Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





MỘT THỜI ĐI HỌC





      Kính tặng quý thầy cô trường Tiên Long Quận I (Cũ)




Nhớ lại mấy mươi năm về trước, thành phố Sài gòn chưa có trường mẫu giáo công lập hoặc tư thục như hiện giờ nên lứa tuổi lên 4, lên 5 của chúng tôi đa số chỉ được cha mẹ kèm cặp dạy vần, tập viết a, b, c tại nhà để năm sau đi học lớp Năm (lớp 1) ở trường Tiểu học trong Quận hoặc xa hơn. Hồi ấy chỉ có các vườn trẻ (Jardins d’enfant) dành cho các con em học chương trình Pháp mà thôi.

Tôi được bà nội dẫn đến một lớp mẫu giáo tư trong xóm do một bà giáo đã có tuổi mở ra dạy các trẻ nhỏ. Nơi đây tôi được những chữ cái đầu trên, đánh vần, ráp chữ và tập đồ bằng những nét nguệch ngoạch, chã ngay hàng thẳng lối chút nào. Bà giáo bới đầu củ tỏi, mặc áo túi trắng, cầm cây roi mây dài, nhưng chỉ để gỏ nhịp trên băng ghế để chúng tôi đánh vần, đọc lớn tiếng theo giọng của bà. Chúng tôi ngồi trên những chiếc ghế nhỏ, thấp, kê cuốn vần, tập trên những băng gỗ dài để đọc, viết. Chỉ khoảng mấy tháng sau, tôi đã đọc chữ thông thạo, vần xuôi, vần ngược đều xuôi rót.

Thế là tôi chuẩn bị đi học lớp Năm (lớp đầu của tiểu học) ở “trường nhà thờ”, cách nhà hơn cây số, không xa lắm nhưng phải đi qua một con rạch nhỏ tên là Rạch Bần thông ra Kênh Tàu Hủ lúc bây giờ. Tôi nhớ con rạch nhỏ chút xíu mà phải đi đò băng ngang, mỗi chuyến 5 cắc (tiền hồi 1952-1953) sau lên 1 đồng bạc. Vì lúc ấy, tôi nhỏ con, ốm yếu nên cô Hương tôi đưa đi rước về để xách cặp, mực viết cho tôi thong thả lên đò một mình.

Ngôi trường xây trong Khuôn viên nhà thờ Cầu Kho đường Phát Diệm bấy giờ tên Lê Văn Gẩm dạy từ lớp Năm đến lớp Nhất, tôi nhớ vậy. Nhưng tôi không học hết lớp với các dì phước dòng Mến Thánh Giá ấy mà lại chuyển sang trường khác vì bị đòn oan. Khi tôi lên lớp Tư (lớp 2) thì có một cô giáo bên ngoài phụ trách. Một hôm trong giờ cả lớp đọc bài Sử Ký, tôi bỗng hứng chí sao không biết, quay sang cười toe toét với cô bạn ngồi bên thì cô giáo bắt gặp liền gọi lên bàn giáo viên, không hề hỏi lý do vì sao, cô giáng ngay cho tôi một bạt tay nẩy lửa với năm móng tay nhọn cào trên gương mặt, tôi vừa đau vừa sợ lẫn hoang mang quay về chỡ ngồi khóc tức tưởi. Hôm sau nhất định xin má tôi nghỉ học luôn dù má tôi năn nĩ nên đi học lại. Sau cùng ông bà nội đồng ý cho tôi nghỉ học “Trường dì phước” nhưng yêu cầu tôi vẫn phải học giáo lý ở nhà thờ.

Nghỉ học độ một tuần, má tôi dắt tôi đến xin nhập học tại trường tư thục Tiên Long đường Cô Bắc Quận 1. Theo lời giới thiệu của người bạn của anh bà con ở kế bên nhà. Tôi học lại lớp Tư với một cô giáo rất hiền và tận tâm. Cô giáo Tư thường mặc áo dài trắng đi dạy học, tính tình hóa nhả, giản dị. Cô hơi trọng tuổi nên thường gọi các học trò lên nhổ tóc sâu, tôi không dám nhưng nhỏ bạn Ngọc Nhung hay xung phong liền. Cuối năm, cô Tư lại dẫn hết đám học trò lích nhích vào Sở Thú (Thảo Cầm Viên) chụp hình kỷ niệm. Tiếc là qua bao nhiêu năm tháng tôi đã làm thất lạc hết những bức ảnh thuở nhỏ ở trường Tiên Long nầy. Giờ đây ngôi trường địa chỉ đỏ ấy không còn nữa, đã trở thành dãy phố sang trọng cuối đường Cô Bắc từ khi thầy Hiệu Trưởng qua đời.

Rồi tôi lên lớp Ba, học với cô giáo hiền lành ít nói, rất nghiêm nhưng không bao giờ đánh đòn học trò, chỉ phạt quỳ gối nếu không làm bài tập về nhà, không chép bài đầy đủ vào tập Luân Chuyển. Khi xét tay dơ, không cắt móng sạch sẽ nhất là bọn con trai hay bắn bi, đánh đáo chỉ khẻ tay thôi. Đó là hình phạt thông thường dành cho lũ học trò nam nữ nghịch ngợm như quỷ sứ tụi tôi. Thuở đó, chúng tôi củng không hề giận cô thầy vì đã phạt mình, có lỗi mới bị phạt mà thôi thầy cô có la rầy cũng phải chịu, nếu về nhà mét ba má thì có khi còn bị phụ huynh cho thêm một trận đòn nên thân vì tôi không nghe lời thầy cô, giữ kỷ luật nhà trường.

Cô Nguyệt Ánh lớp Ba thì hay mặc áo dài, tay cúp phồng, hơi yểu điệu nhưng điềm đạm phần nhiều chỉ rầy la chứ ít đánh đòn, dù hình như cô thầy nào củng thủ sẵn cây roi dài ở bên mình hết. Năm đó bắt đầu có Tập làm Văn tức là cô ra một đề học sinh phải tập viết một bài văn có nhập đề, thân bài, kết luận. Trước đó, ở lớp Tư chỉ đặt câu theo các từ ngữ cô cho thôi nên tôi rất lúng túng chưa biết cách làm một bài dài như thế, đành về nhà hỏi má, má tôi phải đọc từng câu cho tôi chép. Hôm sau đem nộp cô, cô tôi đọc qua thì biết ngay không phải do tôi làm bài. Khi trả tập, thầy phê câu: “Em phải tự làm bài”, tôi thú thật với cô má tôi là tác giả nên như để khuyến khích, cô Ánh cho 5 điểm thay vì 3 điểm về cái tội không tự mình làm bài văn trên.

Kể từ ngày ấy, tôi cố gắng đọc thêm truyện tranh cổ tích, truyện ngắn nhi đồng, thỉnh thoảng lén đọc những trang tiểu thuyết của Bà Tùng Long, nhà văn Trọng Nguyên, Dương Hà trong tờ báo Sài Gòn. Mới ra hàng ngày, má tôi mua để theo dõi tin tức vì ba tôi cấm con nít đọc tiểu thuyết người lớn, nhưng theo ý nghĩ trẻ con của tôi hồi đó thì ba loại truyện dài, tiểu thuyết ấy đều lành mạnh, giáo dục chứ đâu có gì quá lố, bậy bạ dù có viết về yêu đương, vợ chồng đôi chút, nhưng vì ba tôi rất nghiêm khắc đối với con gái nên đành phải lén đọc trộm. Nhưng có lẽ nhờ vậy mà lần lần tôi khá lên về môn Việt văn, được cô khen tự làm bài được, tôi nhớ cũng đã rèn chữ đẹp để viết tập Luân Chuyển trong lớp vì nhà trường đặt ra là ở tiểu học mỗi học sinh phải lần lượt viết tất cả các bài học, bài làm, trong ngày vào một quyển tập đặc biệt để Ban Giám Hiệu kiểm tra việc học tập của lớp 3 đến lớp Nhất.

Nếu ở lớp Ba tôi được biết nhiều đến văn chương thì khi lên lớp Nhì tôi lại làm quen với âm nhạc qua người thầy mà tôi luôn kính trọng và yêu mến trong hai năm học lớp Nhì và Nhất.

Tuy thầy Nuôi không phải là nhạc sĩ chuyên nghiệp, nhưng thầy yêu nhạc và đã truyền lửa thích âm nhạc cho chúng tôi, những đứa trò nhỏ tếu táo. Thầy đã dành thì giờ để dạy chúng tôi những bài nhạc về quê hương, đồng nội như Nhạt Nắng, Hoa Xuân của Phạm Duy và trong giờ Nhạc, tôi đã làm gan hát bài Nhạt Nắng ấy mà có lẻ thầy yêu thích nhất nên tôi được hưởng trọn 8 điểm ngon ơ làm các bạn trong lớp xầm xì to nhỏ là thầy thiên vị, nhưng tôi mặc kệ, điểm cao là được rồi. Về Việt văn, có lần nhân dịp lễ Giáng Sinh, thầy ra đề “Hãy tả cảnh một đêm lễ Giáng Sinh mà (các) em đã dự”. Trong lớp tôi ngày ấy, có tôi đạo Công Giáo và cô bạn Hoàng Mai theo đạo Tin Lành, và sau khi thầy chấm điểm toàn lớp, khi trả bài thầy đọc lên cả hai bài của Mai và tôi, khen phần kết luận bài của tôi, thầy đọc xong cả lớp lại vỗ tay tán thưởng làm tôi đỏ mặt mắc cỡ nhưng thầm vui mừng. Sau đó, tôi nghe các anh, chị lớp Đệ Tam, Đệ Nhị kể lại thầy tôi đã đem bài luận văn ấy đọc cho các anh chị nghe như bài văn mẫu làm con bé Lý tầm thường tôi bỗng được toàn trường biết tên tuổi kể cả thầy Tổng Giám Thị, thầy Hiệu Trưởng.

Giờ Văn, Nhạc thì thế, nhưng trái lại đến giờ Toán, Hình Học, Động Tử thì tôi trở thành kẻ khốn đốn, tội tình nhất vì tôi dỡ môn ấy và đứng bét lớp. Thầy đã nhiều lần “thân tặng” tôi những ngọn roi đáng đích vì tôi dạy hoài vẫn làm bài trật lất về động tử một chiều, ngược chiều, nào là quảng đường, vận tốc, vòng xe gì gì đó ôi thôi nhức cả đầu, lại thêm vòi nước chảy vào hồ mấy giờ đầy, mấy giờ vơi, trời ơi học hoài không hiểu, thế là “bọn đì”. Tôi hải hùng giờ Toán muốn chết nhưng củng ráng ì ạch leo lên lớp Nhất cho hết cấp 1 (theo ngày nay) để đi thi Tiểu Học nhờ những môn học khác bù qua.

Một thời đi học thật vất vả, cực khổ nhất đối với bản thân tôi, nhưng bù lại với sự tận tâm, nhiệt tình “vì đàn trẻ thân yêu” của các thầy cô ngày đó đã đem lại cho tôi các kiến thức sâu rộng giúp tôi rất nhiều khi bước vào đời không bao giờ phai mờ thật đáng quý trọng.

Kỷ niệm những năm cuối bậc tiểu học để lại trong tôi rất nhiều điều không thể quên, thầy lớp Nhì theo lên lớp Nhất phụ trách Việt Văn, thêm thầy Kiêm Lữ dạy toán, cả hai thầy lẫn trò đều rất cố gắng dạy và học hết sức để chuẩn bị kỳ thi Tiểu Học đầu đời của học trò nhỏ. Thầy Văn đọc Chánh tả cả giọng Bắc và Nam để chúng tôi làm quen khi ra trường thì gặp vị giám khảo “người miệt ngoài”.



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 31.3.2018.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004