Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới

Chùa Thiên Niên Trích Sài Tây Hồ HàNội.




Lang Thang Một Rẻo Đất Ven Hồ Tây

Làng Trích Sài



T rích Sài là một làng mới có tên trong thời Lê Trung Hưng. Theo tấm bia Hậu Phật trong chùa Võng Thị thì thời Lê làng Võng Thị có hai thôn là thôn Đông và thôn Tây. Sau đó vì có mâu thuẫn trong nội bộ mà hai thôn đã tách thành hai làng: Trích Sài và Võng Thị nhưng tại bia không ghi rõ nguyên nhân vì sao mà chia tách hai làng? Tìm hiểu trong nhân dân hai làng Võng Thị và Trích Sài - được biết vào thời Lê Mạt, làng Trích Sài có ông Thái Bảo Đà Quốc công Mạc Ngọc Liễn cúng ruộng đất vào chùa Thiên Niên. Dựa vào thế lực này, bên Trích Sài đã dựng đình lập bia đưa vị thành hoàng Mục Thận về thờ tại đình Trích Sài. Chứng tích là tại chùa Thiên Niên có tấm bia Hồng Ninh nguyên niên ghi công đức của Thái bảo Đà quốc công đã cúng ruộng đất vào chùa Thiên niên. Tại nhà tổ của chùa có pho tượng Thái bảo Đà được truyền rằng đó là pho tượng Mạc Ngọc Liễn. (ngày nay lên chùa Thiên niên không thấy bia đời Hồng Ninh kể trên vì thời Vĩnh Thịnh các già làng đã khắc văn bia mới vào mặt sau bia Hồng Ninh, úp mặt bia Hậu này vào tường.. Vào năm 1998, tường hồi bên trái nhà tam bảo bị đổ vì lâu ngày, người ta phát hiện ra bia Vính Thịnh có mặt sau là bia Hồng Ninh nhưng nét chữ đã mờ, do đó ông Đặng Văn Vượng nguyên trưởng ban BVDT chùa Thiên Niên cho để mặt biaVĩnh Thịnh ra ngoài như cũ, không công bố có bia Hông Ninh nguyên niên mà chỉ có bia thời Vĩnh Thịnh), còn pho tượng Thái Bảo Đà đã được dòng họ Bùi xin thờ là tổ của dòng họ, không đặt tại gian nhà tổ của chùa nữa. Chúng tôi đã hỏi cụ Bùi Văn Bíu người giữ nhà thờ họ về việc này, cụ cho biết , thời Trịnh dòng họ Mạc bị đánh bại tại Cao Bằng, Vua Lê xử chém các ông trưởng ngành họ, còn con cháu họ Mạc thì tha chết và bắt đổi họ khác, sống quanh Thăng Long, Dòng họ Mạc ở Trích Sài tuy đẫ đổi là họ Bùi, nhưng vẫn giữ lễ hàng năm lên chùa làm giỗ cụ tổ Thái bảo Đà, nay có điều kiện đã xin chính quyền cho phép để dòng họ Bùi thờ cụ.

Theo Vũ Trung tùy bút của Phạm Đình Hổ chép truyện Nguyễn Kính (sđdtrg 87) là người làng Dị Nậu huyện Thạch Thất, năm Quang Thiệu đời Lê làm quan đến chức Đặc tiến Phụ quốc tướng quân Cẩm y vệ, Đô chỉ huy sứ. Khi Mạc Đăng Dung khởi lên, ông có công giúp đỡ nên được khai phủ Tây Quốc công, nhà Mạc ban cho Nguyễn Kính đổi họ sang họ Mạc, phong làm Tây Kỳ vương, cho con Mạc Kính là Mạc Ngọc Liễn lấy công chúa Phúc Thành làm quan đến Thái phó Đà quốc công. Bấy giờ thế nhà Mạc ngày càng suy, trong lòng Mạc Ngọc Liễn lo buồn khôn siết ... Một hôm, Ngọc Liễn được một dị nhân cho một cái kính vỡ làm hai mảnh, một bên có chữ Lê, một bên có chữ Mạc khiến cho ông ta không hiểu, lúc cầm từng mảnh lên soi, thấy chữ Lê to dần, còn chữ Mạc nhạt dần và nhỏ đi. Xem kính như vậy, Mạc Ngọc Liễn tỉnh ngộ bèn đem cả nhà cửa ruộng nương cúng chùa, rồi mang vợ con đi, vì thế không bị tai họa. Đến tháng 7 năm Giáp Ngọ 1594, Mạc Ngoc Liễn ốm nặng, khi sắp chết có thư để lại khuyên Mạc Kính Cung rằng “Nay họ Mạc khí vận đã hết, họ Lê lại phục hưng đó là số trời. Dân ta là dân vô tội mà để cho mắc nạn binh đao sao lại nỡ thế. Bọn ta nên tránh , chứa nuôi uy sức, chịu khuất đợi thời, xem khi nào mệnh trời trở lại mới có thể làm được. .....Lại chớ nên mời người nước Minh vào trong nước ta để đến nỗi dân ta phải chịu lầm than, đó cũng là tội không gì nặng bằng - ĐVSKTT tập IV trg 205.

Đình làng Trích Sài là một ngôi đình cổ, may mắn giữ được trong hai cuộc kháng chiến, tại đình có tấm bia “Thần từ hương hỏa điền bi” lập năm Vĩnh Tộ thứ ba (1621). Tại sân đình có đôi rồng đá uốn thân 3 lớp, đây là dáng điệu rồng được các nhà khoa học chú ý và đoán định về niên đại xuất xứ. Theo lời kể dân gian thì khi Thăng Long thất thủ (năm nào?) dân các làng ven đô ùa vào nội cung hôi của. Làng Sài lấy được đôi rồng đá, làng Cổ Nhuế lấy được cỗ kiệu bát cống mang về sử dụng cho đình làng mình.

Ông Phùng Văn Thi kể thêm rằng: “Đôi rồng đá này mỗi con dài trên 2m, cao 0,80m, nặng khoảng 1000kg hiện đặt ở đình làng Sài, Truyền thuyết kể rằng khi quân Pháp đánh thành Hà Nội lần thứ 2, thành vỡ, tướng Hoàng Diệu chết, quân sĩ đưới quyền bỏ thành mà chạy. Dân khắp nơi vào thành hôi của: Dân Cổ Nhuế lấy được bộ kiệu, Dân Võng thị lấy được cái chiêng cổ, tiếng rất vang ngân tới mặt hồ bên kia, dân Trích Sài lấy được đôi rồng đá, còn họ mang cách nào về đình thì không ai kể lại”. Bây giờ đôi rồng đá mang phong cách mỹ thuật đời Lê vẫn dầu giãi phong sương, nằm hướng ra Hồ Tây, tay truớc vuốt râu hãnh diện về vẻ đẹp của mình.

Trích Sài là một làng cổ, từ niên hiệu Vĩnh Tộ tam niên (1621) đến nay, làng vẫn giữ tên Trích Sài, không cải sang tên khác, dù cuộc sống đã có nhiều biến đổi. Trích Sài cũng là một làng có nhiều câu chuyện giai thoại, ngày nay còn nhiều người kể. Các cụ cao tuổi như Nguyễn Hoàng Đoái, Phùng Thi còn nhớ nhiều điều về chuyện làng dệt. Thuở sinh thời, cụ Nhũ là một lão nho nên cung cấp nhiều tư liệu cho các cán bộ bảo tàng, văn hóa dân gian đến làng khai thác

Đọc Tây Hồ Chí thấy có ghi chép về Trích Sài như sau: Đất làng Trích Sài là mã hình (trg 7) có gò Hi Mã (trg 12) có gò Ngũ Hành (trg 14) có một đầm sen vuông rộng hàng mẫu tên gọi Phương Đàm (trg 15) trong Phương Đàm có miếu thờ Vạn Thọ và Vạn Lộc. Ông Phùng Thi cho rằng miếu thờ ngày xưa còn lại, được dân làng tôn tạo thành nơi thờ Phật và Mẫu, gọi là Gia Hội Tự (trg 34). Cụ Nhũ là một cụ già nhỏ bé, nhưng trí nhớ còn minh mẫn, năm 1990 khi mà các ngôi đình Trích Sài, Võng Thị chưa được khôi phục, cụ đã cung cấp cho dân làng biết về những câu đối tại hai ngôi đình cùng thờ Mục Thận ở Sài và Võng

Câu chuyện về chia làng chúng tôi đã thuật ở trang trên, có một điều lạ rằng hai làng Võng Thị, Trích Sài cùng thờ một vị Thành hoàng là ông Mục Thận mà thần tích của thần Mục Thận đã chép trong Việt Điện U linh cũng được cả hai làng tôn trọng. Tại kho sách Viện Hán Nôm có tài liệu ký hiệu AEa 2/34 là bản “Hoàn Long Trích Sài Phường Thần tích”. Mà huyện Hoàn Long thì năm 1914 mới thành lâp bao gồm các xã khu vực ngoại thành Hà Nội. Không biết có bộ “Hoàn Long Võng thị phường thần tích”hay không? Nếu không có thì ngay tại cái tên tài liệu cũng cho thấy đầu thế kỷ XX, làng Trích Sài là làng lớn hơn Võng thị

Đời Trần có truyện “Thái úy Trung tuệ Vũ lượng công” trong sách Việt Điện U Linh do Lý Tế Xuyên viết như sau: “Xét Sử và truyện ông họ Mục tên Thân làm nghề đánh cá. Trong thời vua Lý Nhân tông (1072-1127) quan Thái sư Lê Văn Thịnh nuôi được tên gia nô người Đại Lý (Vân Nam) có thuật lạ, đọc thần chú xong biến hình thành hổ báo, Văn Thịnh cố dỗ để dạy mình thuật ấy, học được thuật rồi liền lập mưu giết tên gia nô và định dùng thuật hại vua để cướp ngôi. Bấy giờ vua Nhân Tông ngự ra Hồ Tây xem đánh cá, thuyền vua đang bơi trong hồ, bỗng thấy mây mù nổi lên phủ kín, rồi nghe có tiếng mái chèo tới gẩn trong đám mây mù trông thấy có con hổ lớn, nhe nanh giương vuốt chực hại người, Nhân Tông hoảng sợ, bối rối. Lúc bấy giờ Mục Công ngồi thuyền đánh cá ở gần, nhìn kỹ thấy thế nói: “Việc gấp lắm rồi” liền quăng lưới chụp vào thuyền kia, bắt được con hổ và nhận ra là Lê Văn Thịnh. Nhân Tông giận sai lấy dây sắt xích lại bỏ vào cũi rồi đày lên miền Thao Giang, vua khen Mục Công đã có công cứu vua , cất làm Đô úy, sau thăng tới Phụ quốc tướng quân, Khi mất tặng chức Thái úy. Vua sai dựng đền tạc tương thờ. Đền rất thiêng, có một con rắn to ở trong hốc cột bên đền, cứ ngày Rằm, Mồng Một lại ra nằm dưới chân tượng. Nhân dân vào lễ qua lại như thường, chỉ có người nào bẩn thỉu mà vào thì bị rắn cắn, Tối đến, rắn lại vào trong hốc cột.

Tới nay dân làng sửa sang ngôi đền đẹp thêm, thờ ông làm Phúc Thần.

Năm Trùng Hưng thứ 4 (1288) sắc phong là Trung Tuệ Công

Năm Hưng Long thứ 21 (1312) sắc phong thêm hai chữ Vũ Lượng

Câu chuyện ông Mục Thận còn chép trong Đại Việt sử ký toàn thư - kỷ nhà Lý triều vua Lý Nhân Tông: Bính Tý năm thứ 5 (Tống Thiệu thánh năm thứ 3) Mùa xuân tháng Ba. Lê văn Thịnh mưu làm phản tha tội chết, an trí ở Thao giang. Bấy giờ vua ngự ra hồ Dâm Đàm đi chiếc thuyền nhỏ xem đánh cá. Chợt có mây mù nổi lên, trong đám mây mù nghe có tiếng thuyền bơi đến, tiếng mái chèo rào rào vua lấy giáo ném. Chốc lát mây mù tan thấy trong thuyền có con hổ mọi người sợ tái mặt đi, nói rằng: Nguy lắm rồi! Người đánh cá là Mục Thận quăng cái lưới trùm lên con hổ thì ra là Thái sư Lê Văn Thịnh. Vua nghĩ Văn Thịnh là đại thần có công giúp đỡ, không nỡ giết chết, đày lên trại đầu ở sông Thao. Thưởng cho Mục Thận quan chức và tài vật, lại cho đất Tây Hồ làm thực ấp. Trước đây Văn Thịnh có gia nô người nước Đại Lý có pháp thuật kỳ dị, cho nên làm ra như thế để định cướp ngôi giết vua.

(Sử thần Ngô sĩ Liên bàn rằng:

Người làm tôi định cướp ngôi giết vua mà được miễn tội chết, thế là sai trong việc hình. Lỗi ở vua tin sùng Phật giáo

Đại Việt sử ký toàn thư tập 1 trang 242

Nhà xuất bản KHXH năm 1972


Theo cụ Nhũ kể chuyện thì đền Sùng Khánh ở Võng Thị lập trên vết cũ nhà ông Mục Thận. Nhân tại nhà cũ, có cây táo cổ thụ nên dân Võng Thị dùng gỗ táo tạc Ngai thờ, sau đó dân Trích Sài cũng lập đền thờ ông Mục Thận, họ xin làng Võng só gỗ táo còn lại để làm Ngai thờ và xin kết chạ làm Em .( Cho đến nay, bao giờ hội làng Võng mở hôm trước thì ngaỳ hôm sau mới đến làng Sài mở hội.)

Đình làng Trích Sài dựng năm nào thì chưa rõ, chỉ đoán định là đình mang kết cấu kiến trúc, mỹ thuật đời Lê, Đình chỉ còn Tam quan là dáng cũ, khu hậu cung đã bị phá hoại năm 1947, sau đó bà con xây dựng lại để thờ. Những năm HTX Dệt Thành Công còn hưng thịnh thì ngôi đình này đã bị dùng làm cơ sở sản xuất. Người ta thu gom cả phần cung cấm, dồn các đồ thờ lên gác xép. Ngay trong sân đình, họ xây thêm 4 nhà sản xuất, có ngôi nhà tường móng xây đè lên con rồng khiến cho khách đến tham quan không khỏi chạnh lòng. Sau khi HTX giảỉ tán, làng tu sửa lại ngôi đình, phá bỏ những ngôi nhà sản xuất. Sau gần 30 năm xử dụng đình làm nơi sản xuất, đến năm 1992 ngôi đình mới được trả về vị trí tín ngưỡng, làng Trích Sài đã tổ chức một cuộc rước lớn chuyển các đồ thờ, ngai ỷ của Thánh về đình, gọi là “Rước Thánh hoàn cung”. Cụ Nhũ năm đó còn khỏe, đã đọc giúp cho làng những câu đối bị mất trong chiến tranh.

Đất làng Trích Sài hiện nay bị nhiều nơi chiếm đoạt diện tích thành lập cơ sở mới, nhưng diện tích vẫn là 124.400m2 có 4 xóm là các xóm Ngoài. xóm Trong xóm Hồ, xóm Trại .

Các dòng họ trong làng có ba họ đông đinh là họ Nguyễn Hoàng, họ Nguyễn Văn và họ Phùng. Họ ít người là các họ Lý, họ Đặng, họ Bùi.

Tuy là một làng nghèo, nhưng cũng có người thi đỗ :

ông Hứa Văn Cương đỗ cử nhân khoa thi Mậu Tý năm 1828 năm thứ 8 đời vua Minh Mạng

ông Bùi Văn Mỹ khoa thi Ât Mão 1855 đời vua Tự Đức đỗ cử nhân.

Ngoài hai ông, làng Trích Sài có ông tú tài Phùng Xuất Nghĩa nổi quân Cần Vương, khi thất bại bị Pháp đóng cũi giải qua Hồ Tây.

Cụ Nhũ ở Trích Sài kể thêm rằng: Nơi nghĩa quân tế cờ trong làng Sài là nền đất nhà cụ Bùi văn Thự, thuộc xóm Từ Đường, nay là tổ 4 cụm 10. Sau khi tế cờ khởi nghĩa, Phùng xuất Nghĩa phong cụ Thự là Tham tán đại thần. nay làng Sài còn có con cháu cụ Thự.

- ông Lý Vinh là ông lý trưởng đương chức tham gia nghĩa quân được phong chức Đốc vận quân lương

- Cụ Đồ Tịch người làng Cổ Nhuế tham gia nghĩa quân, được mọi người tôn làm minh chủ. Khi việc bị bại lộ, đảng tan, cụ tự sát ở bến đò Vát (Hà Đông) không để cho địch bắt

Trích Sài là một làng thờ đa thần, vào trong làng ta gập đền Tam Thánh, điện Huy Văn và Am Gia Hội , đến đâu cũng là nơi mà nhân dan trong làng thường làm lễ

- Đền Tam Thánh; trong đền bày ba pho tượng Quan Vân Trường, Quan Bình và Châu Xưong với đôi câu đối thờ:

           Hoa quốc văn chương truyền cẩm tú

           Minh triều sự nghiệp thế quân thần

dịch là:

           Nét đẹp người Hoa truyền sắc gấm

           Triều Minh sự nghiệp đổi thay rồi.

Theo các cụ họ Lý trong làng Sài kể lại thì khi triều Minh bị đổ, có vị tướng họ Lý không chịu phục nhà Thanh, mang gia đình chạy sang Việt Nam. Xa đất nước quê hương, những người Minh hương đó canh cánh trong lòng nỗi nhớ quê, họ lấy gương của Quan Vũ ngày xưa, “thân ở tại Tào tâm tại Hán” luôn mang theo mình tranh tượng Tam Thánh, không chịu để cho ai biết tên mình là gì, các vị có dạy cho dân làng Sài và làng Bái làm nghề dệt Gấm. Dân nhớ ơn hàng năm có lệ vào ngày 20 tháng Giêng lễ rước luân chuyển từ Sài qua Bái, đến năm sau lại từ Bái qua Sài. Tại Bái Ân có nhà thờ tổ nghiệp , nơi đây có hoành phi : “Thái Gia Trữ Nghiệp” và đôi câu đối :

           Cơ trữ Nam lai bằng tổ nghiệp

           Xuân thu Bắc vọng phối thần hưu

dịch là:

           (Máy dệt qua Nam nên nghiệp tổ

           Xuân thu hướng Bắc nhớ ơn thầy)

Tục thờ Tam Thánh có ở các làng dệt : Bái Ân, Vạn Long, Tiên Thượng và Trích Sài. Dân các làng suy tôn cụ họ Thái là tổ nghề, nhưng cụ không nghe mà chỉ yêu cầu “ Nên thờ đức Hán Thọ đình hầu. Đền Tam thánh ở Trích Sài có thời gian là nơi hoạt động Đông Kinh nghĩa thục, có thời gian không hoạt động, vừa qua mới tiếp tục hương khói

- Huy văn điện: Huy văn điện chính là Miếu thờ Bà chúa Dệt.

+ Theo sử liệu và các cụ cao niên làng Trích Sài kể lại: Vào thế kỷ XV sau khi chiến thắng quân Chiêm Thành vua Lê Thánh Tông cho đặt điện Huy Văn tại phường Trích Sài để công chúa phu nhân Phan Thị Ngọc Đô cùng 24 tỳ nữ theo hầu và nhập tịch tại làng. Về ở phường Trích Sài, thấy cảnh dân làng vất vả cực nhọc, bà Ngọc Đô đem của cải thuê thợ đóng khung dệt, trồng dâu nuôi tầm, dạy dân nghề dệt lĩnh tơ tằm, một mặt hàng đẹp và nổi tiếng một thời. Đã có nhiều câu ca dao, áng văn ca ngợi nghề tổ :

           Nhắn ai trẩy hội thị thành

           Mua cho tấm lĩnh hoa chanh gửi về

Trong “Tụng Tây hồ phú” của Nguyễn huy Lượng có câu:

           Liễu bờ kia bay tơ biếc phất phơ

           Thoi oanh ghẹo hai phường dệt gấm

Công đức cao dầy của bà còn mãi trong lòng dân Trích Sài, khiến cho đời sống thay đổi. Tiếc thay khi bà sinh nở, chẳng may bị chết cả mẹ lẫn con. để lại nỗi buồn thương trong lòng dân Trích Sài. Mọi người tôn bà là “Bà tổ nghề Dệt” “Bà chúa Dệt lĩnh”. Các triều đại đều ban sắc phong thần cho bà. Sau 50 năm chiến tranh và các hoàn cảnh khách quan nên các sử liệu đều mất, bia đá cũng bị đập phá, ngay cả nơi thờ của bà cũng bị phá làm bếp ăn tập thể! Đến nay, dân làng chỉ còn giữ được một đạo sắc đề ngày 25 tháng 7 năm Khải Định thứ 9, một tấm bia Ký Kỵ lập năm Bảo Đại thứ 9.

Xin giới thiệu với các bạn đạo sắc của điện Huy Văn Trích Sài còn lại đến nay, Dịch nghĩa: Sắc cho phường Trích Sài huyện Hoàn Long tỉnh Hà Đông từ trước tới nay phụng thờ tôn thần Phan Thị Ngọc Đô phu nhân, Thần nguyên được tặng mỹ hiệu Trinh Uyển Linh Phù Dực Bảo Trung Hưng tôn thần. Thần luôn giúp nước che chở cho dân, nhiều lần linh ứng, hàng năm được ban cấp sắc phong, được phép thờ cúng. Nay đúng tiết trẫm tròn 40 tuổi, đã nhiều lần ban chiếu gia ơn, theo phép nước có thăng thưởng. (Thần) xứng đáng được phong tặng thêm (mỹ tự và phẩm cấp) là Trai Tĩnh Trung Đẳng Thần và cho phép (dân làng) được thờ cúng để ghi lại ngày quốc khánh mà mở mang việc thờ cúng

Hãy cung kính Ngày 25 tháng 7 năm Khải Định 9 (1924)

Thần có sắc mà không có nơi thờ thật là một điều đau lòng, nên nhan dân Trích Sài đã ngầm xây lại miếu thờ Chúa dệt. Ngồi nghe các cụ Nguyễn Hoàng Sâm, Đặng văn Vượng kể chuyện đấu trí xây Huy Văn điện mới thấy trí dân là lớn lắm. Lợi dụng bức tường che phía ngoài, các cụ lặng lẽ làm phía trong, đến ngày lên tường cao ngói đỏ làm cho cấp quản lý hạch họe đủ điều. Đọc lại báo cáo số 76/BC-UB ngày 27-8-1998 của UBND Phường Bưởi gửi Quận ủy Tây Hồ, HĐND Tây Hồ, và các cấp lãnh đạo mới thấy việc tổ chức rước Chúa hoàn cũng khó khăn biết bao. Nhưng được UBND Phường và VHTT phường ủng hộ, đám rước Chúa hoàn cung tổ chức ngày 9/9/Mậu Dần (28-10-1998) đã kết thúc thắng lợi. Từ đó đến nay, miếu bà chúa Dệt mang tên Điện Huy Văn không có thế lực nào cản nổi sự phát triển của tín ngưỡng thờ bà chúa Dệt trong lòng dân Trích Sài.

- Gia Hội tự: Các cụ trong làng thường gọi tên là Am Gia Hội, nhưng tên chữ đắp trên cổng am lại là Gia Hội tự. Tại tư liệu có ký hiệu AEa2/34 mang tên “ Phả thiêng về ba vị công chúa” kể rằng đời vua Lý Nam đế có 2 cô cong chúa là Phúc và Lộc vì muốn chống lại con cáo 9 đuôi đã xin vua cho đi học phép thuật để trị cáo. Trên đường đi, hai chị em gập bà Vạn Thọ cũng là một vị đại tiên. Ba người trở về ra mắt vua, và lập đàn để trừ yêu quái. Bà Vạn Thọ lên đàn niệm chú khiến cho trời đất ảm đạm sấm chớp ầm ầm mưa to gió lớn nổi lên, cây cối trong núi đổ gẫy, đất sụt xuống biến thành hồ, con cáo trắng chín đuôi vọt ra bị đại tiên bắt được bay lên không trung, còn các công chúa vẫn ngồi bắt quyết. Từ đó các bà được phong thần, dân gian thờ ngay tại chốn lễ đài . Trải qua các đời vua đều có gia phong mỹ tự. Vua Lý cho làm chùa để hai công chúa tu hành, về sau các công chúa đều tịch cả nên để chùa hoang cảnh vắng, nơi đó gọi là chùa Bát Tháp.

Các cụ trong làng kể rằng năm trước chiến tranh, có người dụng tâm công đức xin xây lại nơi thờ các vị công chúa, thờ Phạt, thờ Mẫu gọi là am Gia Hội. Lúc đầu am Gia Hội là một cơ sở nhỏ, thờ tiền Phật hậu Mẫu, nay các bà ở Trích Sài và thập phương xây dựng thành rộng rãi .đổi tên thành Gia Hội tự

Hàng năm, làng Trích Sài có nhiều lần lễ hội:

- Ngày 16 tháng 9 âm lịch hàng năm là ngày lễ đức Thánh Mục Thận

- ngày 20 tháng giêng là ngày lễ đền Tam Thánh.

- ngày 5 tháng Giêng là ngày lễ đền Chúa Dệt. Ngày đó ,người ta hát bài chầu văn có đoạn như sau :


           Nhờ đức Thiên Tôn dậy nết cửi canh

           Chân dày, tay dệt đã nhanh

           Văn chương chữ nghĩa rành rành bởi ai

           Việc cung chức tiền tài đủ vẻ

           Dậy nữ công vốn nghệ cho tường

           Quay tơ, lựa chỉ nhiều đường

           Dọc theo dậm mắt, dệt ngang có mành

           Đến sợi gốc phải giành một ống

           Mối đã to để dựng găng biên....


- Chùa Thiên Niên: Chùa Thiên Niên ở trên đường Lạc Long Quân giáp với làng Xuân La. Xưa từ làng lên chùa có con đường đi qua gò Ngũ nhạc, đi qua hồ Tây đến chùa, nên Tam quan nhà chùa làm có hướng nhìn về con đường làng. Sau này, người ta lấy đất để làm nhà máy gạch, nên nước vào trong ruộng, làm chìm con đường lên chùa, vì thế, mỗi khi có việc lên chùa, bà con thường phải đi theo đường Lạc Long quân. Trong lịch sử, chùa Thiên Niên là ngôi chùa xây ở gò Bát Tháp làng An Thái, đến đời Lê Thánh Tông vì thấy chùa không có người trụ trì, để hoang phế nên nhà vua cho dỡ chùa Bát tháp đưa lên đây xây dựng ngôi chùa mới lấy tên là Thiên Niên, chiều lòng bà phi Phan Thị Ngọc Đô. Trong suốt đời Lê có hai lần trùng tu chùa (xem bia Vĩnh Thịnh và bia ghi công Thái bảo Đà quốc công xây dựng chùa). Từ năm Thành Thái thứ 12 (1893) chùa xây dựng mở rộng và đúc chuông mới, (chuông cũ không còn)

Trong 9 năm kháng chiến, chùa thành nơi hoang phế, sau năm 1957 những sai lầm CCRĐ ảnh hưởng lâu dài, khiến cho việc đi chùa gập nhiều khó khăn. Từ năm 1964-1972 là thời gian máy bay Mỹ oanh tạc , chùa lại càng hoang phế, người ta dùng chùa làm kho chưa đồ quân dụng, các sư bỏ đi, nên nhiều tượng Phật cũng bị mất.

Năm 1987 trong cao trào đổi mới, dân được thật sự tự do tín ngưỡng, các thiên nam tín nữ đã góp phần tu sửa chùa. Lúc này có một người tự đến với chùa là ông Đinh, ông ta đã làm được các việc thay rui mè xà mục, lợp lại ngói trên tam bảo, sửa sang nhà tổ. Công việc đạt 3/10 nhưng cũng kịp thời chông lại sự hư hỏng vì mưa gió.

Kết cấu trên Tam bảo là kết cấu đời Lê, có nhiều pho tượng đẹp, tại chùa có 6 tấm bia mang các tên:

Thiên Niên tự bi 2 bia

Hậu Phật bi ký 2 bia

Thiên niên tự hậu Phật bi 1 bia

Hoàn Long Trích Sài thiên niên tự bi ký 1 bia

(bia Hoàn long ,,, đã được tuyển dịch và in

trong bộ Tuyển tập Văn bia Hà Nội 1978)

Nằm trên bờ hồ Tây, đát rộng, cảnh đẹp, chùa Thiên Niên nổi tiêng trong lịch sử, đồng thời cũng là nơi có nhiều câu đối hay:

       + Tiền tu Bát tháp di tung, phế dã tất hữu hưng, Phong dục hồ đầu khôi tinh đậu

       Hậu khởi Thiên Niên hiển xưởng, tần chi dĩ tồn cựu Sài trang địa diện ngật linh khu

dịch là:

       Trước tu sửa chùa Bát tháp dáu xưa, hoang dã tất dựng lại, Gió gợn đầu hồ, sao tốt đậu

       Sau xây dựng Thiên Niên chùa mới, để giữ gìn nếp cổ Sài trang đất đẹp một vùng thiêng) .

           * Ngũ nhạc củng tiền, lâu đài nhị thập

           Tây hồ nhiễu hậu, thế giới tam thiên

           * Sài phong đạc trấn Thiên Phù hữu

           Trang cảnh hương truyền Lãng bạc tây

           * Sài địa ấp dư quang, Lý triều tự tại

           Tây hồ đa tú khí liên tòa chân như

Hiện nay tại chùa, Giáo hội Phật Giáo đã cử về một vị đại đức để cùng ông Đinh trông coi chùa, nhưng hình như giữa hai người chưa có sự thông nhất nên có người mà quang cảnh nhà chùa kém hơn bên chùa Vạn Niên.


- Phong tục tập quán:


Trích Sài là một làng thờ đa thần, nhưng phong tục tập quán trong làng lại có nhiều điều phù hợp với xã hội hiện đại

Về quan hệ giữa chức dịch và người dân: Dân chào chức dịch khi gập nhau, có việc gì phải làm lễ để cậy nhờ.

Quan hệ trong dòng họ: Là có trên có dưới, dòng họ dạy bảo nhau theo đạo Khổng.

+ Việc Hiếu : trước đây việc đưa quan tài ra đông phải dùng đong khênh, làng có đòn khênh, nhưng tang chủ phải có lễ để mời làng trước khi đưa đám. Người tham gia theo chức sắc, nghi thức trong tang ma vừa theo lệ cũ, lại vừa theo Thọ Mai gia lễ như bố chết chông gậy tre, mẹ chết chống gậy vông, con gái không chống gậy thì lăn đường, khi đưa áo quan đi, phải theo lễ cha đư mẹ đón. Tuần tự các ngày cúng sau khi an táng là cúng 3 ngày, cúng 49 ngày, cúng 100 ngày, giỗ đầu, giỗ hết và sang cát Hiện nay, táng tại nghĩa trang thành phố nên làng chuẩn bị xe đẩy áo quan đên xe hơi đưa đám của Thành phố. Trước khi tống tiễn có đại diện ngành, làng đọc điếu văn để vĩnh biệt, nhân dân đến tiễn biệt. Có một thời bỏ áo xô gậy chống nhưng không hợp lòng dân nên vân theo tục cũ, có thêm lệ mới là xem giờ để nhập quan, đưa tang, hạ huyệt..

+ Việc Hỷ ngày trước cưới xin phải có các lễ dạm ngõ, ăn hỏi, xin dâu, đón dâu, lễ tơ hồng, Đặc biệt tại Trích Sai cô dâu về nhà chồng phải bước qua chậu than hồng đặt tại bậu cửa, để đốt vía xấu, không để tà ma bám theo quấy nhiễu.

Hiện nay, việc Hỷ có Luật Hôn nhân và Gia đình nên công việc đơn giản hơn, nhưng cũng xuất hiện “yêu sớm, cưói nhanh và ly dị mau”. Nhiều đôi trẻ chóng thành hôn nhưng cũng chóng tan vỡ vì lẽ quan niệm gia đình đối với các em còn đơn giản.

- Hoạt động văn hóa: Trong các làng cổ thành lâp Phường Bưởi thì Trích Sài là nơi duy trì được phong trào thơ trong mọi lớp người. Có tới trên 10 tập Tiếng thơ làng Dệt ra mỗi khi đến ngày kỷ niệm. Các nhà thơ đến đình Trích Sài ngồi nghe đọc thơ, bình thơ của nhau trong không khí vui vẻ. Làng cũng tự tổ chức được phần âm nhạc, ngâm thơ tạo thêm không khí. Nhìn chung là tốt đẹp, nhưng các tập thơ còn cấn cá vì chuyện “phục vụ chính trị” nên không thấy tiếng thơ của từng ngươì, mà bằng bằng như nhau:


                      Trích Sài giỏi lĩnh tằm tơ

                      Nào ai có biết làm thơ thế nào

                      Nay vui hưởng ứng phong trào

                      Rủ nhau mạnh dạn xung vào Hội Thơ



. . Cập nhật theo nguyên bản của tác giả từ HàNội ngày 18.3.2018.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004