Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới







LÃO TÁM TÀNG



Lão Tám Tàng dắt chiếc xe đạp, lửng thửng bước ra ngõ, rời khỏi đám tang ông Thảng - người em con chú ruột của lão, ra về. Lão đạp xe từng vòng, trông như chiếc xe không hề muốn đi. Lão nghe nỗi cô đơn quặn thắt trong lòng khi nghĩ đến lúc trở về căn nhà trống trơn, lạnh lẽo ấy. Hình ảnh mấy đứa cháu con ông Thảng hiện ra rõ ràng, chậm  chạp trong chiếc đầu khô nóng của lão - sao mà hiếu thuận, sao mà ấm áp, dễ thương quá đỗi. Từ thằng Tú, thằng Hòa, con Miên, con Vân đứa nào cũng răm rắp, bồn chồn lo cho ông Thảng hết lòng từ những ngày ông nằm viện cho đến khi đưa về nhà. Lớn nói, nhỏ nghe, đứa này thay phiên đứa kia lúc nào cũng có một trai một gái bên cạnh ẵm bồng, đút từng muỗng cháo, hớp sữa cho ông. Từ việc ngoài đến việc trong, dù lớn hay nhỏ, chúng nó sắp xếp, lặng lẽ cùng nhau lo chu tất, không một tiếng than thở, phàn nàn. Lão nghĩ nhớ lại, cả bốn đứa con ông Thảng, đứa nào cũng xinh, học hành đến nơi, đến chốn, có việc làm ổn định, nhất là đều có được mái gia đình hạnh phúc riêng tư. Mỗi lần có dịp ngồi một mình nghĩ nhớ lại như thế, Lão Tám thèm được như vậy lắm, luôn ước mong mình có được một đứa con hiếu thuận như thế, thì hạnh phúc biết ngần nào.

     Mặc dầu có tất cả bốn người con, hai trai, hai gái, nhưng Lão sống thui thủi một mình cô đơn, buồn tẻ. Những đứa con lão vất vã làm thuê, làm mướn quanh năm. Đứa phụ hồ, đứa khuân vát, đứa buôn bán chạy chợ; cuộc sống bấp bênh nay đây mai đó; có khi tết đến không tiền để về xe thăm nhà, họa hoằn lắm mới gởi cho lão ít tiền. Thậm chí, ngày nào lão cũng đến ăn nhờ nhà cô em gái, rồi tối về co ro ngủ một mình trong căn nhà trống vắng, lạnh lẽo. Từ ngày vợ lão vào Phan Thiết nuôi con dâu sinh, lão đi ra đi vào như chiếc bóng. Bấy giờ lão mới ngậm ngùi thấy cần có một người bên cạnh mình để trò chuyện, chia sẻ; nhưng thời gian có dừng lại đâu, cuộc sống có quay trở lại đâu, níu kéo cũng chỉ vô ích.  


         ***  


    “Tám -Tàng” là cái tên mà mọi người ở xóm Cồn đặt cho Tư Nhiên - con trai út của ông bà Kiểm. Tư Nhiên đụng đâu nói đấy, thấy chỗ đông người là nhào vô nói, trông bộ dạng lão “tàng tàng”; kênh kênh, lúc nào cũng nghĩ mình hay, mình giỏi hơn thiên hạ; mọi người chỉ nhìn, cười, im lặng, rồi cùng đặt cho lão là “Tám - Tàng”. Từ dạo đó, ai cũng gọi Tư Nhiên cái tên ấy - lâu dần “chết tên” luôn.     

  Con nhà giàu,  cha có chức vị trong xã, nên lão được cưng chìu, muốn gì được nấy. Ăn rồi cắp vở đến trường, về nhà không nhúng tay vào việc gì cả. Học dở, kéo lếch từ lớp dưới lên lớp trên, chỉ giỏi “môn” vòi tiền, la cà tám gẫu. Vở cuốn lại, dắt vô túi quần, muốn thì đến lớp, không muốn thì “cúp cua” chui vào ngồi quán cà phê, học đòi nói chuyện trên trời dưới đất. Đôi khi thầy giáo hỏi trêu đùa, “cậu mới chuyển trường đến hả?”, làm cả lớp cười ồ lên.     

    Lớn lên, lão đúng tuổi phải vào lính, cha mẹ chạy tiền để lão ở nhà làm “lính kiểng” - như cây kiểng chưng trong nhà. Ở nhà, như cây kiểng, lão chải chuốt, trang điểm, se sua quần này, áo nọ, đánh đọ với mấy đứa con nhà giàu có quyền lực ngoài thị xã, tự cho mình như vậy là “oách” lắm.     

  Lão theo cô Hiền - thợ may ở xóm Chùa, mồ côi cha mẹ sống với người anh trai, nhưng nổi tiếng xinh đẹp, nết na, đang có nhiều người để ý, săn đuổi. Lão nằng nặc đòi cha mẹ đi hỏi, cưới cô Hiền cho lão. Anh Hiền khuyên cô nên chấp nhận cuộc hôn nhân, vì nhà Tư Nhiên giàu, sẽ nhờ được bản thân về sau. Hiền về làm dâu, sướng đâu chẳng thấy, chỉ biết cô vùi đầu vào công việc, từ sáng sớm đến tối mịt; công việc như sắp lớp chờ cô. Không bao lâu sau đó, sự vất vả, và nỗi phiền muộn, đã nhanh chóng biến Hiền không còn là cô thợ may xinh xắn, mà là một người đàn bà lam lũ, tàn tạ.      

 Ở không dễ sinh tật xấu, lão nghiện cờ bạc, đỏ đen, hết xì phé, tứ sắc, đến xốc dĩa, rồi đề đóm. Bao nhiêu tài sản cha mẹ để lại cho lão dần dần không có cánh mà bay sang nhà người khác. Mất của, hết tiền - lão bắt đầu mắng chửi vợ con. Bà con chòm xóm thường xầm xì “Ngày nào không chửi rủa là như lão không ăn cơm được!”       

 Các con lão đi học lúc nào cũng đóng học phí xây dựng trường và các khoản thu chi đầu năm rất trễ. Thầy, cô giáo gởi giấy về nhà nhắc không biết bao nhiêu lần, vậy mà lão tỉnh bơ coi như không có gì. Thầy cô giáo không cho con lão vào lớp, kêu về nhà lấy tiền đóng mới được học. Chúng mắc cỡ, sợ sệt, biết về nhà cũng chẳng có tiền nên chạy tới nhà cô Út - em gái lão xin, rồi chạy lên trường vào lớp. Năm nào cũng vậy, cũng cô em gái lo cho các cháu lâu thành quen, cô như người mẹ thứ hai của chúng. Sách vở lão không mua, vợ lão đi xin sách cũ của người bà con đã học qua cho các con; nhiều khi lão hét toáng lên “học với hành chi cho mệt!” rồi gom hết sách vợ xin về nói mang đi đốt, nhưng thật ra lão đã mang đi bán giấy phế liệu.   

   Nhà lão làm một mẫu ruộng, nhổ cỏ dặm lúa gì cũng một tay vợ lão chăm, lão chỉ đứng trên bờ tám chuyện, hút thuốc, rồi về; vậy mà lúc cắt lúa, lão túc trực bên ruộng suốt ngày, chờ chở lúa về tận nhà, mới rời.    

   Lão mặc nhiên xúc lúa trong bồ, bán một ít bỏ túi chi tiêu riêng, còn bao nhiêu đậy cất kỹ. Mỗi lần có việc đi đâu, lão phả lúa cho bằng mặt bồ, rồi vẽ hình làm dấu, ngăn ngừa vợ ở nhà bán trộm. Hằng ngày, lão phát tiền chợ cho vợ; chỉ đưa vài chục lão dặn mua đủ thứ, vợ lão đành câm lặng, nín nhịn, đôi khi phải khóc ròng. Quanh năm bà không có lấy một xu trong túi cho ấm. Thậm chí, bà chỉ mặc quần áo cũ của chị em họ hàng bỏ ra cho; không mua nổi cái nón, đôi dép.      

   Bữa cơm, ai cũng hai sét chén lưng lửng rồi đứng dậy, có đói no gì lão cũng mặc kệ; nhưng tối đến, người ta thường thấy lão vào quán bà Tư ăn bún, ăn phở một mình. Mọi người chỉ biết cười  chua xót:  “Coi!  Lão Tám Tàng kìa!”    

  Sau vụ mùa, thu hoạch xong, bà Tám vội đi nhận mấy ký hột đào về nhà bóc vỏ, kiếm tiền sách vở, bút giấy cho con. Trông bà mỗi ngày mỗi gầy guộc, xanh xao. Đôi tay gân guốc thoăn thoắt bóc vỏ như chiếc máy âm thầm, lặng lẽ. Bà luôn nghĩ nhớ “trong nhờ, đục chịu”, để an ủi lấy phận mình. Trên gương mặt cam chịu của bà lúc nào cũng phảng phất nỗi buồn, dù có gắng cười, cũng vậy.  

    Có lần “vụ tám” mưa dầm mấy ngày nước ngập, dù lúa chưa được chín lắm, nhưng ai cũng đổ đi cắt sợ nước ngập, hư. Nhà lão cũng vậy, cắt lúa về, vợ lão phải còng lưng giê cho sạch đống lúa; nhưng vì ướt nên bà chỉ hốt lúa thiệt chắc bỏ riêng, số còn lại chờ khô sẽ giê lại. Lão nghi vợ bỏ “lúa lừng” nhiều để mang đi bán, liền hốt bỏ hết đống lúa lừng vào hồ nước. Lão vớt lúa lép ra, còn lại mang ra phơi. Lão chửi vợ: “Mụ giả bộ giê không sạch để hốt lúa đi bán sao? Qua mặt tui đây, đâu có dễ”. Bà chỉ biết khóc ròng.    

     Ngày mua chiếc máy quạt mới về, nhìn thấy lão loay hoay bao bọc, cột gói kỹ, bà chỉ biết câm lặng, quay đi. Chiếc xe máy trùm mền trong nhà, chỉ có lão mới được giở ra, con cái trong nhà không đứa nào được rớ vào.  Cho đến chiếc ti vi cũng vậy, phủ kín tấm vải nhựa, nằm im ỉm trên bàn; bà và con muốn xem, không dám lấy ra, phải qua nhà hàng xóm xem nhờ. Lão mua sắm vật dụng gì trong nhà, dường như chỉ để dành riêng lão, hay để chưng “kiểng”, tự hào là mình cũng có như ai.     

 Học dở, vậy mà chỉ theo người em rể học sửa xe đạp một tuần lễ, lão đã mày mò mở tiệm. Lão làm chậm, nhưng kỹ, nên dù lâu bà con trong xóm cũng mang nhờ lão sửa. Trong xóm, có cô giáo Nhân, nhờ lão sơn sửa lại chiếc xe đạp cũ của người bạn vừa cho. Nhân nhờ lão đã 2, 3 tháng, mà chưa thấy xong, ghé lại nhắc, hỏi lão. Lão nhăn mặt nói hổm rày bận quá, chưa đem cái sườn xe đi sơn lại được, ngày mai sẽ mang ra thị xã cho người ta sơn, rồi sẽ ráp hoàn chỉnh, vài ngày nữa là xong thôi.     

   Vài ngày sau, Nhân ghé lại. Lão bảo:      

-Cô có tiền đưa tui mấy chục, giờ tui đi sơn, mai lấy về ráp, hai ngày là có xe.      

Nhân yên tâm - vội mở xách tay, lấy tiền đưa liền cho lão. Cô dặn dò:     

-Chú sửa kỹ chút nhen, cái gì hư thay mới, đừng tiếc. Có chiếc xe cho thằng nhỏ đi học, cứ đưa đón hoài mệt quá! Đây, cháu đưa chú trước một trăm, bữa nào xong, nhận xe sẽ tính nhé!     

Trưa hôm sau, lão mang sườn xe vừa sơn còn ướt đến nhà Nhân, rồi bảo:   

   -Lấy móc treo cái sườn lên cho khô rồi mới ráp.     

-Sao chú không mang về nhà chú để mai khô ráp luôn.    

  -Ừ! Để đây cũng được, khô tui sẽ lên lấy.   

   Tối, Hưng - chồng Nhân, về nhìn thấy chiếc sườn xe, hỏi:     

-Cái sườn xe ở đâu thế?   

   -Dạ! Của mình đó, chú tư Nhiên sơn mới mang lại khi trưa, ổng nói để khô rồi ổng lấy về ráp xe cho mình.      

Nhìn kỹ sườn xe, Hưng nhận ra không phải sườn xe của mình. Sườn xe của bạn cho hiệu Butan, loại sườn cũ của Pháp, rất tốt. Anh cười:    

  -Không phải cái sườn xe của mình em à, của mình hiệu Butan, có chỗ dắt ống bơm. Ổng bán cái xe mình rồi, giờ mình đòi quá, ổng kiếm cái tào lao trả lại.    

  Nhân nửa tin nửa nghi, thầm nghĩ, không lẽ nào lại thế. Hai vợ chồng mang cái sườn xe xuống nhà lão. Hưng cười với lão:   

   -Chú có lộn của ai không? Đây không phải sườn xe của cháu.     

-Của mầy chớ của ai. Tao đâu có sơn sửa xe ai nữa đâu mà lộn. Người ta đến chỉ sửa sên lip, thay ruột, thay lốp sơ sài thôi.     

-Vậy đồ phụ tùng xe cháu chú tháo ra đâu?    

  Lão vào nhà lôi ra hai cái niền xe cũ rồi nói:     

-Đây, xe của mầy đây. Giờ muốn ráp tao sẽ mua đồ mới ráp vô cho mầy.    

  Nhân giận:    

  -Ủa! Nguyên một chiếc xe của cháu, sao chú chỉ đưa có hai cái niền, còn phụ tùng nữa đâu?    

  -Tụi nhỏ với bã bỏ đâu không biết, chắc bán nhôm nhựa hết rồi.    

  -Trời ơi! Chú trả hết lại đây cho cháu, nếu như chú không muốn sửa nữa cũng được!    

  Lão mặt đỏ phừng phừng, hét lớn:     

-Mầy nói cái gì? Mầy nghĩ tao bán xe mầy à? Vậy mầy về lấy giấy tờ xe xuống đây, tao cho nhận xe. Tao dùng …luật thôi.

     Hưng kéo tay Nhân ra về.

     Hưng nói:

     -Chú giỏi dùng luật quá hen, luật ăn cướp thì có!

     Quy - con trai lớn của lão, nghe thấy vậy mắc cỡ, chờ hai vợ chồng cô Nhân ra về, quay lại cằn nhằn với lão:

     -Ba làm gì kỳ vậy, nhận xe người ta thì sửa cho đàng hoàng, không sửa thì thôi còn này nọ…

     - Mầy biết gì mà nói, xe nó đó chớ xe ai?

     -Vậy còn nữa đâu? Sao chỉ có hai cái niềng? Ông ráp cho người ta lấy tiền hết rồi, ai mà không biết.

     Lão đỏ mặt, giận dữ quơ lấy khúc cây bên cạnh ném vào người Quy. Quy nhảy lên tránh khúc cây, rồi cắm đầu chạy một mạch. Lão hét toáng lên:

     -Cút ngay khỏi nhà tao, đồ mất dạy. Ai sinh mầy ra mà mày phản bội? Tao để cho mầy chết đói, cho biết tay - Lão gầm gừ, không ai trong cái nhà này được cho nó ăn.

     Bà Tám la vói theo:

     -Mầy chạy đi đâu, con ơi!

     Lão trợn mắt, quay sang vợ:

     -Còn bà nữa, liệu hồn đấy! Nó về là đuổi ngay, chứa chấp nó là chết với tui.

     Chiều tối, bà Tám xót ruột, sợ con đói, dạ bần thần cả ngày. Trời vừa nhá nhem tối, bà lén lấy tô cơm để sẵn trên tấm đan cửa sổ rồi lấm lét nhìn, thắc thỏm chờ đợi. Lão Tám Tàng thấy vợ đi ra đi vào, sinh nghi, liền nhìn tìm quanh quất; lão đã nhìn thấy tô cơm - lão gầm lên:

     -Con hư tại mẹ, trời ơi trời!

     Một lần, Huân - con út của lão, là thợ hồ, về thăm, dúi cho mẹ ít tiền để bà có chi tiêu lúc cần, lão cũng cằn nhằn, bì bù:

      - Không có tao làm sao có mầy mà mầy chỉ biết có mẹ, không điếm xỉa gì tới tao là sao?

      - Tui đưa cho má để bã đi chợ, chi tiêu trong nhà, đưa cho ông để ông ra quán ăn một mình hở?

     Lão nổi giận hét toáng lên:

     -Ai nói với mầy tao đi ăn quán một mình, mẹ mầy nói hả? Bà coi chừng tui đấy nghen.

     Huân đỏ mặt:

     -Tui thấy hoài chớ cần gì ai nói. Cả làng ai không biết như vậy - Huân cười khẩy, cựa là mẹ mầy, mẹ mầy, bắt ớn!

     Vợ lão đứng im, dửng dưng, như không nghe thấy. Bà đã quen với nỗi kham chịu -  lão nói gì thây kệ; bởi với lão, bà luôn nghĩ không biết, không thấy, không nghe cho khỏe.

      Về thăm nhà ít hôm, không chuyện nầy cũng gặp chuyện khác, luôn có chuyện cho lão mắng la, cho nên không đứa con nào về nhà lâu được.  Con Hà, con Ngân lấy chồng ở xóm Rượu, cách 3, 4 cây số thôi; vậy mà có đứa nào về thăm đâu, cả năm có mặt vài lần trong những ngày giỗ, ngày tết.

     Hà - con gái lớn của lão, ngày nào cũng đạp xe cọc cạch rảo từng ngõ xóm để mua phế liệu, mỏi rã chân. Nhiều lần, Hà ứa nước mắt khi nghĩ đến An, không biết giờ anh có còn nhớ cô không? Có còn ghét giận cô không? Thực tình, Hà đâu muốn thế, chỉ vì sự bất đồng nhỏ giữa cha mẹ hai bên về ngày cưới, mà sinh ra chuyện lớn, làm gãy đổ tương lai của đời cô. Nhà An xem 15 tháng 6 là tốt, chọn ngày này tổ chức lễ cưới, rước dâu. Thiệp mời đã gởi hết cho họ hàng, người thân, và bạn bè. Chỉ còn mười ngày nữa là đến ngày vu quy của Hà, lão Tám Tàng gặp thầy nào bày vẽ không biết, lại cho ngày ấy không tốt bằng ngày 20. Lão thông báo lại bị nhà trai từ chối vì họ đã gởi thiệp mời rồi không thể hoãn lại. Thế là lão tức giận, bắt Hà đi trả của, mặc dầu Hà năn nỉ, khóc lóc, lão cũng lạnh lùng, mặc kệ. Cha mẹ An không chấp nhận ngày 20 như lời lão, nhưng lão cũng khăng khăng không thay đổi ý mình; bắt Hà đi trả lễ, hủy bỏ cuộc hôn nhân này. Thế là cuộc hôn nhân tan vỡ, Hà buồn khổ, suy sụp, bỏ cả ăn ngủ - suy nhược nặng, phải nhập viện mấy tháng mới hồi phục. Mỗi lần lâm cảnh khổ nhọc, cô đơn - nhớ lại, Hà luôn thấy tiếc nhớ, buồn tủi cho cuộc đời con gái mà đã sớm trải qua chuyện bất hạnh dang dở, đớn đau!

     Ngân – con gái út của lão, ra chợ mua đầu trên, bán đầu dưới, kiếm tiền cá mắm; nếu có thương cha, nhớ mẹ cũng tạt ngang gởi con cá, miếng thịt rồi tất tả chạy về, làm gì có thời gian ngồi lâu. Lúc ngồi buồn một mình ở hiên,  lão réo tên từng đứa ra chửi: “ Ông nội cha nó, con gì con, tụi nó là cha tui chớ con gì. Toàn là đồ bất hiếu”. Bà Tám chỉ cười: “Ông đang chửi ông đấy!”

     Khi bầy con đã lập gia đình riêng hết rồi, lão bảo vợ ăn riêng. Ruộng đất lão cho người ta mướn, mỗi mùa được vài trăm ký lúa, lão giành riêng cho mình. Vợ lão đành xách nón ra chợ mua bán lẻ trái cây. Bà ngồi bám lấy chợ, bán cả ngày, ăn trưa lây lất đâu đó, chiều mới tất tả về nhà. Khi nào lão có tiền thì bảo nấu riêng, khi hết tiền, sà ngồi vào mâm - cười giã lã: “Chà! Bữa nay tui bận quá, ăn ít hột.”.

     Đến ngày giỗ cha mẹ lão, bà làm mâm cơm tươm tất cúng, lão không mua thêm gì còn la ầm lên:

     -Bà cúng cha mẹ tui sao không có gì hết vậy? Ruộng đất để lại biết bao nhiêu, mà sơ sài thế hả?

     -Tui chỉ có chừng ấy, có gì tui cúng nấy.- Giọng bà thản nhiên, ông có thì mua đủ thứ theo ý ông mà cúng, ruộng đất để lại tui có ăn gì.

     Cuối cùng, hai vợ chồng lão kẻ nhà trên, người nhà dưới. Dù bà có bệnh đau cũng chẳng hề hấn gì đến lão. Bà sống ngoài chợ nhiều hơn ở nhà, chỉ tối về ngủ. Bà thường tự an ủi mình: “Lão chẳng biết có mình, thì mình cũng chẳng thấy có lão, trong cuộc đời nầy”.

      Mỗi năm chỉ có mấy trăm ký lúa cho thuê ruộng, không đủ chi tiêu, lão thường trưa chiều lên nhà cô em gái ăn nhờ. Sáng, trưa, chiều lão đều có mặt đúng bữa, rồi về nhà thui thủi. Có khi lão bật điện, có khi nằm im trong bóng tối, nghe cô đơn gặm nhắm buồn phiền…


         ***  


       Lão Tám Tàng dắt xe đạp vào sân,  lê bước lại ngồi bên hiên nhà. Lão cảm thấy quá mỏi mệt, lắng nghe hơi thở hổn hển. Lão nhìn ra khoảng sân vừa nhá nhem tối, nhắm mắt, thở dài thườn thượt.

       Màn đêm đang buông, lão bật ngã lên nền xi măng lạnh ngắt…     


 01/2018



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ NhaTrang ngày 04.03.2018.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004