xanh cõng nắng lung linh, lấp ló mập mờ dãy san hô, háo hức nhìn tôi hỏi: “Anh muốn đưa em xuống tắm, ở dưới đấy phải không nào? Tuyệt thật!”. Tôi lắc đầu: “Không phải đâu em! Dù sạch đẹp quyến rũ, nhưng ở đây, có bàn tay của con người can thiệp nhiều quá, làm hỏng nét hoang sơ. Trước hoàng hôn em sẽ biết, bãi tắm bồng lai ấy”.

Khi hai đứa cùng quay trở lại, cụ Trần mặt mày rạng rỡ, bên bình hồ lô đã cạn. Tôi bảo anh chủ thuyền nhổ neo, và đi nhanh nhất, với tốc độ có thể. Chẳng mấy chốc, hình ảnh làng chài cửa Vạn, đã ảo mờ ẩn hiện phía xa xa. Không đứng trước mũi thuyền nữa, tôi bước lui ngồi với cụ Trần phía sau lái. Thủy Đường cũng bước theo, đến ngồi bên cạnh, nhìn làng chài nổi, dập dềnh trên sóng nước, bên những ngọn núi uy nghi, hùng vĩ giữa biển khơi. Màn nước như tấm thảm xanh, được nắng dát màu vàng nhạt, khiến nàng ngỡ ngàng ngây ngất: “Nội nhìn kìa! Ô! Làng chài rực rỡ lung linh mỹ miều đủ màu, bồng bềnh trên mặt biển chiều, đẹp kỳ lạ quá. Giữa biển khơi, mà nơi đây yên ả thật anh nhỉ?”. Cụ Trần gật gật: “Đúng là sơn thủy hữu tình, lần trước lão chưa đi đến tận đây”. Tôi dạ và nói: “Con nghe nói làng chài cửa Vạn, còn gọi là làng chài Vạn Giá, có nguồn gốc từ hai làng chài, Gia Võng và Trúc Võng cổ xưa hợp lại. Nó là một trong mười sáu ngôi làng, hiếm hoi trên thế giới, còn giữ được vẻ nguyên sơ, quyến rũ đó cụ ạ! Mùa thu 1993, con đã có dịp đến, và qua đêm ở đây, cùng mấy anh bạn giã cào nữa. Hôm ấy sóng lớn hơn bây giờ nhiều, dân chài ở đây rất thật thà và hiếu khách, con chơi với họ suốt đêm. Cái gì con thích, họ vừa bán vừa cho, không so đo tính toán. Nhất là vợ chồng anh Thở, con chẳng nhớ là nhà nào ở đây nữa. Thằng cu con ảnh bé xíu, dăm bảy tuổi gì đó, ở truồng đen trùi trụi, mà bơi thúng giỏi cực kỳ. Nó cười toe toét hồn nhiên đến lạ, khi bẻ gở những con cá, con mực mắc câu, một cách điệu nghệ tài tình, con phục sát đất. Mồi nó câu mực hình như chỉ là, một chùm giấy kim tuyến thôi thì phải, con chẳng nhớ rõ. Công nhận hay thật đấy! Hôm sau trước khi vô bờ, con hỏi nó thích gì, nó chỉ chiếc đàn và cây bút của con. Con tặng nó cây bút, nó cười hăng hắc chạy đi khoe”. Đoạn quay sang Thủy Đường: “Muốn mua gì em cứ mua đi! Mỗi thứ mỗi ít đặng tối nay, mình sẽ ăn ở nơi mà anh đã chọn”. Xong tôi ngước lên hỏi anh chủ thuyền, đang nhịp nhịp chân gật gù hát ca, chắc là do kích thích của men rượu: “Trên thuyền có sẵn gạo, đồ gia vị mắm muối gì không anh?”. Anh cười: “Có tất, cả rau xanh nữa”. Tôi vui vẻ: “Thế thì tuyệt, anh làm đầu bếp nghen!”. Anh cười khà khà: “Vô tư”. Xong anh bước lên nhà nổi buộc thuyền lại, rồi vui vẻ đi lựa mua cùng Thủy Đường. Tôi với cụ Trần đang ngồi nói chuyện, cùng anh bạn làng chài, thì nghe văng vẳng, một điệu hò trên sóng nước, ngỡ mình đang dạo lối thiên thai, làm tôi nghểnh ngãng lắng nghe, khiến anh làng chài cười ha hả: “Ông và bác ở lại đêm với chúng em đi! Ở đây có nhiều cô cậu ca hay lắm, đủ làn điệu, nhạc gì cũng có tất”. Tuyệt làm sao! Giữa biển cả mênh mông thế này, làng chài cổ kính nằm tách biệt thế kia, lại có được giọng hát điệu hò, thiết tha ngọt ngào đến vậy, khiến lòng lữ thứ nao nao, lâng lâng tựa mộng giữa ban ngày. Chắc lần trước ở lại đêm, vì mải mê câu nên mình không để ý. Ôi! Một làng chài như cổ tích, mà có thật giữa chốn nhân gian.


Chương 3: Đêm Hoang Đảo


Trên đường quay trở lại, tôi cầm lái chuyện vãn với cụ Trần, để anh chủ thuyền cùng Thủy Đường, lo nấu bữa cơm chiều. Khi những vạt nắng óng ánh, như pha lê ngả vàng, trải đầy vùng Lan Hạ, thì tôi cũng kịp cho thuyền, cập bờ đảo Vạn Bội như thơ. Thủy Đường đứng dậy, nhìn xuống nước trong veo vỗ tay reo: “Ô! Thích quá! Có phải đây là bãi tắm đẹp như mơ, mà anh muốn đưa em đến không anh?”. Tôi mỉm cười gật đầu xác nhận. Nàng mặc bộ áo tắm vàng lơ, tạo một nét chấm phá độc đáo, trên bức tranh biển trời Lan Hạ, tỏa sức cuốn hút kỳ vĩ, hoang sơ mà thanh lịch, đằm thắm mà rạng ngời, trước buổi hoàng hôn. Đang mặc áo pol quần bò, túi bọc đầy những thứ linh tinh, mà Thủy Đường nghịch ngợm, xô tôi xuống nước. Nàng nhảy theo ngâm mình, dưới làn nước chiều trong veo mát rượi, lặn hụp phe phẩy bơi, như một nàng tiên cá, rồi ngoi lên nằm ngửa mặt, nhìn mây trắng bồng bềnh, dần ửng hồng cả một góc trời tây. Cụ Trần đứng trên bãi vắng, cát dưới chân mượt mà, óng ả như dải lụa, đưa mắt nhìn con cháu bơi lội hân hoan, rồi thả tầm ngắm xa xăm, nhìn trời nước mênh mông, với ánh mắt thiên tiên thoát tục, sáng lung linh một niềm hỷ lạc vô bến vô bờ, ấn tượng mạnh đến nỗi, tôi vẫn còn ghi khắc mãi đến hôm nay, khi ngồi viết những dòng này.

Dưới bóng chiều tà, giữa một vùng non nước hoang sơ tĩnh lặng, đang ửng hồng theo mấy vạt hoàng hôn, dường tắm hả hê, ngắm nhìn thỏa thích, dải san hô lung linh sắc màu, dưới làn xanh trong vắt nhìn thấu đáy, ở một bãi tắm đẹp mê li, như nước nhược non bồng, Thủy Đường vuốt mặt nhìn say đắm: “Em ngỡ rằng chỉ có ở trong mơ. Ôi! Thiên đường trần thế! Em không thể nào tả hết được cảm giác của mình. Thật an bình và lâng lâng sảng khoái. Mê li mê li! Lòng em tựa mở ra cùng tất cả! Tất cả…”.

Khi những vách đá bao quanh, những ngọn núi lô nhô trùng điệp, cùng thảm cây xanh trải dài nối tiếp, nối tiếp, nhuộm một màu đỏ rực, của sắc hoàng hôn đã chín, Thủy Đường duyên dáng, yểu điệu bước lên bờ, làm quan cảnh đẹp cổ kính, nguyên sơ tựa mộng nơi đây càng cuốn hút, khi hòa quyện thêm phần quyến rũ kiêu sa, từ bóng dáng của nàng. Ngoài chúng tôi, và bóng thuyền đang lim dim ngủ, bãi vắng đầu hôm không một bóng người. Và bữa cơm hoang đảo được dọn ra, cả bốn người đều ăn uống no say, không khách khí. Bình rượu hải sâm tôi mua hờ trên đảo Khỉ, đã dần vơi trong ý vị đậm đà. Cụ Trần vẻ đắc ý, khà mấy tiếng sau một ly uống cạn: “Anh chọn nơi này, thật đúng nghĩa với hai chữ hoang sơ. Đêm nay ta sẽ nằm giữa lòng mẹ thiên nhiên, trên bãi cát nhỏ kia, để hưởng thụ cái cảm giác yên bình thư thái, thanh thoát vô ưu, khi gần gũi hòa quyện với gió trăng, trời mây non nước nó thế nào”. Dọn rửa xong, Thủy Đường ôm chiếc lều xếp xuống thuyền, lên dựng gần vách núi. Cụ Trần tiếp: “Già thích thế này hơn, không cần tiện nghi nơi đảo Khỉ. Du sơn ngoạn thủy mà, càng giản đơn dân dã càng thích thú mê say. Chừng tuổi này rồi, đây là đêm đầu tiên trong đời, già này được đắm mình trong thiên nhiên, trên hoang đảo Vạn Bội nhỏ bé, vùng Lan Hạ này. Cũng có thể là lần cuối cùng, đời mà, ai biết được ngày mai. Thời trẻ trai dồi dào sinh lực, nặng lễ giáo gia phong học chữ thánh hiền. Nước non chìm trong lửa loạn binh đao, gắng dựng gầy cơ nghiệp, có thưởng ngoạn đó đây chăng, cũng quanh quẩn mấy tỉnh gần trên đất Bắc mà thôi. Gần mà cũng đi chưa trọn. Anh có thể mang ước nguyện, niềm khát khao cháy bỏng thú tiêu dao của ta, làm hành trang và hoàn thành sứ mệnh trời ban, giúp cho kẻ gần trọn đời, ép mình trong khuôn khổ nho gia, được đôi phần mãn nguyện. Ta thích anh! Chẳng giam mình trong bả vinh hoa, vòng danh lợi. Phàm ở đời, có những cái muốn cho, chưa chắc người ta muốn nhận. Nhưng đêm nay! Anh cho ta một đêm ngủ ngoài trời, đặc biệt thế này, chẳng quý giá lắm sao. Mà có thể là ta không ngủ, ngủ mê man còn cảm nhận được gì. Và hôm nay! Cũng là lần đầu tiên trong đời, ta có được niềm hỷ hoan miên mật, ngày lên đêm xuống, lòng ngập tràn phơi phới những niềm vui. Đêm nay được hòa mình, cùng thiên nhiên hoang sơ hùng vĩ, gác qua bên những ưu tư nặng nề, của cõi đời ô trọc, ta thấy được sống như thế này, đáng quý biết bao. Còn anh! Thằng Cả nhà lão nói đúng. Giữa xã hội mà đồng tiền, có mãnh lực thao túng từ mọi phía, con người vì tiền, mà đánh mất lương tâm, nhân tính, vẫn còn có người như anh, lặn lội bôn ba khắp bốn phương, làm giàu cho mảnh đất tâm hồn. Quả thật hiếm đấy!”.

Anh chủ thuyền ngồi ngủ gật. Cụ Trần nhìn lên bãi cát, tỏ vẻ muốn đến đó. Tôi vỗ vào vai anh, rồi nhảy xuống nước, đưa tay lên, bế cụ vào bờ. Đoạn phất tay bảo anh tắt giàn đèn, chỉ để lại một bóng trái ớt mà thôi. Bóng tối trùm lên hoang đảo, ngồi trên cát, cụ Trần mồi ống điếu, tàn lửa lóe lên đỏ chói, văng ra những hạt lửa li ti, bay theo chiều gió, như ánh đuốc ma trơi. Bỗng cụ vỗ vào vai tôi, nựng yêu lên cằm một cái, tia mắt bao dung toát lên một vẻ gì trên cả nhân hậu nữa, và đượm tình yêu thương, thân thiết giữa màn đêm, khiến tôi rất đỗi ngạc nhiên và hạnh phúc tràn đầy. Một lát sau cụ nói: “Hãy dạo chơi hay đi nghỉ trước đi! Ta còn khỏe lắm, ngồi một mình chẳng sao đâu”. Tôi dạ một tiếng đưa tay ôm vai cụ, siết nhẹ một cái rồi đứng lên, lang thang một vòng trên đảo. Thủy Đường trong chiếc váy ngủ màu xanh ngọc, đẹp quyến rũ mê hồn, từ trong lều bước ra lúc nào chẳng biết, tóc buông xõa khiến tôi giật mình, ngỡ nàng là yêu nữ chốn đảo khơi. Nàng biểu lộ những nhu tình mật ý, tôi giả vờ chẳng nghe, điềm nhiên đi về phía cụ Trần. Hiểu ý cháu, cụ Trần vào lều nghỉ, còn tôi bước lên thuyền, đứng ngắm muôn phương. Được một lát, tôi nhảy xuống đi về lều, thấy Thủy Đường đang nằm giữa, nũng nịu ôm cụ Trần nằm bên trái. Tôi lau chân bước vào, nằm chật chội bên phía cụ. Thời gian trôi qua thật chậm chạp, tôi nằm ngửa thẳng chân, mà chẳng ngủ được tí nào. Thủy Đường lặng lẽ bước ra ngoài, một lát sau trở lại, liều lĩnh chen vào nằm im lìm, trên khoảng trống nhỏ bé giữa tôi và cụ. Bị dụ hoặc bởi ôn hương nhuyễn ngọc, tôi như con thỏ trước dã thú hung hãn, nằm sợ chết trân mà gắng gượng thở đều. Chẳng biết đã bao lâu, Thủy Đường xoay người lại và ôm khẽ lấy tôi.

Từng phút từng phút một trôi qua, bàn tay nhỏ xíu luôn động đậy. Chắc nghĩ rằng tôi và Nội đã ngủ say, nàng ngồi dậy cúi xuống từ từ, chu cái miệng chạm nhẹ vào môi tôi. Cứ thế dăm ba lần, nhưng chẳng dám hôn, đôi bàn tay khám phá, săm soi trên làn da nhạy cảm, xem tôi như là, một vật thể lạ đầy cuốn hút, nhìn nàng lén lút vụng trộm, sợ phát hiện mà khó nhịn được cười. Ôi! Đêm nay chắc tôi trở thành, một vật thí nghiệm của nàng mất. Dù gắng trấn tĩnh, chịu đựng tốt, nhưng tôi cũng có phần căng thẳng, khi nàng say mê khám phá, không chừa lại bất cứ chỗ nào. Đúng là nghé không sợ hổ, nàng leo cả lên mình tôi, đè đến ngột ngạt mấy phen, làm tôi sém đầu hàng. Bí quá, tôi đột xuất luyện yoga, theo tư thế xác chết, tạm thời hóa giải được, nhưng dần dần bị nàng tấn công, quá cuồng dã mãnh liệt, tuyến phòng thủ bị lung lay, suy yếu đi nhiều. Hự hự! Hết chịu nổi, cụ Trần sao im thế, chẳng dậy cứu tôi. Chết mất thôi!.

Giữa lúc sự kháng cự như tiêu tan, khả năng khống chế đà vô hiệu, chắc phải đành buông theo số phận, thì tiếng cụ Trần như vị cứu tinh: “Cái Lẹo! Đừng hành hạ anh ấy nữa. Một người sinh long hoạt hổ như anh ấy, mà phải chịu đựng thế là quá lắm rồi”. Thủy Đường xấu hổ nhỏm dậy, đưa tay ra hiệu bảo Nội, đừng làm kinh động kẻo tôi thức giấc. Đúng là có chín chắn chững chạc hơn xưa, nhưng trong địa hạt ái tình, thì khờ dại vụng về, hiếu kỳ hồn nhiên như một đứa trẻ con. Cụ Trần bước ra ngoài, chẳng biết để làm gì. Bởi đang ý loạn tình mê, nàng tiếp tục khám phá vật thể lạ, ở thế giới tương lai, đang xuất hiện trước mặt mình. Cái thằng tôi cân nặng 67 kg, cơ bắp cuồn cuộn, phải gồng mình lên chịu đựng. Chợt tôi nghe tiếng nho nhỏ của cụ Trần: “Cái Lẹo! Đừng có hư. Anh ấy không thuộc về cháu”. Thủy Đường ngồi dậy dỗi hờn: “Nội! Nhưng con yêu anh ấy”. Chẳng hiểu vì sao cụ Trần chẳng la rầy, cũng không trả lời cô cháu gái: “Hãy gọi anh ấy dậy! Trăng hạ tuần sắp lên rồi, Nội muốn cùng anh ấy ngắm trăng lên trên vịnh”. Thay vì gọi, Thủy Đường giận dỗi, phác vào người tôi mấy cái, khiến tôi ngồi bật dậy như lò xo, dụi mắt bước ra ngoài.


Chương 4: Đón Trăng Lên, Đợi Bình Minh Hoang Đảo


Hút một điếu thuốc, lấy lại trạng thái thăng bằng, tôi bơi ra thuyền, vì thủy triều lúc này khá lớn. Nổ máy nhổ neo, cho thuyền sát vào mép nước, anh chủ thuyền giật mình tỉnh giấc, ra đứng đái rồng rỗng xuống nước và nói: “Bác biết làm tất cả ư?”. Tôi cười thành thật: “ Biết đôi chút, đủ để xử lý tình huống thôi mà, có gì đâu anh! Hihi!”. Anh ấy cười: “Bác giỏi thật đấy”, rồi cùng tôi đưa cụ Trần lên thuyền, Thủy Đường cũng lót tót lên theo.

Nhìn vừng sáng phía Đông, thấy mặt biển bị khuất lấp, bởi những hòn đảo lớn nhỏ lô nhô phía trước, tôi nhổ neo, bảo anh chủ thuyền chạy ra khoảng trống. Xong tôi lui ra sau lái, đứng với cụ Trần, thì cũng vừa kịp lúc mặt biển bàng bạc ở khơi xa, cong lên như cái mu rùa, đang cõng nửa vầng trăng vừa ló dạng. Cụ Trần lại nhồi thuốc vào tẩu, tôi bật quẹt cho cụ mồi, và xin ké mấy hơi, bởi bao thuốc lá bị bỏ lại trong lều. Không phí một giây, cụ Trần ngắm say sưa, cái vừng sáng lạnh lẽo đầy hấp dẫn, như chiếc trâm bạc, nằm trên cái đĩa vàng úp mặt, là quần sáng hừng phía dưới, đang hắt tia sáng vàng lơ, óng ánh lung linh, trùng trùng lát vỡ, men đến tận mạn thuyền. Cụ Trần mắt đăm đăm, thốt lên một tiếng “Tuyệt”, xong nhắp một chén trà, Thủy Đường vừa mới chế, rồi ngồi xuống sau be lái, ngắm mãi cho đến trăng lên, gần một đòn gánh mới thôi. Uống mấy ngụm trà thấy hơi xót ruột, tôi vào trong khoan, lấy bát tôm hấp còn thừa hồi hôm, hấp lại rồi đem ra, mời mọi người cùng nhấm nháp cho vui. Xong tôi nhổ neo, bảo anh chủ thuyền đi vào trong vịnh. Đây đó những làng chài, thấp thoáng đầy hư ảo. Luồng lách qua những cụm đảo lớn nhỏ, trong vịnh Lan Hạ khi trời chưa sắp sáng. Ngàn sao lấp lánh lung linh, cùng trăng lên soi chiếu vào nước non núi bể, tôi thấy quan cảnh nơi đây, kỳ vĩ hoang sơ thơ mộng, đang hư thực khoác lên mình, một dáng vẻ huyền bí liêu trai. Xong tôi bảo đưa thuyền trở về Vạn Bội, cho Thủy Đường và tôi, thay y phục dọn dẹp lều chõng, đồ đạc nồi niu xoong chảo, rồi sang đứng đợi, để kịp đón bình minh ở bãi sau.

Vừng đông dần rõ nét, đóa bình minh hừng lên đỏ rực, từng phút từng phút một, ngả vàng hắt những tia nắng đầu tiên. Màn nước trong vắt rực lên, như tấm gương phản chiếu, mang biển trời hòa làm một. Giữa thiên nhiên nguyên sơ tĩnh lặng, tất cả chúng tôi đều háo hức, hít thở lấy những luồng sinh khí, từ biển cả mênh mông phả vào ban tặng, nghe hơi mát lạnh từ lòng biển, thấm sâu vào trong ngực, mang đến một cảm giác lâng lâng, hân hoan sảng khoái vô cùng.

Muôn ngàn tia nắng sớm len lỏi, cường hãn qua từng vách đá, ươm vàng lên thảm thực vật, lên bãi cát trắng mịn mượt mà, soi bóng xuống những dãy đá ngầm sừng sững, uy nghi, ẩn hiện mập mờ hư ảo. Bầu trời trong xanh rạng rỡ, bắt đầu một ngày mới thật thanh bình yên ả, giúp ta gác qua bên, giũ bỏ những nặng nề cơm áo, những ưu phiền thế tục, những lo toan thiếu đủ của đời thường…tận hưởng những khoảnh khắc lắng đọng, trên Vạn Bội miền Lan Hạ đẹp như tranh.

Cụ Trần chừng như đang còn đón nhận, hơi thở của trời nước, vẫn phả vào hồn, luồng sinh khí trong lành mát rượi: “Thật là một nơi thơ mộng đầy quyến rũ. Được nhìn trăng lên trên biển, đón ánh bình minh cuối hạ, trên đảo Vạn Bội vịnh Lan Hạ này, từ khi chưa nở những tia nắng đầu tiên, thật là vinh hạnh cho già này lắm lắm. Thôi! Thủy Đường về nấu cơm sáng đi! Nội đói rồi. Anh giỏi thật đấy!”. Tôi định nói rằng, mình chỉ làm theo sự trải nghiệm của người đi trước, chứ không phải là người phát hiện, nhưng Thủy Đường đã giãy nảy: “Cháu muốn được tắm nữa cơ ạ!”. Tôi phì cười: “Nhưng phải chỗ khác cơ”.

Khi về đến nơi, thấy bãi tắm chiều qua nằm phơi bụng cát, có chỗ sâu nước chỉ còn dưới gối, khiến Thủy Đường há hốc, ngơ ngác hụt hẩng thốt lên: “Thực hay là mơ đây! Chiều qua em còn tắm chỗ đấy cơ mà? Sao lại thế!”. Tôi cười giảng giải: “Đã có triều lên, ắt phải có triều xuống, cô bé ngốc nghếch ạ! Bãi tắm này nông, không phải lúc nào cũng tắm được. Muốn thì lo nấu ăn sáng đi, rồi anh đưa sang đảo Khỉ, tha hồ mà tắm, xong ăn trưa rồi về luôn thể. Còn nhiều nơi chưa đến, nhưng anh thấy với Nội em, bao nhiêu ấy là quá đủ rồi, Nội cần phải được nghỉ ngơi chăm sóc. Thấy vậy chứ không có sức khỏe, ngay cả chuyện chơi, cũng không dễ chút nào”.

Đang còn hè, mà khách du lịch qua nơi này, chẳng có mấy chục người trên đảo Khỉ, phần lớn họ tập trung, ở những bãi Cát Cò, tắm táp tuyệt hơn. Đến bãi tắm Cát Dứa 2, thấy cụ Trần hôm nay hơi khô người, bởi rượu và thức trắng. Tôi xin phép, giúp cụ cởi đồ ra, rồi đưa cụ từ từ xuống nước cho quen dần. Thật quá đỗi ngạc nhiên, sau chưa đầy một phút phác nước lên người, cụ phóng ùm một cái lặn ra xa, rồi ngoi lên vuốt mặt cười khà, mà làm tôi sợ muốn đứng tim. Bởi nước khá trong, nên cụ ngụp lặn mình thấy rõ mồn một, thì ra chắc xưa kia, cụ là tay bơi lội cũng chẳng vừa. Khởi động xong, tôi cũng phóng xuống bơi ra, đến kì lưng cho cụ. Nước biển mặn nhớt, kì khó ra, vậy mà ra cả khối, làm đỏ cả tay chân mình mẩy cụ Trần. Hôm nay Thủy Đường lại mặc chiếc áo tắm màu xanh nhạt, trông mỹ miều hấp dẫn làm sao. Nhưng chẳng mấy ai nhìn ngắm, khiến nàng sớm bước lên bờ, tắm lại rồi thay đổi áo quần. Thì ra nàng chuẩn bị chuyến đi chu đáo dữ. Tắm rửa xong xuôi, tôi bước đến bảo nàng, cùng đi lựa chọn những món hải sản, mà cụ Trần và nàng ưa thích, nhờ họ làm bữa cơm trưa cho bốn người ăn. Nàng vênh cái mặt phụng phịu bước theo, tôi mỉm cười xởi lởi hát vu vơ. Bữa cơm cuối cùng trên đảo Khỉ thật hoành tráng, bắt mắt và ngon miệng đầy ấn tượng. Trên đường về thị trấn, tôi cho anh chủ thuyền, vào cabin ngủ lấy sức, tự mình vừa lái thuyền, vừa ngắm phong cảnh đó đây. Thủy Đường dọn dẹp tất cả đồ dơ của chúng tôi, vào riêng một túi xách, để khi về khách sạn sẽ giặt, xong đến đứng bên tôi, ngắm nước nhìn trời. Tóc bồng ngược gió tung bay, đôi chân mày xanh đen nhíu lại, tia mắt ngắm mơ màng, trông thật đáng yêu.

Về đến bến, tôi rút ví trả công, anh chủ thuyền mặt mày rạng rỡ: “Bác cho lắm thế! Cho em xin ạ!”. Vì anh chưa đi biển. tôi cho nốt những gì còn lại, trong mấy sô nước biển, để về vợ con anh ăn lấy thảo, chứ không mang về khách sạn…


Chương 5: Đêm Thị Trấn Cát Bà


Bước trên đường thị Trấn Cát Bà, tôi mới nói với Thủy Đường: “Hồi trưa anh chẳng muốn em mua nhiều thứ, vì ở đây vừa rẻ, vừa đầy đủ hơn đảo Khỉ. Về khách sạn nghỉ ngơi xong, chiều anh sẽ dẫn đi mua, em sẽ thấy lời anh nói, là một lựa chọn sáng suốt, đầy trải nghiệm nhé!”.

Mở cửa phòng khách sạn ra, cởi áo đưa Thủy Đường, tôi nằm phịch xuống giường, đánh một giấc quên trời đất, bởi một đêm thức trắng, mặc cho Thủy Đường giặt giũ, cụ Trần ngả lưng xuống ghế xếp nhả khói phì phèo. Bỗng bị lôi một cái thật mạnh đến muốn rơi xuống đất: “Anh muốn để đến khi nào, mới đưa em đi chợ Cát Bà đây!”. Tôi ngái ngủ hỏi mấy giờ rồi, nàng gắt: “Mặt trời sắp đi ngủ”. Nhìn sang thấy cụ Trần, cũng đã tắm táp thay đồ mới. Tôi vội vã vệ sinh xong, dẫn hai ông cháu, cùng dạo chơi trên thị trấn Cát Bà. Rồi mua về đủ thứ, bởi cụ Trần nói rằng, đêm nay, sẽ ăn uống một bữa no say, trước khi về lại Minh Đức Trành Kênh. Nhiều thức ăn quá, sợ về làm lâu, nên tất cả những gì có thể, tôi đều nhờ các chị bán hàng làm cho, chỉ còn việc mang về nấu nướng. Khi đã thật sự no say, tôi đóng cửa phòng lại, xách chiếc đàn guitar ra, tra tấn màn nhĩ hai ông cháu. Tôi đàn hát say sưa, hết bài này sang bản nọ, nào tặng cụ tặng em, lúc não nuột bi hùng, hồi thiết tha trìu mến, đến đục khàn cả giọng. Chỉ uống khoảng một nửa tôi thôi, cụ Trần ngồi tỉnh táo, sóng mắt ngời ngời, cổ kính, yên bình, đằm thắm như sông núi Tràng Kênh. Xong, môi ngất ngưỡng điếu ViNaTaBa, tôi nằm dài trên nệm ấm, mặc hồn bay vi vu, chơi vơi đến tận phương nào. Nửa đêm tỉnh giấc, thấy Thủy Đường lại nằm giữa, nhưng không nổi loạn, hồ đồ tinh nghịch, khám phá điều mới lạ như tối qua ngoài hoang đảo. Nằm nghiêng về phía tôi, nàng chỉ cầm lấy bàn tay tôi để hờ trên ngực, mắt đau đáu nhìn tôi, lặng im không hiển lộ một điều gì. Tôi thở phào nhẹ nhõm. Chợt nghe cụ Trần ú ớ: “Lãng Tĩnh! Lãng Tĩnh…”. Lãng Tĩnh là ai? Không phải cụ mơ thấy Lưu tôi chứ! Bởi cả rượu, tôi nghe miệng đắng môi khô, và hôi hám quá đi mất, nên khe khẽ ngồi dậy, xuống đánh răng rửa mặt, ngâm mình trong nước, cho giải hết cái dư hương, sau một đêm say bí tỉ.

Chợt phát hiện…tôi bước lên, kéo Thủy Đường vào toilet, vì sợ cụ Trần nghe thấy: “Em đã làm gì?”. Thủy Đường đứng im lặng, co ro như một phạm nhân, mắt nhìn tôi lả chả hai dòng lệ, lăn dài trên đôi má yêu kiều thật đáng thương, khiến tôi không nở truy vấn gì thêm nữa: “Em dại lắm có biết không!”. Nàng gục đầu tủi hổ, rồi ngả vào lòng tôi nức nở.

Sáng ra, hắc y mỹ nhân không vận đồ đen nữa, mà thay vào đó, là một chiếc váy trắng kín đáo, cổ quàng hờ chiếc khăn mỏng màu xanh ngọc, trông tha thiết diễm kiều, như bạch y tiên nữ. Cụ Trần cũng vẫn bộ bà ba trắng, khoác lên vai chiếc khăn rằn màu xám sẩm, trông dáng vẻ thư thái an nhàn yên ả, và gợn chút gì lưu luyến, trước khi rời quần đảo Cát Bà, vẫy tay chào tạm biệt vịnh Lan Hạ kỳ vĩ lung linh, thơ mộng tựa bồng lai. Trên đường về, Thủy Đường chẳng bi bô nhảy nhót hát ca, hỏi đủ chuyện như thường nhật nữa. Đôi mắt đượm ưu tư, chứa một màu bí ẩn, như những gì kỳ ảo huyền bí, mà ta chưa cảm hết, nơi động thạch nhũ Trung Trang…


Chương 6:Chạm Trán Côn Đồ


Về đến Tràng Kênh, chú con út của cụ Trần, chào đón chúng tôi trở về, chẳng có gì thân mật, dù tôi đã trao cho chú, vài thứ trên đảo gọi là quà. Chiều đến, cùng dạo mát ven sôngRừng huyền thoại, tôi thưa với cụ Trần, ngày mai sẽ vào Thanh Hóa, vì nghe ở đó đang làm ăn được muà. Im lặng một lúc, cụ Trần bảo nếu tôi muốn làm, thì tiệm của cụ có cả khối việc cho làm, cần chi phải đi đâu. Tôi lưỡng lự: “Dạ! Để con xem lại”.

Sáng ra, Thủy Đường vội vã trở lại trường, và muốn được tôi đưa đi bằng xe máy. Cụ Trần thuận ý, thế là tôi rồ ga, vững lái chạy như bay. Đến nơi, Thủy Đường hỏi: “Anh muốn đi dạo phố phường Hà Nội một lúc không? Anh thích những chỗ nào!”. Tôi đáp liền: “Anh thích dạo bên Hồ Gươm, thích đứng trên cầu Thê Húc, ngắm Hà Thành cổ kính, cùng những cặp tình nhân đây đó hẹn hò, và thích nhiều thứ lắm. Nhưng thôi! Hẹn em dịp khác, giờ phải về kẻo Nội em trông. À mà này! Em đáng tuổi con anh, mà sao ngay từ buổi đầu, đã không gọi anh bằng chú?”. Thủy Đường cười: “Chẳng biết nữa, tự nhiên gọi thế thôi. Hi hi!”. Rút thuốc lá ra mồi, kéo vài hơi tôi nói: “Em có để ý không! Chú Út nhà em, chẳng có tí hoan nghênh, sự hiện diện của anh. Thế mà Nội em giữ anh lại, chưa cho đi mới khổ chứ. Sợ cụ buồn, chắc anh phải dày mặt, gắng ở thời gian, cho cụ vui rồi hãy tính”. Xong tôi chào tạm biệt, Thủy Đường nói với theo: “Vài tuần nữa, là em nghỉ hè luôn rồi đấy nhé!”. Tôi gật đầu và lại phóng như bay.

Ngay hôm sau tôi bắt đầu làm việc, mặc thằng Út lầm lì, chẳng sai bảo điều chi. Với tôi, miễn cụ Trần vui là quý lắm rồi, bởi ở đây tôi chẳng cần chi khác nữa. Đêm đêm tôi lại ngồi hí hoái, tập viết thư pháp làm vui, qua sự hướng dẫn ưu ái của cụ Trần. Thoắt cái, hai tuần lễ đã trôi qua, Thủy Đường gọi điện về, mời tôi lên dự liên hoan cùng nhóm bạn, rồi lai Thủy Đường về luôn thể.

Về đến một quãng vắng, Thủy Đường bảo muốn đi tiểu tiện, tôi dừng lại xuống xe. Khi định lên xe đi tiếp, thì bốn thanh niên đi xe máy, rà tới dừng lại xin tí lửa. Móc túi lấy ra cái hộp quẹt, tự chế bằng hai viên đạn, mà anh bạn tôi mang từ chiến trường về, tặng làm kỷ niệm năm nào, cùng xâu với bấm móng tay, con dao bấm mà thường nhật, tôi chỉ dùng khi cần, trong ăn uống mà thôi. Chợt nghe tiếng gió từ phía sau, theo phản xạ tự nhiên, nhanh như chớp, tôi chụp tay gã thanh niên đang mồi thuốc, vừa nhảy lui bẻ tay gã ra phía sau, vừa đẩy gã tới trước, hứng trọn cây thước vuông, đồng bọn bỗ vào đầu. Gã choáng váng máu rỉ ra, người quỵnh quạng muốn ngã, tôi vẫn giữ đứng nguyên, làm bia đỡ đạn cho mình. Tôi bấm dao lên cốt để thị uy, chứ thực sự chưa bao giờ dùng đến, dù trên bước vạn lý độc hành, tôi đã phải chạm trán, mấy mươi phen, bất đắc dĩ như thế này. Còn ngồi trên xe máy, chắc là thằng đầu đảng. Nó bình tĩnh dựng chân chống, từ từ bước đến trước mặt tôi. Hai thằng còn lại tỏa ra, tạo thành thế bao vây, coi bề khó thoát thân đây. Để nắm lấy thượng phong, tôi vờ tung cước tấn công thằng đại ca, nhưng liền biến thế xuống tấn, trụ vai thằng tôi khống chế, phi lên xoay người đá quét về phía phải, hướng ra sau quật vào thằng cầm vũ khí. Hắn đang xính xáng, tôi bồi thêm cho một món giò lái no hộc máu. Cùng lúc thằng bên trái tung chiêu, đá gót tiền xuất kích, tôi trờ người né tránh. Thấy tôi đang thủ hở phía sau, thằng đại ca liền tung phi độc cước. Bí quá tôi trườn người né tránh, đưa thằng bia đỡ đạn ra lãnh cước. Thằng đại ca phi mạnh đến độ, cả tôi và thằng đỡ đạn, đều bị kẻ sấp người ngửa, ngã chúi dụi ra sau, tông vào thằng cầm vũ khí. Theo bản năng tự vệ, vì lỡ đà phản ứng, tôi chống tay lộn một vòng ra ngoài, rồi vịn một bên vai thằng cầm vũ khí, tung cú đá song phi. Hự hự! Thằng đại ca lảo đảo. Vừa rơi người xuống, tôi đã kịp tặng cho thằng cầm vũ khí, một chỏ cắm vào gáy, bàn tay phải co lại, chặt vào cổ tay hắn. Cây thước vuông văng ra, tôi đón lấy quất ngược vào ống quyển thằng còn lại, đang làm món liên hoàn cước tặng tôi.

Giờ côn đã nắm trong tay, tôi điềm nhiên, thở hít sâu mấy cái cho đỡ mệt. Đoạn đứng với thế thủ, sẵn sàng nghinh chiến, mà không cần dùng đến, thằng bia đỡ đạn nữa.

Từ năm mười ba tuổi, tôi đã được ông chú tôi dạy võ cho. Tuy không bài bản lắm, nhưng cũng thuộc môn võ học Tây Sơn, nghe nói bắt nguồn, từ thiếu lâm Vĩnh Xuân thì phải. Ngày ngày chú bắt tôi, học quyền pháp cước pháp, về võ lý nào “Song thủ ngũ hành vi bản” “Lưỡng túc bát bộ vi căn”. Bắt tôi luyện bộ tấn vững chải, rồi nào “Tấn bát quái, thủ ngũ hành” buộc tôi phải học thuộc, phối hợp với nội ngoại công phu, tập đi nhuần đẹp đường thảo “Ngọc Trản”, Bất cứ đối thủ là ai, dẫu là phường trộm cướp, vẫn chơi với tinh thần thượng võ, trọng nhân nghĩa hơn danh lợi. Dạy tôi biết kiềm chế, không được ngựa non háu đá. Khổ một nỗi tôi chẳng khoái, các chiêu thức quyền cước, chẳng có những tên gọi thật kêu đọc cho oai, mà chỉ đánh trả, hoặc tấn công tùy cơ ứng biến. Tùy miếng của đối thủ, mà thuận tay chân ra đòn trả miếng, chứ không theo trình tự, chiêu thức nào cụ thể, đã định sẵn để xuất chiêu. Rồi khi ứng chiến, nào trong “Tinh khí thần”, ngoài “Thủ nhãn chỉ thân” như thế nào, phải nắm rõ và sẵn sàng, làm nền cho chiến thắng. Khi học được nhiều năm, bắt tôi phải khắc cốt ghi tâm, những điều: “Xả kỷ tòng nhân, thính kình tâm ứng thủ” để nắm chắc phần thắng trong tay. Bắt tôi chiều chiều luyện tập kiều mã, chắc chắn vững vàng, khi lâm trận, không cho đối phương niêm kiều, triệt kiều phá mã. Nên trừ những cao thủ ra, những kẻ phàm phu tục tử, muốn hạ tôi, âu cũng khó vô cùng. Nếu không, làm sao Lưu này dám đơn thương độc mã, vạn lý độc hành, ngược Bắc xuôi nam, lên rừng xuống bể.

Đã thế! Giờ côn ở trong tay, như hùm thêm vây, nên đầy tự tin, vừa đọc vừa múa bài Bát Quái Côn, làm bốn gả thanh niên, kẻ nặng người nhẹ, đang bị tôi hài hước hành hạ, lúc Hán Việt khi thuần Việt, cho chúng hiểu chút chút chơi:

Phát bản linh thủ, xà vương khai môn…
Rồng chơi ruộng biển, chim nước lên trời…
Tứ tướng hồi môn lão Tôn loạn đả…
Bạch xà long trận, đơn phụng triều dương…
Thương vàng trao tay cát bay khỏi đá…

Tức thì kẻ ôm đầu ôm ngực, người cà nhắc té chạy thoát thân. Sớm giờ mặc cho Thủy Đường la khản cổ: “Bớ làng nước ơi! Chúng đánh người cướp của. Bớ làng nước ơi!”. La mãi mà chẳng thấy ai, đi ngang qua đường dừng lại, ngăn cản giúp chúng tôi, vì sợ vạ lây. Bây giờ chúng thua tháo chạy, thì dừng lại tò mò đông nghẹt, thói đời thật nực cười. Tức quá tôi phóng tới hai đầu xe, rút chìa khóa bỏ túi và hỏi: “Ai đã thuê chúng mày đánh tao? Nói!”. Thằng thì bảo đánh chết cũng không nói, thằng thì than xong việc mới nhận tiền, nếu khai ra lấy gì lo cơm thuốc. Tôi bảo chúng: “Khai đi! Người ở đâu thuê, giá bao nhiêu, tao sẽ buộc tên khốn kiếp đó, trả cho chúng bây không thiếu một đồng. Còn đây là tiền của tao, coi như bồi thường cơm thuốc. Nói đi!”. Một thằng trong bọn nói: “Dạ người ở Tràng Kênh Minh Đức, tuổi khoảng ngoài ba mươi, béo tốt, không có ria mép, thuê năm xị, đưa trước 1 còn 4 ạ”.

Thì ra! …Không thể lường trước được, là chơi đến vậy.

Bước tới trước thằng đầu đảng, tôi rút ví ra: “Bốn xị nữa đây. Hãy đi đi! Xem như là chẳng có chuyện gì”. Nó ôm ngực cảm kích: “Bác quả là quân tử. Cho em xin”. Xong tôi vứt hai chùm chìa khóa cho chúng, rồi lên xe đưa Thủy Đường về một cách tỉnh bơ. Thủy Đường sợ đến môi tím tái, mặt cắt không còn một giọt máu, thút thít: “Em hải quá! Chúng ở đâu vậy anh! Anh của em quả là bản lĩnh hơn người”. Tôi nói lớn: “Em chẳng thấy biển số Hải Phòng đó sao! Chúng là dân đâm thuê chém mướn trên phố đó”.

Gần đến nhà, tôi dừng lại cởi áo ra vứt xuống đường, lấy chân chà qua xát lại, rồi cầm lên mặc. Thủy Đường trong bộ dạng co ro thảm hại thật đáng thương, há hốc trố mắt nhìn lên chẳng biết chuyện gì. Tôi căn dặn: “Không được nói với bất cứ ai, về chuyện xảy ra hôm nay. Nhất là Nội”.

Dắt xe vào nhà, chẳng thấy cụ Trần đâu. Tôi bước ra trước cửa trên đứng hóng gió. Thấy bộ dạng xộc xệch của tôi, thằng út hỏi: “Anh bị sao mà lấm láp quá vậy?”. Tôi nói: “Anh bị té xe, đầu anh cứng quá nên thước vuông bị gãy, đường nhựa bị trầy trụa khá nhiều”. Nó tái mặt cười gượng gạo: “May quá anh nhỉ? Không bị thương là tốt rồi”. Tôi giả vờ: “Tốt gì! Người bây giờ chỗ nào cũng đau ê ẩm, cựa một chút là đau, đêm nay chắc sẽ càng dữ dội, phải tìm mua mãnh hổ siêu đồng trật đả hoàn, uống mới đặng thôi”. Nó mỉm cười nghi ngại…

Thì ra hôm nay cụ Trần đi thăm ông bạn, ở gần chỗ nhà máy xi măng, có dặn rằng khi tôi về hãy sang đón cụ. Tắm rửa cơm nước xong, quần áo bảnh bao, hát vang vang vài câu ngẫu hứng, thấy thằng Út nhìn, tôi cười vui vẻ: “Mới tắm rửa thôi, chưa uống trật đả hoàn đã hết đau rồi, kể cũng lạ nhỉ?”. Đoạn tôi cúi xuống, lượm mảnh ván nhỏ thợ vứt bừa bãi, đưa lên khỏ mạnh vào đầu, mảnh ván vỡ làm hai. Thằng Út biến sắc sụp lạy: “Xin bác hãy tha cho, em trót lỡ dại. Chớ mách với bố. Em xin đội ơn Bác. Em xin…”. Tôi vội lôi mạnh nó đứng dậy: “Dẹp ngay! Thủy Đường thấy bây giờ”. Rồi huýt sáo vi vu, dẫn xe ra cùng Thủy Đường, đi đón cụ Trần, phòng khi lỡ cụ say…



... CÒN TIẾP ...



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 08.4.2018.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004