Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới

tiểu thuyết


ĐẤT BỎNG



        TẬP II



PHẦN THỨ NHẤT


CHƯƠNG 1


C hù dật dờ bước từng bước trên con đường đất từ Cửa Ông về Cẩm Phả. Trong túi còn đúng hai mươi bảy xu. Nắng ong ong báo một ngày hè oi ngột. Từng bụi cây rải rác hai bên làm con đường thêm heo hút chứ không thể dừng nghỉ. Vài chú chim lặng lẽ nhặt tìm thức ăn thấy động chỉ chạy dạt vào vệ cỏ chẳng chịu bay. Xa xa những ngôi nhà thấp bé lợp ngói tàu, ngói máng đen xỉn, mái ràng ràng vàng bẩn cũ kĩ. Những hàng rào đan mắt cáo sơ sài còn sáng sủa bên những vạt ngô đã khô vàng. Trước mắt Chù, con đường khô khốc rộng hơn hai mét len lách giữa những bụi sim hoang, táo dại, nho mua. Sim mái đang bung hoa. Màu tím hồng ngơ ngác khô khao và hoang dại. Từng làn gió mơ hồ động khẽ. Những cánh hoa mỏng mảnh rời rã đổ từng mảng trắng hồng tím xám dưới gốc. Chù thập thững như thế từ lúc còn tối đất, chừng cuối canh tư gì đấy khi tiếng gáy rộn lên xa gần không rõ là gà rừng hay gà nhà. Đến giờ, mặt trời đã chếch ngang vai. Mãi rồi cũng thấy hàng đa xanh thẫm. Rảo bước tới, Chù gieo mình xuống vạt đất rải dày lá khô. Bóng đa to, trùm kín cả khoanh đất rộng trước chùa. Chùa âm hồn cầu cho những người yên nghỉ dọc nghĩa trang người Hoa, người Kinh, người tây. Phía trên đường là đường tàu điện, tiếp đến một đồn điền rộng của Su ba giăng Lương. Ngước nhìn lại phía bốt điện, anh dang ruỗi chân tay. Những đốt xương rãn ra, kêu căng cắc.

Cẩm Phả chưa hồi phục sau cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 1929. Làm vỡ mày vỡ mặt chỉ đủ tằn tiện sống. Đấy là Chù. Thanh niên sức dài vai rộng. Còn bao nhiêu ông bà, chồng vợ, anh em xo xúi kiệt quệ, con cái bìu ríu, đánh ruồi chẳng đủ cò ăn, khó khăn thiếu thốn trăm bề. Bọn chủ còn hạch sách. Cu li bần cùng khố dây có việc như được ân huệ ban phát. Chù làm công, kéo than đưa vào sàng. Tháng tư năm ngoái, nhóm anh có hai người bị đuổi. Họ chẳng lười nhác gì. Tên đốc công công nhận như vậy. Cùng với hơn chục người trong nhà sàng, họ bị đuổi do thiếu việc. Chả ai rõ ngọn ngành thế nào. Tối hôm ấy, anh nghe mấy người gọi anh đi đấu tranh. Đám đông tụ tập đã lâu trước phòng làm việc của tên đốc công, Chù mới tới. Tiếng ầm ĩ sôi sục từng đợt. Tên đốc công đi đi lại lại trong căn phòng hẹp. Cu li đông ngẹt. Chù đứng ngoài, cố len lách mới vào được. Gần trăm người vây quanh bàn giấy tên đốc công.

- Chúng tôi đòi phải gọi các thợ bị đuổi trở lại. Ca đêm phải giảm ba giờ làm việc. Các ông không được đánh đập thợ. Tăng lương hai mươi phần trăm.

Dưới ánh đèn nhạt nhoà hầm hập hơi người, tên đốc công dịu giọng:

- Thôi được! Thấy anh em làm lụng vất vả, tôi hứa sẽ nhận lại các thợ bị đuổi, giảm giờ làm việc ca đêm. Đánh đập thợ thì thôi, anh em xí xoá cho. Trong lúc công việc dồn thúc khó tránh khỏi bực dọc, tức tối. Cũng vì hòn than hòn gio cả. Chúng tôi cố không để xảy ra nữa. Về yêu cầu tăng lương của anh em, tôi sẽ chuyển lên chủ nhà máy. Khi nào có tin sẽ thông báo lại. Anh em yên tâm. Gìơ xin mời anh em nghỉ ngơi, mai còn làm.

Mấy ngày sau, chủ nhà máy trả lời không thể và không có quyền tăng lương. Hắn đã đề nghị lên chủ chính giải quyết. Mọi người không được nghe xúi giục, chịu khó làm việc và chờ đợi. Sự việc dần dần trôi vào yên lặng. Cu li đi làm, nghe ngóng động tĩnh. Chả thấy tin đi tin lại gì. Vậy là đấu tranh. Gà lên chuồng một lúc lâu, thợ thuyền ai nấy nấu nướng ăn uống xong, kéo nhau lên bàn giấy chủ nhà máy, đòi tăng lương. Chủ nhà máy hung hăng đe doạ:

- Các anh không làm thì nghỉ. Chủ không thuê mướn các anh nữa.

Nói rồi hắn đứng lên, bỏ ra khu nhà xưởng. Chù nán lại lúc nữa. Khí thế anh em lúc ấy chùng xuống. Họ túm tụm bàn tán. Chủ nhà máy lại quay vào, khoá cửa phòng làm việc, lững thững bước xuống cảng. Anh em đứng tản mát xung quanh rồi dần dần ai về nhà nấy.

Nghe nói sáng hôm hai mươi hai tháng tư năm ba mươi ấy, cu li ngoài mỏ Mông Dương bãi công đòi tăng lương. Họ rải truyền đơn kêu gọi mọi người chuẩn bị kỉ niệm ngày Quốc tế lao động. Khí thế đang xẹp lại bùng bùng bốc cao. Bà con anh em ơi! Bãi công. Người đang làm bỏ về. Người chưa vào ca, tập trung dồn đống lại, bừng bừng khí thế.

Sau ba ngày, chủ nhà máy chấp nhận tăng lương. Chù cũng theo anh em nghỉ việc, chán ngán ở nhà, tụ tập bàn tán. Tin tăng lương đến với mọi người rộn vang như pháo nổ. Những người bị đuổi trở lại làm việc rưng rưng nước mắt cảm ơn anh em. Họ mừng. Chù cũng mừng. Xét cho cùng, cái mừng ấy là mừng cho sự tiếp tục làm đầy tớ chủ.


Vùng mỏ sôi sục. Ở Cẩm Phả hội kín rải truyền đơn rồi tới lúc không rải nữa, họ đón phát tận tay người đi làm về, thúc giục anh em thợ cùng nhau đấu tranh đòi ngày làm tám giờ, tăng tiền lương, chống chủ nghĩa đế quốc, ủng hộ liên bang xô viết. Cờ đỏ búa liềm được cắm trên đống than, goòng than. Trong Mông Dương, công nhân nhất loạt nghỉ việc, đòi tăng lương. Ngay tại nhà máy sàng rửa Cửa Ông, một đoạn đường ray bị lấy mất giữa lúc có tin đoạn đường sắt kéo than từ mỏ ra bị phá hỏng.

Yên yên được vài tháng, cuối năm lại nghe hội kín rải truyền đơn trên tầng Cẩm Phả và trong nhà máy sàng Cửa Ông, phản đối đế quốc Pháp đàn áp dã man các chiến sĩ Xô viết Nghệ Tĩnh. Họ cắm cờ trên núi Trọc, Cốt Mìn và treo áp phích cảnh cáo ngay tại hàng rào quan chánh mật thám Cút Xô mới đổi về Cẩm Phả. Họ lấy dây buộc đá vào cờ, ném treo lên dây điện cao thế trên đường giáp phố Cũ, phố Mới. Anh Kha - người cùng nhóm với Chù kể lại. Chả biết anh có chân trong hội kín hay không, Chù nghe, thấy ngờ ngợ. Sao mà Kha nói đúng những điều mình thấy rõ mà chưa nói được, chưa nghĩ được vậy. Nhưng rồi anh bị bắt. Chúng bắt anh ngay trước mặt Chù. Qủa thật, Chù chỉ thấy đốc công đưa hai cút lít quần soóc, áo trắng ngắn tay, lăm lăm vào nơi làm việc. Chúng nói với nhau vài ba câu ngắn rồi túm anh, trói tay dẫn đi. Anh không nói lời nào, nhìn Chù bằng cặp mắt bình thản. Hai ngày sau, nghe tin anh bị đánh đến chết ngay tại Đồi Cao phía trên nhà máy sàng.

Chù còn làm ở nhà máy hơn năm nữa. Những kẻ bị coi là cứng đầu trong xưởng bị bắt, bị đuổi, bị mất tích. Quan hệ giữa chủ và thợ trở thành đối kháng. Cu li làm nặng nề, cực nhục hơn. Tên đốc công kiểm tra ngang qua. Anh đang móc trượt cáp, quay đít lại. Hắn cho anh coi thường, làm ẩu, quật roi vào lưng. Thợ xung quanh ngừng làm, lục tục kéo đến. Trước khi bước nhanh, hắn tuyên bố đuổi việc anh. Sau năm ba mươi ào ào khí thế ấy, nhiều người đang làm bên cạnh anh, nhiều người quen mặt, nhớ tên bị bắt bị giải đi rồi. Cuộc sống khó khăn hơn. Công việc khó kiếm và nặng nhọc hơn. Cơm cá ruội cá rích cũng không còn no bụng nữa. Bỏ ngay việc, anh về lán. Ngủ được quá nửa đêm, Chù trở dậy. Nghe tiếng gà gáy rộn, anh tìm về Cẩm Phả. Thiếu gì việc. Có điều đâu cũng nhọc nhằn cay đắng cả thôi.

Nằm chán, Chù ngồi dậy, ngao ngán nhìn cái nắng càng lúc càng gay gắt. Hai hào bảy trong túi đây, sẽ làm gì, ở đâu chờ việc. Cuộc đời đày ải quá nhiều rồi. Phải tìm đủ mọi cách đứng lên. Phải có quyền, có tiền mới nở mũi, mở mắt ra.

Đứng dậy, vặn lưng mấy cái, Chù đi. Con đường càng vắng và heo hút. Một bên mỏ đang mở. Một bên biển. Một bên xa một bên gần. Chù biết mỏ vì tiếng động thưa thớt dội về. Nơi ấy chắc anh đổ mồ hôi sôi nước mắt nay mai. Một bên biển. Nước đang xuống nếu không sóng đã oàm oạp. Gío còn thảnh thơi thủng thẳng ở đâu đó, không thấy vào.

Về Cẩm Phả, anh mới rõ cuộc sống cay cực hơn. Ăn bữa cơm tại phố Cũ, Chù cố ý dềnh dàng hỏi đường tìm người tìm việc. Cô chủ quán khuyên anh:

- Anh chưa nghe câu kí Hòn Gai cai Cẩm Phả à? Cai có nhiều loại. Loại ăn trên ngồi trốc, quyền to lợi to nhưng chả thiếu gì cai làm không đủ ăn. Lên tầng lắm khi còn nhịn đói ấy chứ. Cai thì nhiều như lá dong ngày tết. Hàng trăm người có một cai. Năm bảy người cũng một cai. Ở đây cai thầu ê hề nhưng than gio độ này bê bết lắm. Cu li bị dãn, bị đuổi nhiều. Người nheo nhóc về quê, kẻ thành lang thang đầu phố ngõ chợ. Ông gì vừa đi đây. Trước có tiền có của rồi tai nạn, giờ lê la các quán, tối tối ngủ gầm cầu, hè đường. Đâu cũng người thất nghiệp. Họ túm tụm, khóc rưng rức. Dãy phố buồn như nhà có tang. Cai Quệ lừng danh một thời phải bỏ sở về làm thợ sửa đồng hồ phố Li Ông kia. Anh sang phố Mới, thuê nhà mà ở, tìm việc mà làm. Nhiều người quê ra làm mỏ không nổi, làm nghề khác cũng sống tốt.

- Xa không cô?

- Đây! Thẳng đường này. Chỉ một rẻo thôi, không phải hỏi ai đâu.

Rời hàng cơm, Chù bước thong thả trên con đường trải nhựa giữa hai dãy phố. Nắng bắt đầu xiên khoai. Mồ hôi rịn đẫm lưng áo, chân tóc, chảy thành vệt. Mãi sau này anh mới biết đây là con đường nhựa duy nhất dài hơn cây số vùng Cẩm Phả. Dân làm nhiều nghề. Anh đánh xe bò kéo, bác xích lô, ông kẹo kéo, bà quán cơm…Ai là dân Nam Định, dân cầu Tõm. Chồng ở quê, đi ngoài tiện thể cứ xả bừa xuống sông, nghe lõm bõm. Vợ mang khoai ra rửa. Quái! Đếm kĩ rồi. Năm củ cả thảy sao giờ lại thành sáu. Toan nhặt bớt lại một củ, chợt nhận ra, khe khẽ trách chống:

- Ỉa đâu không ỉa lại ỉa ngay cầu mương nhà mình?

Tay chồng lẩm bẩm:

- Tao ỉa thật nhưng trôi hết tao mới về. Chắc của nhà thằng nào?

- Còn thằng nào vào đấy? Chỗ ấy nước quẩn.

- Sao không nhìn?

Ai khoẻ yếu ra sao? Ai mồm miệng đỡ chân tay, hay dừa việc. Thằng nào mới ra làm mỏ? Ra mỏ được mấy năm? Quê đâu? Hà Nam Phủ Lý hay Hà Nam Phong Cốc? Làm nghề gì? Vợ con ra sao? Ai lấy ai? Ai thích gì? Học hành thế nào hay mù chữ mấy đời rồi? Ai có họ hàng hang hốc với ai, đầu cua tai ếch ra sao? Ai lấy vợ thứ hai, thứ ba? Làm sao lại lấy thế? Cô ấy con ai, có tử tế đứng đắn không?

Ai cũng có thể trả lời tường tận. Bán hàng mà. Rỗi việc, nhiều chuyện. Chỉ cần người hỏi có chút cảm tính với mình. Họ ngồi không, đang rỗi, rảnh việc rảnh mồm muốn có chuyện làm quà, muốn tỏ ra mình là người hiểu biết. Thế là chuyện đất chuyện trời đổ ra xủng xoảng bất kể chiều tối sáng trưa.

Cẩm Phả lúc ấy là đồn. Đồn nằm trong châu. Châu Cẩm Phả gồm Hạ Thổ (đã được gọi thành Hà Tu) Cẩm Phả, Cửa Ông (gồm cả Mông Dương), Cẩm Phả đảo (Vân Đồn) và các đảo chung quanh. Trừ vùng đảo Cô Tô ngày ấy thuộc đồn Ba Chẽ rồi sau thuộc Tiên Yên, Móng Cái.


- Ở đây ngoài hai khu vực phố Cũ, phố Mới đại đa số là người Kinh phiêu bạc ra làm than có quê hương bản quán rõ ràng. Từng tốp từng đoàn có người đứng đầu, người quen biết thông thuộc đường đi lối lại đưa ra. Ở khu vực khác: Dương Huy, Quang Hanh, Đá Chồng, Tam Hợp, Cẩm Bình…phần đông người dân tộc và người Kinh ngụ cư lâu đời. Người dân tộc chủ yếu là Sán Dìu. Họ tự gọi là San déo nhín (Sơn dao nhân). Mình gọi họ là dân Trại. Trại đất, Mán quần cộc, Mán váy xẻ…Người Sán Dìu chăm chỉ cày cấy chăn nuôi, săn bắt và hái lượm. Họ từ phía nam Trung Quốc di cư đến các vùng biên cương đông bắc Việt Nam khoảng ba trăm năm nay, dần dần dịch chuyển vào trung du, miền núi khác và định cư những vùng bán sơn địa. Họ có khoảng ba ngàn người ở Cẩm Phả, làm cả ruộng nước nhưng không nhiều, chủ yếu làm lụng trên những chân ruộng khô sát núi. Ruộng nương trồng lúa lốc (chịu hạn, cần rất ít nước) ngô, kê, khoai với nhiều loại cây cho củ khác: dong riềng, dong trắng, từ, canh, cọc dậu…Họ dùng trâu bò cày. Lưỡi cày thường lắp thêm mũi phụ nên rất bền và sắc, thích hợp với nơi đất cứng, nhiều sỏi đá. Họ biết dùng phân súc vật, phân xanh bón ruộng, nói thổ ngữ Hán Quảng Đông (ngữ hệ Hán Tạng). Ăn cơm tẻ là chính. Khi cảm sốt lui, người Sán Dìu hay ăn cháo gạo, cháo ngô. Bữa ăn thường đơn giản: Rau, dưa muối, tàu xì xào thịt săn bắt được nhưng lễ hội thì ồn ào ầm ĩ, chế biến nhiều, cầu kì, ăn uống rôm rả đến mấy ngày. Trong các cuộc vui, phụ nữ đội khăn, mặc áo dài đơn hoặc kép. Aó kép bên trong ngắn, màu trắng, bên ngoài dài hơn, màu chàm. Yếm đỏ, thắt lưng trắng, hồng hay xanh lơ. Váy gồm hai mảnh rời, chung một cạp, dài quá đầu gối, màu chàm. Xà cạp trắng. Vòng cổ, vòng tay, hoa tai, dây xà tích bằng bạc. Các ông già vấn tóc, búi khăn, áo dài thâm, quần trắng. Nam giới mặc như người Việt. Nhà nền đất, vách bằng phên, tre chẻ đập dập, róc mấu, đan hoặc trình tường bằng đất dày hay thưng ván gỗ. Mái lợp cỏ tranh, ràng ràng hay ngói móc, ngói ống. Có nơi nhiều thế hệ sống chung trong nhà dài hai ba chục mét, quy tập thành thôn, thành bản. Việc vận chuyển, ngoài gánh gồng, họ còn dùng xe quệt. Xe quệt là phương tiện vận chuyển chính. Xe làm bằng tre gỗ, không có bánh, dùng trâu kéo trên nhiều địa hình khác nhau. Anh nghe có chán không?

- Không cô ạ! Cô kể nghe thấy thích lắm, lại hiểu biết nữa. Cháu cũng đang rỗi ấy mà!

- Người Sán Dìu thờ cúng tổ tiên, cúng trời Phật. Đạo chưa được sâu rộng chỉ chú trọng tín ngưỡng. Có nhiều nét riêng hoặc tương đồng với phong tục tập quán, kiêng kị, cưới hỏi, ma chay, lễ tết, hội hè với người Hoa. Họ dùng âm lich, thờ phụng tổ tiên, thờ thổ thần thành hoàng ở đình, chọn ngày giờ tốt cưới hỏi, tang ma, khâm liệm, chôn cất, làm nhà. Trong đám cưới chú ý nhất có lễ khai hoa tửu tại nhà gái, có tục cưới lại rất đặc biệt, hầu như không thấy ở các dân tộc khác. Họ ăn tết âm lịch, đoan ngọ, rằm tháng giêng, tháng bảy, trung thu, trùng thất (ngày 7 tháng 7) trùng cửu (ngày 9 tháng 9) trùng thập (ngày10 tháng 10), đông chí…Riêng tết đông chí còn mang í nghĩa cầu mong con đàn cháu đống. Họ dùng hình thức địa táng với nghi thức quan niệm rất riêng. Khi hạ huyệt, con cái phải từ phía chân quan tài bò quanh miêng huyệt. Con trai bò từ trái sang phải. Con gái bò từ phải sang trái, vừa bò vừa xô đất lấp huyệt. Lúc đứng dậy, mỗi người vốc một nắm đất chạy thật nhanh về nhà, bỏ vào chuồng trâu chuồng lợn với í nghĩa mong cầu gia súc sinh sôi nảy nở, tiếp đó chạy vào ngồi lên thúng thóc với quan niệm ai dính được nhiều thóc thì may. Ngày mồng hai tháng sáu âm lịch có tục cúng xuống đồng và ngày trùng thập cúng cơm mới. Họ có lối hát giao duyên gọi là soóng cọ (soọng cô), hát đám cưới, lễ ca, hát ru, kể chuyện thơ…Nhều chuyện cổ hay như vua cóc, cô gái mồ côi…múa dâng đèn, múa tầm xích, múa nhảy trừ ma, múa sư tử, múa gậy (lại thẹt soóng), múa đôi nam nữ…Khi cô dâu về nhà chồng có tục hát (ca thán) về việc con gái chưa đền đáp công ơn của cha mẹ đã phải đi lấy chồng. Bà mối trải chiếu, mắc màn cho cô dâu cũng phải múa và ca những câu hiếu nghĩa, cầu mong con đàn cháu đống. Họ gọi làng là sôn, sống từ mười đến mười lăm nhà, cách nhau khá xa. Cây xanh trồng lấy bóng mát lấy quả ít, chủ yếu là nhãn mít, đi lại theo lối mòn, cửa nhà thấp.

Chờ chủ quán lấy hàng đưa cho khách, khách chào bước ra, Chù lên tiếng:

- Cô ở đây lâu chưa? Sao hiểu kĩ thế ạ?

Cô hàng cơm còn trẻ chúm chúm miệng, nuốt nước trầu rồi lại bỏm bẻm nhai:

- Lâu thì biết thôi. Khoẻ như anh, xin đâu chả được việc. Cùng lắm theo người ta đi rừng, chặt cây, vác gỗ.

- Làm sơn tràng á cô?

- Sơn tràng đã sao? Sợ sốt rét chứ gì? Làm mỏ đã chắc hơn? Bị đấm đạp, bị coi khinh, khổ cực chứ bỡn đâu? Cũng sốt rét, sâu quảng, ho lao đầy ra.

- Nhưng cháu đã quen việc, cô ạ!

- Thì chờ đấy! Tối, cai Quỳ về, đến mà hỏi việc. Ngay dong bên lối lên nhà quan Đại lí giữa dốc ấy. Cũng phải quà cáp lễ lạt đấy. Hỏi người ta chỉ cho hay nhờ người nào đó dẫn lên.

- Cháu đã nghe bà chủ trọ nói rồi.

Chủ quán lững thững xuỗng nhà dưới rồi nhanh nhảu mang lên búi giẻ ướt. Cô đưa búi giẻ lau qua lau lại mặt bàn rộng rồi sắp chồng bát rếch đưa xuống. Tiếng lách cách rộn rào va nhau.

Chù muốn nghe chuyện vì trời còn nắng. Về nhà trọ lại ngồi nằm sốt ruột chờ đợi nên anh ngồi lại. Cô chủ lên, hai tay chùi vào hông quần, coi như sạch, chả cần biết tay khô hay chưa:

- Anh uống nước?

- Vâng!

Chủ quán rót nước, đưa lại phia Chù:

- Anh đi đâu thì đi. Tối một lúc hãy tới. Người ta còn cơm nước, ăn uống nghỉ ngơi. Đến sớm không lợi đâu.

- Vâng! Cháu chờ ở đây đến tối, được không cô?

- Được chứ! Có mất gì của tôi đâu. Quán cũng vắng khách.

Cô chủ phe phảy quạt. Thỉnh thoảng lại nâng tay, phảy với dăm bảy nhát cho người khách còn trẻ chịu nghe chuyện.

- Người Dao cũng có nguồn gốc từ Trung Quốc sang Việt Nam làm ăn sinh sống từ thời Lý Trần kéo dài đến giờ. Họ là con cháu của Bàn Hồ (Bàn Vương) - một nhân vật huyền thoại rất thiêng liêng trong họ tộc, trong thờ cúng. Có hai nhóm Dao: Thanh Y và Thanh Phán. Ở Cẩm Phả có Dao Thanh Phán, quãng vài trăm người. Dao Thanh Y chỉ thấy qua lại bán thuốc ở chợ, ngủ nghỉ đâu không rõ. Bà con Thanh Phán khai phá đất hoang, bãi hoang ven chân núi, sông suối. Dẫn nước vào ruộng, họ vừa làm ruộng vừa làm nương. Chủ yếu họ sống trên vùng núi, khai phá lấy đất trồng cấy hoa màu. Họ coi lúa nương chiếm vị trí quan trọng trong đời sống nhưng mỗi năm chỉ trồng vụ hè thu. Việc xen canh gối vụ hoa màu khác giúp họ bảo đảm nhu cầu lương thực thực phẩm. Họ thường ở nhà sàn nhưng bắt đầu có nhà nền sàn và nhà nền đất, làm nghề thủ công như nghề mộc, làm giấy, đan lát, rèn nông cụ sản xuất, đúc bạc…nhưng nhỏ lẻ trong từng gia đình. Họ nội, họ ngoại, con cái ra ở riêng cũng làm nhà gần nhau, sống hoà hợp, chân thành, nâng đỡ nhau. Sống thành làng, có nguồn nước, có bãi chăn thả nhưng số lượng và mức độ phân chia không giống nhau, thay đổi theo từng thời kì. Họ thường du canh du cư, trồng bông lấy sợi, tự dệt vải mặc. Một bộ quần áo truyền thống thường rất kì công, tốn hao nhiều thời gian công sức. Vào dịp lễ tết, họ sắm sửa đồ dâng cúng tổ tiên và các thế lực siêu nhiên. Rượu là đồ uống thường xuyên trong bữa ăn hàng ngày. Tìu bâu - loại rượu nổi tiếng của người Dao đấy.

- Bác Xuơ! Bác Xuơ!

Mấy đứa trẻ từ ngoài huỳnh huỵch chạy vào, vừa chạy vừa gọi. Chủ quán ngừng chuyện, gọi với ra:

- Làm gì như ma đuổi vây?

- Bác bán cho cháu chai rượu.

Cầm lấy cái chai không, đảo mắt tìm phễu, Xuơ hỏi:

- Mua cho bố mày hay mua cho ai?

- Cho bố cháu.

Cầm rượu trả tiền, cả ba đứa hồng hộc chạy ra. Xuơ với theo:

- Khéo không ngã!

Rồi Xuơ ngồi xuống. Chuyện lại nở như bắp rang:

- Người Dao tin mọi vật đều có linh hồn, gọi là vần. Khi chết hoặc bị huỷ hoại, vần biến thành ma miên. Phát nương, tra lúa, gặt hái…họ đều chọn ngày tốt, giờ tốt khá kĩ. Bất kì có việc gì hệ trọng liên quan nhiều đến sản xuất và sinh hoạt, người Dao đều làm lễ cúng. Cúng vào nhà mới, cúng thóc giống, cúng nương, cúng hồn lúa, cúng cơm mới… Thờ cúng tổ tiên ở nhà tộc trưởng hay từng gia đình. Tết nguyên đán, thanh minh (tảo mộ ông bà tổ tiên), tết mồng năm tháng năm cúng bánh, rằm tháng bảy lễ xá tội vong nhân là tết lớn thứ hai trong năm…Ngoài ra, họ còn thờ cúng Bàn vương (chẩu đàng). Bất cứ nhóm Dao nào, dòng họ nào cũng chú trọng tục lệ này và coi vịêc cúng Bàn vương là việc làm liên quan đến vận mệnh của mỗi người, mỗi gia đình, dòng họ và dòng tộc. Còn một tục lệ rất phổ biến là lễ cấp sắc. Tất cả những người đàn ông đều phải trải qua. Thậm chí lúc sống chưa làm được lễ cấp sắc, sau khi chêt, con cháu phải làm. Nó là một tục lệ phổ biến coi như bắt buộc với tất cả đàn ông người Dao. Tháng bảy, ngày lập thu, họ không ra đồng. Tháng tám ngày dần không vào rừng. Trai gái lấy nhau phải so tuổi, bói chân gà xem có hợp nhau không. Đám cưới có tục chăng dây, hát đối đáp giữa nhà trai nhà gái trước khi vào nhà, hát trong đám cưới. Lúc đưa dâu, cô dâu được cõng ra khỏi nhà gái và phải bước qua cái kéo thày cúng đã làm phép mới được vào nhà trai. Phụ nữ khi có thai, khi sinh đẻ đều được gia đình săn sóc chu đáo, tự lo liệu tất cả mọi công việc để bảo vệ thai nhi và người mẹ trong quá trình sinh đẻ. Thày tào có vị trí quan trọng nhất trong việc tang ma và thờ cúng, làm chay. Không ai được khâm liệm xác chết vào giờ trùng với giờ sinh người sống cùng nhà. Lễ làm chay cho người chết được tổ chức sau nhiều năm thường được kết hợp với lễ cấp sắc cho một người đàn ông nào đó trong gia đình. Lễ được tổ chức trong ba ngày, đánh chén lu bù, thoải mái. Lễ hội thường được tổ chức vào ngày tết. Hội làng, hội hè gắn liền với những dịp quan trọng chủ yếu trong đời sống sinh hoạt. Họ vui chơi, ca hát, nhảy múa, tung còn, đẩy gậy, bắn nỏ…Hội còn là nơi giải quyết những va chạm, xích mích trong từng người, từng gia đình, từng dòng tộc. Anh nghe đã chán chưa?

- Dạ! Cô biết nhiều thế. Chắc thời trẻ, cô chìm nổi, từng trải lắm?

Rót thêm nước vào bát của Chù, Xuơ nhả bã trầu ra tay rồi vứt chéo qua cánh cửa mở:

- Cũng thường thôi. Ở đời nghe nhiều, chọn lọc lại chứ đắng cay cực khổ quá, lúc nào cũng nghĩ kiếm miếng ăn thì sức mấy mà nhớ.

Trời bắt đầu nhập nhoạng. Bọ mát bay loạn xạ. Xuơ đẩy cho Chù chiếc quạt mo, chuẩn bị thắp đèn, bốc củi vào bếp. Một đám người vào mua hàng, vớ chiếc điếu bát, hút lọc xọc. Xuơ đã lên, phẩy nhẹ quạt cho tan khói.

- Người Tày còn gọi là người Thổ, Thủ, Phén, Tày áo nâu. Họ có truyền thống làm ruộng nước từ lâu đời, nhiều kinh nghiệm. Ngoài lúa nước, người Tày còn trồng lúa khô, hoa màu, cây ăn quả và chăn thả trâu bò, lợn, gà, ngan, ngỗng…Gia súc thả rông trên đồng bãi. Họ nuôi tằm, kéo tơ, dệt lụa. Thổ cẩm nổi tiếng với nhiều loại hoa văn đẹp, độc đáo khiến người thấy phải trầm trồ. Bản người Tày thường cạnh khe suối, ven đường cái, trong thung lũng, thuận tiện cho việc trồng cấy lúa nước. Có bản tới vài trăm nóc nhà sàn. Bộ sườn nhà làm theo kiểu bốn, năm, sáu, bảy hàng cột. Nhà hai hoặc bốn mái, lợp ngói máng, tranh hay lá cọ. Chung quanh nhà thưng bằng ván hoặc liếp nứa. Mỗi bản thường có tên gọi riêng theo địa hình, đặc điểm tự nhiên. Rất ít bản đặt theo tên người. Mỗi bản có nhiều dòng họ khác nhau, từ ba, bốn đến hơn mười dòng họ. Trưởng bản quyền lực to lắm, nói người nghe đe người sợ. Họ theo đạo Phật, đạo Giáo, đạo Khổng và thờ các linh vật, bái vật. Việc cúng bái ma thuật vẫn thấy thường xuyên trong từng gia đình. Mỗi bản đều có miếu thờ thần đất gọi là thó tỷ (thổ địa). Hàng năm, họ có lễ hội đình, lễ hội lồng tồng. Người Tày hát lượn, hát quan làng (hát trong đám cưới), hát then, đàn tính, thổi kèn lá, mua sư tử, ném còn, kéo co, đánh gụ…Trời ơi! Gụ của họ phía trên bằng, có con to như cái mâm đồng làng tôi thời xưa, còn loàng xoàng cũng như cái nồi đồng điếu chứ không như mình. Gụ chỉ to bằng cái bát hoặc như quả găng quả ổi. Họ đánh cừ én (cầu chinh), khăng, đi cà kheo, đuổi chó, đẩy gậy, vật…Trong những ngày lễ tết, người Tày làm nhiều loại bánh: bánh chưng, bánh tày, bánh gai, bánh rán, bánh khảo. Bánh bột hấp nhân bằng trứng kiến. Cốm được làm bằng thóc nếp non hơ lửa hay rang rồi mang giã. Xôi nghệ, bánh bạc đầu. Họ trồng bông tự dệt áo quần nhuộm chàm không thêu thùa trang trí. Phụ nữ mặc váy. Áo ngắn cánh bên trong, áo dài bên ngoài, thắt lưng màu trắng xanh, đầu vấn khăn đen, cổ đeo vòng bạc. Nam mặc quần tứ thân màu đen hoặc nâu vắt chéo ngang hông.

Tốp khách nữa vào hàng. Mấy người khách lúc trước cùng nghe chuyện với Chù, ngồi xích lại, nhường chỗ, chờ nghe kể nốt. Nhưng sau khi nhận tiền trao hàng, Xuơ nhìn Chù giục:

- Gìơ này, anh chuẩn bị theo người tới nhà cai Quỳ là vừa. Không phải trả tiền nước đâu. Cứ đi đi. Đi chong chóng mà về! Hôm nào cần, ra mua hàng nhá!

Quay sang phía mấy người khách, Xuơ giảng giải trong lúc Chù đã đứng lên:

- Anh ta mới đến, đang tìm việc. Ở thuê nhà bà Thạo. Tứ cố vô thân.


Gái dùng bàn tay này nắn dọc cánh tay kia từ nách xuống rồi đổi bên nắn lại. Trời tối đã lâu. Cô đi làm về, mệt, nằm, chưa tắm giặt. Mấy hôm nay, Quỳ chuyển cô vào chân xúc than. Từ sớm đến tối, công việc nặng nhọc, vất vả. Về nhà, hai cánh tay, bắp đùi đau cứng. Trên tầng, cô câm lặng, đôi khi đánh mắt sang phía Quỳ. Vẫn bộ mặt thản nhiên, lạnh lẽo nhưng đằng sau đó biết đâu chứa đầy chặt niềm kiêu hãnh ngầm, một sự hả hê, tự đắc, thoả mãn. Quen mui thấy mùi ăn mãi, trưa hôm ấy, Quỳ hẹn cô xuống nhà hắn chơi. Gái thừa biết những gì sẽ xảy ra sau đó. Làm thân con gái, quá một lần như bỏ đi rồi. Đằng này, sau hơn năm, cô đã thất thân với Quỳ mấy bận. Rào trước đón sau, hắn xa xôi cho Gái biết công việc làm lụng xúc chuyển luôn tay, vất vả cực nhọc, rải mồ hôi sôi máu mắt. Gái nằm trên sạp giường, thở dài ngán ngẩm. Hình ảnh hôm nào hiện lên rõ nét. Chị Cầm ơi! Lúc này chị ở đâu? Đời em rồi khác gì đời chị, không được bằng đời chị. Con gái con lứa chưa đủ mười sáu tuổi đã thành đàn bà vì công việc, vì miếng cơm manh áo. Bố em còn nhận thằng chó dái là đồng hương. Đồng hương đồng khói gì nó. Hở cái gì ra, nó liếm tất. Em đã thành đồ chơi cho ông chú đồng hương ấy rồi. Hôm nhặt cây cành, chuẩn bị củi đun cho ngày hôm sau, em quên làm sao được. Sắp cơm vào cặp lồng cẩn thận cho hắn, em mới đi. Anh em phu còn túm tụm giở soong nồi. Chị không ăn, thường kiếm một chỗ ngồi khâu vá quần áo hoặc chằm lại nón. Em vô tư nhặt bẻ cây cành đến lúc chợt trông thấy hắn. Nhìn trước ngó sau, hắn ghé lại chỗ chị. Hắn ngồi xuống. Em lo thay cho chị. Bụi cây rung giật cựa quậy. Người vô ý không thấy nhưng em theo dõi từ trước, chẳng lạ gì. Lúc sau, hắn quay ra. Trước khi đi còn tè một bãi. Chị ngồi dậy. Em thấy chị hoá đá mà thương chị quá. Hôm sau, chờ hắn bắt đầu ăn, em ra chỗ chị. Thấy em, mặt chị bạc như đất ải gặp nắng dữ. Chị kể em nghe gia cảnh. Chồng chị bị sâu quảng, ôm hai ống chân thối ruỗng, nằm nhà rên rỉ và trông con. Ba đứa. Đứa lớn mới năm tuổi. Đứa bé nhất hơn hai năm rồi mà đi chưa vững, suốt ngày lê la gào khóc. Nó gào như con mèo hen. Mũi dãi dầm dề, đen cáu từng mảng chỗ tay quệt. Em chưa biết anh nhưng nghe hiểu và thương xót cho cả gia đình chị. Đời sao nhục nhã thế? Nếu nghe theo hắn, em vẫn được nhàn hạ nhưng đời em ra gì nữa. Hắn gạ gẫm hẹn hò không được, nổi cáu, mấy hôm sau đưa em ra xúc than. Trời lạnh rồi. Nước uống chỉ một thùng. Ai nấu chả được. Cơm hắn mang từ nhà đi. Không nấu nướng gì nữa. Hắn cười cười như cợt giễu em. Em khổ quá, chị ơi! Ra ngồi chỗ chị. Chị nhìn em không nói. Em hiểu hết. Chị thương em không nỡ nói cũng như em thương chị, thấy chị khổ chỉ dám làm lơ. Chị thở dài, nắn nắn vai, bóp đùi cho em, nói câu ẩn chứa bao đau xót, thấm đẫm nước mắt. Chưa có gia đình, em kiếm chỗ khác mà làm. Chỗ khác là chỗ nào hả chị. Chị nói chị không biết. Nếu biết, chị đã đi rồi. Hai người ôm nhau khóc mãi. Em nghĩ ai cũng tốt, cũng thương em kể cả su ba giăng Quỳ. Đời đâu phải là giấc mộng lại dày đặc chông gai. Trông tử tế thế mà hắn lại ăn thịt người, ăn thịt em, ăn thịt chị, ăn thịt bao người khác. Đồng hương đồng khói đấy chị ạ. Sau ngày tủi hổ nhục nhã ấy, em biết mình trải qua mất mát, đổ vỡ ghê gớm lắm, đeo đẳng đến hết cuộc đời. Còn hắn, vẫn bình thản, vẫn ngọt nhạt, vẫn cười cợt. Hắn coi chuyện ấy nhỏ như người mải chơi về khuya, ngày nóng bức gặp nước mát, ào xuống tắm một cái. Xong là thôi. Xong là thôi cũng được, hắn đeo đẳng dây dưa, được một đòi hai, được ba đòi bảy tám. Hắn chẳng mất gì. Nhà cửa vợ con vẫn đầy đủ, giàu có. Mình mất cả đời. Chị ơi! Có ai khổ như em không? Cái Thuần, con chú Cải đấy, hơn em vài tuổi, chơi với nhau từ bé. Nó cứ tươi rói không phải suy nghĩ lo lắng gì. Còn em. Bố cả đời ngược xuôi, sống chết trong gang tấc. Mãi đến khi quá tuổi, phiêu bạc về mỏ, lấy mẹ em muộn màng. Đáng lẽ em phải được vô tư như chúng bạn chứ!

Đảm thấy Gái nằm, tưởng con ngủ, cầm quạt mo xua muỗi. Vô tình, chị xua đi những oi ngột bám chằng trong lòng nó. Gái uể oải ngồi dậy. Chị giục:

- Đi tắm ù đi rồi vào ăn cơm. Mệt lắm hả con?

Ngoài hiên, mấy đứa em nhôn nhao sắp mâm bát.



Bị giam mấy ngày, Sỏi được thả. Anh không có tội gì. Mảnh giấy chúng thấy ở nhà Sỏi là một phần bài “Cu li lầm than ở Kế Bào” đăng trên Phụ nữ tân văn, xuất bản tại Sài Gòn năm 1929 do Nguyễn Thị Hồng viết. Đi đường anh thấy, nhặt về gói hàng. Chả rõ ai bỏ dưới lạch giường. Đã trót bắt rồi phải tẩn một trận, giam mấy đêm cho biết mùi rệp xiên muỗi đâm, không dám tư tưởng bậy bạ này nọ nữa. Năm ngày trong hầm giam cực hết chỗ nói. Cũng may, nhốt chung toàn anh em quen tên biết tiếng. Tin - người sống ở vườn cây bác Động rồi Phàn… Họ bị đánh đau hơn anh. Mồm Phàn bị báng súng dộng vào, sưng húp và bầm tím, hễ nói là bật máu. Tin nhỏ người nhưng nhanh nhẹn và có kinh nghiệm. Anh dùng giẻ tẩm nước tiểu, xoa bóp nâng nắn cho mấy người, kể chuyện cực nhục khi làm than, đổ mồ hôi nước mắt. Chủ túi lớn bé căng phồng. Mình dạ dày lép kẹp. Hai ngày sau, chúng dồn mấy người ra xe trong đó có Phàn. Tin ở lại. Vẫn những chuyện gần gũi thường ngày, Tin chỉ kể lại sao thấy chua xót đau đớn xa xót vậy. Chị Hồng mới sinh con hơn chục ngày, đưa lên tầng, kê đặt dưới bụi le, xúc than. Lúc nhìn đến con, kiến vàng bâu đặc. Đứa bé tím tái vì khóc giẫy quá lâu. Sỏi cũng ở đấy chứ đâu. Chị vừa kêu giời vừa gạt kiến cho con, nước mắt mồ hôi đầm đìa mặt mũi. Đứa con không chịu bú, ngậm vú lại nhả ra. Nó uất ức hay chị không còn sữa. Chuyện thằng Tào ngay dưới khu nhà Sỏi. Nó không cha không mẹ, đi ở cho bà Mao. Người gầy gò. Không ai mới nhìn nghĩ nó đã chín tuổi. Ngày ngày, Tào dọn dẹp nhà cửa, nhặt than, gánh nước đưa đón con bà chủ suýt soát tuổi nó đi học, không để trẻ con bắt nạt cậu. Đứa nào giở trò phải đánh lại. Không đánh lại được thì chịu đòn thay. Trường cách nhà hơn trăm mét. Việc có thế. Có thế thôi mà thằng bé chín tuổi quần quật suốt ngày. Tào cắn răng, so vai gánh. Đôi thùng gỗ to. Sức nó mỗi bên nửa thùng. Bọn trẻ đánh quay. Nó dừng lại xem, chưa kịp tham gia đã tối tăm mặt mũi. Guốc bà Mao đập côm cốp vào đầu. Khổ thân thằng bé. Nó vừa chạy vừa giữ chiếc đòn và đôi móc sắt.

Có tiếng rên, tiếng trở mình của người nằm bên. Ánh sáng tù mù trên cột đèn ngay cạnh trại hắt lại. Bọn lính đi tuần tra. Lát sau, tất cả chìm khuất lặng lẽ. Tiếng gió thở qua vòm lá nhãn như reo. Tiếng chuột chạy rúc rích phía chân tường. Gìơ này, chắc mẹ con Xuơ ngủ kĩ rồi. Không rõ chúng có hành hạ, đập phá gì sau ngày anh bị bắt?. Tiếng Tin thì thào: - Anh ngủ chưa? Có đau lắm không? Không biết đấu tranh thì mình còn khổ. Nhà Tốc đấy. Chắc anh đã biết. Hai vợ chồng làm tầng, con cái lít nhít, rách rưới nheo nhóc. Vợ chồng luôn cắn cấu, đay nghiến, chì chiết nhau. Bác Tốc đập tan mấy cái bát mẻ, đồ đạc chính của gia đình, ầm ầm thét thúa. Mấy đứa trẻ xo ro nép vào chân giường, chân mẹ. Đêm ấy, bác gái quấn đứa con gái đang ngủ, tay bồng thằng bé mới lẫm chẫm ra bờ đìa, nhảy xuống. Anh em thợ đi làm khuya về phát hiện may cứu được chứ không giờ thành cỏ rồi. Anh cũng làm lụng đầu tắt mặt tối cả ngày có hết khổ đâu? Tại ai? Chả nói anh cũng biết, bọn chủ mỏ, su ba giăng, sếp kíp, cai kí… đấy. Anh đã thấy chúng đói khổ, chạy ăn từng bữa lúc nào chưa? Chúng làm gì mà vợ con suốt ngày phè phỡn? Chồng ăn trên ngồi trốc, đi đâu kẻ dạ người vâng. Vợ như thùng chứa, ăn biếu ngồi chiếu cạp điều. Anh em mình chúng coi ra gì. Làm lụng suốt ngày, cầm đồng lương bố thí phải mang ơn. Tết nhất, anh phải mang quà cáp tới nhà cai kí, sếp kíp. Chúng đã bao giờ đến nhà anh vì tình nghĩa chưa?

Tiếng bánh xe sắt lọc cọc. Tiếng dạo của phu đổ thùng dội tới. Người nằm cạnh Sỏi lên tiếng: - Thằng Quệ tầng tôi. Nó làm cai đấy. Mấy lần rồi, hỏi nhà tôi, hẹn xuống chơi. Tôi chối phắt. Mình còn se lấy đâu chè đãi khách.

Góc phòng, tiếng rên lại cất lên. Một câu chửi đổng. Tối quá. Chả biết của ai nghe cằn cộc, tục tĩu.

Sỏi được tha về, thay đổi hẳn. Anh làm tầng được chăng hay chớ, chỉ mau mau về vun thu nhà cửa, sửa sang lại chung quanh. Ngày nghỉ, anh xuống nhà Đá. Trời chẳng chịu đất, đất phải chịu trời. Dù không đồng í cho Sỏi lấy Xuơ nhưng việc nó, nó quyết. Đá đành mặc, giao đãi với Xuơ như người không thân không sơ, nửa chay nửa mặn. Ngay khi Sỏi ra tù, Đá, Đồng chỉ ghé qua, hỏi han chốc lát rồi thôi. Sỏi cũng không bận tâm. Tối nay, anh đến. Anh em chém nhau đằng dọng, không ai chém nhau đằng lưỡi. Chị Đá đã xong hàng, tắm rửa dọn dẹp phía sau. Các cháu đi chơi hết. Đá nằm trên phản quay lưng ra cửa. Thấy Sỏi vào, anh miễn cưỡng ngồi dậy, bước lại phía bàn:

- Chú ngồi chơi!

Sỏi không nói, chậm rãi với lấy cái điếu bát, mồi thuốc, châm lửa, từ từ kể những sắp đặt công việc. Nghe Sỏi trình bày xong, Đá chậm chạp kéo điếu vào lòng mình rồi phả lên luồng khói rõ dài:

- Được! Hôm nào cần, chú cứ nhắn. Bố con tôi giúp. Chiều mai tôi ghé qua xem chú dự định thế nào. Nếu việc nhiều, đã có bác Cải, bác Ao xuống nữa. Người làm giúp chẳng thiếu đâu.


Rồi nhà cũng sửa xong. Nhìn vào thấy khá tươm tất. Ba cái bàn gỗ tròn. Khách ngồi trên ghế dài, ăn uống gì tuỳ í gọi. Con Xi chạy nhảy nhanh nhẹn rồi. Con Xu đã lớn, lo giúp việc bưng bê cơm nước. Xuơ bán hoa quả, thuốc hút, nước nôi lặt vặt trước và sau hai bữa cơm chính. Cả nhà tập trung vào quán cơm. Sỏi định bám mặt tầng đến hết năm, lấy chút tiền công tiền thưởng tiêu tết là thôi. Từ biệt những vỉa than đen như máu người tắt nghỉ.



CHƯƠNG 2



Sau mấy năm làm ăn trì trệ, ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, Cẩm Phả lại mộ người làm. Việc khai thác còn nhiều trở ngại nhưng đã dần dần hồi phục. Mâu thuẫn giữa thợ áo xanh (Công nhân cơ khí) với thợ áo nâu (công nhân lao động thủ công) âm ỉ nhiều năm trở thành sâu sắc. Thợ cơ khí có tay nghề kĩ thuật làm trong nhà xưởng hoặc vận hành máy mỏ trên công trường. Họ được hưởng công cao, mưa ít đến mặt nắng ít đến đầu hơn so với thợ thủ công. Thợ áo nâu lao động chân tay, trực tiếp lăn lộn với tầng bãi, đổi mồ hôi lấy miếng ăn. Họ từ nông thôn ra mỏ làm thời vụ và dân phố không có điều kiện làm nghề cơ khí do tuổi tác, do sức khoẻ, do…rất nhiều thứ. Người lao động thủ công bị đày đoạ đủ điều: roi vọt chủ, khoẻ đè yếu, ma cũ bắt nạt ma mới, mắng nhiếc nhau, cu li áo xanh coi thường…Họ ít cần biết tới ngày mai nhưng đủ sức nhẫn nhịn chịu đựng đắng cay chèn ép. Chiếm số đông tám mươi, tám lăm phần trăm nhưng họ như không có tiếng nói. Quần quật ngày ngày trên tầng, họ nói ngắn, thường nhát gừng. Những câu cộc lốc chỉ đủ hiểu không cần chủ vị ngữ. Mồ hôi họ chảy nhiều nhưng bị khuất lấp, lau rửa, đậy che.

Nhiều cai sếp nghỉ. Việc làm than đâu phải chuyện chơi. Gìa yếu rồi, tham lam quá làm gì. Khôn ngoan chẳng đọ được người thì nghỉ sớm cho khoẻ. Sản xuất lại ngừng trệ. Than ra chưa bán được, dồn đống ngoài cảng. Cu li làm phất phơ, công phất phơ, sức lực cạn kiệt, ăn không đủ no. Tầng bè làm lấy được, chập trùng nhiều, phải mất khối thời gian củng cố lại. Sở Cũ than đã hết. Khu Lộ Chí cũng chẳng hơn gì. Sở mới được hòn than cũng khó. SuycecVayăng Quệ, Cù, Phạt, Phát, cai Thu, cai Thức, cai Công…đều bị thất sủng thành thất nghiệp. Số tồn tại không nhiều. Cai sếp mới lại xuất hiện, nhấp nhô như măng rừng mùa xuân. Lục Sủi Lường đứng ra cùng bà con anh em người Hoa mở tầng trên núi Trọc. Lạng cùng vợ con xuống ngang phố Cũ, phố Boóc đô sát khu người Hoa. Năm đứa con. Thằng Thìn lớn nhất, mười tuổi. Bốn gái sau. Tai ách dầm dề đổ xuống. Đứa út chết bệnh trên núi Trọc. Bà Ớ nói nó sinh giờ kiếp sát. Trầm luân khốn khổ mà phải qua mười hai tuổi mới chắc. Thằng Thìn cao ngồng, không lanh lợi, có lớn không có khôn, ngơ ngơ ngác ngác lại hay quên hay khóc. Bà Ương bảo nó phạm giờ quan sát. Các quan âm đi tuần, mình không biết, đứng ngáng lối, tiện tay, ngài quất cho vài roi. Muốn khỏi, phải kêu cầu vái vọng tạ tội cơ. Không biết nghe ai, làm thế nào, vợ chồng Lạng đành để vậy. Bốn đứa con ăn đủ mặc lành nhưng nhếch nhác thiểu não làm sao ấy. Sau ngày Yên tự tử, Lạng hoảng hồn, lo lắng tránh vạ, mặt mày hốc hác, may rồi cũng qua. Con Sào chị cùng con Sào em tha thẩn chơi, gặp mưa, mãi không thấy về. Vợ chồng Lạng ra tìm. Nước đục ngầu, xồng xộc lao như thác. Tầng vỡ từng mảng. Cây đa cạnh miếu thổ thần qua tiếng “oặp” mất ngay không còn dấu vết. Ngôi miếu chênh vênh, oằn oải, sập trôi sau đó. Vợ chồng Lạng thất thểu dìu nhau về. Thằng Thìn ngơ ngác cười. Con Cẩn sáu tuổi còn ngủ co góc phản. Mệt mỏi rời rã, vợ chồng chắc con gặp mưa, trú nhờ nhà ai, tẹo nữa về thôi. Mong đỏ mắt mãi không thấy con, vợ Lạng hoá lẩn thẩn, nói năng lỗ mỗ, gặp ai cũng cười cũng chào, nhớ nhớ quên quên. Bọn rỗi mồm lại được dịp to nhỏ thì thào. Lạng mở lò vào đất yểm họ Hoàng. Hết thời rồi, càng làm càng lụn bại. Con gái chết vào ngày nguyên vũ, giờ trùng tang, thập hoạ đại bại. Thế nào nó cũng lùng bắt bằng hết. Sống vào con ta chết ra ma người, chưa hết vạ đâu. Lạng nghe buồn lắm, lúc đầu còn nghĩ tháo dạ đổ vạ cho lươn sau nghe mãi cũng khiếp, vừa cho vừa bỏ cả vườn tược cây cối, chuyển xuông phố. Phố gần người Hoa kiều. Xín Chẩu - người Hoa đã cùng làm một tầng - mời sang nhà uống rượu nhân tiết thanh minh. Trong lúc ngà ngà, Xín Chẩu hất tay bảo Lạng:

- Thế nào ông cũng chuyển nhà lần nữa á! Một lần nữa thôi á! Ông bà còn sống lâu, sống thọ á! Chỉ có con trai bên cạnh thôi á! Con gái chẳng còn đứa nào á! Chúng nó phải đi á! Đi trước cả ông bà cơ á! Nếu sai, su ba giăng Lạng, ông cứ ỉa đái vào đây!

Xín Chẩu vỗ vỗ miệng mình: - Vào mồm thằng Xín Chẩu này á!

Hết ngạc nhiên đến hôt hoảng, Lạng toan hỏi thêm. Xín Chẩu đã ngật ngưỡng đứng lên, bước vài bước, loạng choạng ném người xuống giường, thở phì phì.


Những ngôi nhà nền thấp, mái thấp ẩn dưới bóng mít xanh om. Dân làm nhà theo thói quen, sợ bão gió. Cây mít thành cổ thụ, năm tháng lấy quả cho người, lấy bóng mát cho trẻ con chơi. Sau ngày Phàn bị bắt, Hoán dò hỏi tin tức biết anh bị giam trên đồn với tội danh xúi giục cu li làm loạn, gây mất trật tự xã hội rồi Phàn bị đưa sang Hòn Gai. Hoán chỉ còn biết chờ đợi. Ngày nghỉ, anh thường dắt bế con ra gốc mít, thong thả bẻ cành bứt lá làm trâu nghé, cào cào cho con chơi, ngóng tin tức Phàn. Bãi vẫn chăm bón rau và nuôi con trong sự dắng dả của mẹ chồng. Bà Dâu yếu rồi nhưng còn quán xuyến công việc, mắng mỏ mấy đứa nghịch dại. Từ hôm nghe tin Phàn bị đưa từ Hòn Gai về Phòng rồi từ Phòng đi Sơn La, Hoán vẫn dắt díu ba đứa con ra gốc mít nhưng sự trông mong ngày một xa vời.

Phàn là con ông lang Trọng, giàu có nhất nhì làng Mỹ Lý. Nhà ngói năm gian. Cột cái to hai người ôm. Kẻ ăn người làm tíu tít. Ngày ông mua gạch xây sân, làng tấp nập như vào hội. Hàng thuyền gạch. Người gánh gạch đỏ đường. Ông cho nhào vữa bằng mật mía. Thuê thợ mãi bên Tràng Lương. Rải vữa nền, đặt viên gạch xuống, gõ cho om vỡ không thành vết mới tiếp tục đặt viên khác. Viên nào gõ vỡ thành vết phải cạy bỏ ngay. Thợ khá có tiếng còn le lưỡi. Xây xong sân, hòn vỡ loại nhiều hơn hòn được dùng. Ông lang hỉ hả lắm. Con cháu sau này nghèo khó cũng chẳng thể cạy ra bán mà ăn được. Bao gương tày liếp rồi. Phải dạy dỗ con cháu cẩn thận, phải rèn cặp, giám sát chúng. Sung sướng phè phỡn không biết ăn dè hà tiện là vứt. Bao nhiêu thằng nhà ngói cây mít, toà ngang dãy dọc. Cha ông chắt bóp đến của cải rinh rích, vàng phơi hàng nia, đong bằng ống bơ. Vậy mà con cháu phởn mỡ, thoả sức ăn tiêu đàn đúm đến lúc phải nhặt từ cái chổi cùn rế rách mang đổi khoai, cậy cả gạch tường, gạch sân đổi lấy cái đút mồm. Cha gom con phá là không được. Cha làm, con phải giữ, giữ để truyền lại cho cháu chắt chút chít mãi mãi về sau.

Phàn được cha cho ăn học tử tế. Học hết chữ làng sang huyện học rồi lên tỉnh. Của cải công sức gia đình dồn vào việc ăn học dạy dỗ cho anh. Đọc thông thạo chữ Hán rồi đậu É lecSmen lai re, Phàn về thăm quê. Anh thành niềm tự hào cho cả gia đình và dòng họ. Các cô gái làng nhìn anh như thần tượng, chỉ dám từ xa ngước nhìn và mơ ước vu vơ. Hoa không biết mình đẹp, trăng không biết mình tròn. Anh vẫn hồn nhiên như gió non, chạy hả hê trên con đê làng ngập cỏ bông may. Hết hè, trở lại thành phố, tự dưng Phàn không theo học nữa, bỏ mất bao nhiêu tương lai rực rỡ trước mặt. Anh làm thợ tại Hải Phòng. Trong anh, hình ảnh bố là người yêu kính và tôn trọng nhất. Có điều, anh không theo đường hướng của ông vạch ra. Từ bấy đến nay, Phàn cũng chưa trở lại quê nhà, trở lại cái làng Mỹ Lý thân thiết thương nhớ của anh - nơi anh còn bố mẹ và năm đứa em đang học ăn, học lớn. Hoán càng nghĩ càng khâm phục anh. Nếu chỉ nghĩ bản thân, vinh thân phì gia với Phàn không khó lắm. Vậy mà anh bỏ tất, cả tương lai đẹp đẽ, giàu có trước mắt, đi theo chí hướng mình. Bây giờ Phàn ở đâu? Có được yên ổn hay đòn tra cùm kẹp? Cu li thợ thuyền còn khổ lắm nhưng họ thương và tin anh. Bao giờ trở lại đây, anh Phàn?


Tin bị bắt. Vườn nhà ông Động thiếu người săn sóc, heo hắt dần. Ông Động chăm cây vì yêu thiên nhiên, kinh nghiệm không có mấy. Ông cầm dao vào vườn, phát những cành ngang, cành vướng, cành cớm rồi bỏ đấy. Mọi việc Tin làm giờ chuyển sang bà. Các con đã lớn. Thằng Đảo thay ông, chuyển gỗ vào chống lò, chèn cũi. Con Hội đi trông con cho su ba giăng (Suy cec vay ăng) Hậu, người cùng làng đã cưu mang nhắt nhỉ, giúp đỡ Động ngày trở lại mỏ. Bà ở vườn, chăm chút cây theo cách riêng. Lộn xộn và tạp nham, bà trồng ngô, trồng sắn trong vườn cảnh, chăm luống gừng, luống hoàng tinh dưới gốc hoa, dưới những cây cành đã được tỉa tót thành con nai, con hoẵng. Hoa cảnh đẹp thì đẹp thật nhưng không ăn, không dùng được, chả lợi lộc gì. Ngắm cứ việc ngắm. Củ bắp cứ thu hoạch. Một công đôi việc. Thứ gì dùng được thì dùng, không thì bỏ, đốt. Sau gần một năm, vườn cây rậm rì và xô bồ như đồ đạc cũ tàng trong nhà người luộm thuộm. Ông Động biết nhưng không còn sức thay đổi. Lực bất tòng tâm. Nhiều lúc ông ngồi lặng đi trên phiến đá Tin xếp làm chỗ ngồi. Cỏ dại lại bao trùm, mọc ào ạt xung quanh, biến vườn thành ốc đảo cây xanh và cỏ dại. Những hôm mưa ngồi trong buồn lạnh, ông bà lại nhớ Tin. Chú Chín người cùng nhóm nói anh bị bắt do tên Văn đã chui vào, trở thành người có vị trí lãnh đạo trong hội kín. Hàng trăm người bị cùm xích khắp Hòn Gai Cẩm Phả. Chúng đã thu được rất nhiều vũ khí, tài liệu, sách báo, truyền đơn và phương tiện ấn loát. Những người bị bắt lác đác về. Phần đông yên lặng không nói kể về những ngày gian nan, ít xông xáo đương đầu với nỗi bực mình, nỗi uẩn ức, u uất nữa. Họ thành lầm lì, giấu diếm tâm sự riêng. Số ít hơn, nhanh nhẹn và từng trải hẳn. Họ lao vào khổ nhục, giúp đỡ anh em. Không ai nghe nói hội kín hội hở gì nữa. Sáng sáng, dòng người lũ lượt lên tầng. Tối tối, dòng người tản mát hơn, uể oải hơn, mệt mỏi hơn lần lượt xuống phố. Thằng Đảo nhiều hôm về, chẳng tắm rửa, ăn quấy quá rồi lên giường. Sáng hôm sau nguyên thế lại lên tầng, leo rừng hay vào lò chuyển gỗ. Con Hội thi thoảng mới về. Hai ông bà mưa nắng dựa vào nhau. Tin bị đưa sang Hòn Gai rồi nghe đâu bị xử ở Hải Phòng. Những người cùng bị bắt nói anh hăng lắm, vạch mặt chỉ tên, kết tội phong kiến thực dân. “ Là công nhân, tôi theo Đảng để bênh vực quyền lợi vô sản”. Họ khâm phục nhưng lo thay cho anh. Ngay khi đến Hòn Gai, anh đã bị biệt giam cùm xích.

Ông bà Động chuyển lên ở hẳn vườn. Ông nghỉ việc. Thu nhập cả nhà trông vào cây cối và tiền làm công của thằng Đảo, làm đày tớ của con Hội. Gìa rồi, con cái có công có việc là vợ chồng nghỉ ngơi. Nói nghỉ ngơi cho có vẻ. Bỏ cái mai xúc than lại vớ cái cuốc cuốc đất. Tránh mả lại ngã phải mồ. Có thân có khổ. Trồng cấy chẳng dễ đâu. Miếng ăn đến miệng còn vật vã. Tin đi rồi, ông mới hiểu công sức anh đổ vào vườn đồi quá lớn. Thời giờ đâu vừa làm tầng vừa cuốc đất chăm cây lại còn làm cách mạng. Anh Phàn cũng không thấy tăm dạng. Các anh ấy tốt đấy, bà ạ! Vô tình, ông nói to thành tiếng. Bất chợt, bà nghe không ra:

- Ông hỏi gì cơ?


Bà Thạo sắm đôi gà, mua ít cây trái cung Chù sang nhà Quỳ. Quỳ đang ngả người phi pheo điếu thuốc. Nhìn qua biết ngay cơ sự, hắn lớn tiếng:

- Chào bác! Nhà em đang dưới bếp.

Rồi ý nhị, hắn nhìn và khẽ hất hàm với Chù:

- Ai đây? Cháu bác chứ gì?

Chỉ dăm bảy phút, nhìn nhìn ngó ngó, công việc loáng cái xong. Dây cà dây muống chút ít làm phép, bà Thạo và Chù chào Quỳ. Xin được việc. Sáng mai bắt đầu làm. Xúc than đưa ra trục. Công việc chỉ đơn giản vậy.

Chù đặt lưng lên mặt phản gỗ dài bên trên trải chiếc chiếu mỏng. Kê túi vải lên, anh tưởng ngủ được ngay nhưng giấc ngủ không chịu về. Hôm nay, cơm hai bữa, đưa bà Thạo hai hào nhờ mua sắm quà biếu ra mắt chủ. Còn năm xu, anh đưa luôn cho bà Thạo nhờ mua cho cái xẻng tốt, chắc chắn và ứng trước tiền ở thuê. Anh trằn trọc. Thế là lại nhẵn túi. Thôi kệ! Nghĩ ngợi nhiều làm gì, sau hẵng hay.

Thế là đã sáu năm xa cái làng quê Ngũ Hùng Thanh Miện rồi. Bố Chù làm đồng, trưa khát quá, vục nước uống. Khi mẹ đưa cơm ra. Bố nằm lả giữa đồng. Trâu rộng cẳng, tha thẩn mãi ngoài xa. Mười tuổi, Chù đã phải mòn chân khắp Bến Trại, Neo, Bóng, Mễ…lăn lộn làm thuê và xin ăn. Mẹ đi bước nữa. Khuya hôm ấy, mẹ bảo Chù:

- Con lớn rồi, phải biết thương mẹ, thương em. Lớn lên con sẽ hiểu. Mẹ không thể ở thế mãi, phải tái giá. Nhà cửa giao lại cho chú thím. Con cầm ba hào này, cất cho kĩ kẻo rơi mất, theo cậu Vịnh ra mỏ mà làm. Mẹ đưa em đi với người ta. Ông ấy cũng tốt. Mấy lần nhờ thuyền qua sông sang đây rồi. Sông có khúc người có lúc con ạ. Sau này khá, làm ra tiền nhớ tìm về với mẹ. Mẹ không bỏ con đâu.

Hôm sau, mẹ đưa Chù sang nhà chú Vịnh. Chiều ấy, trở lại nhà, mẹ và em đã đi rồi. Chù dật dờ ra Bến Trại. Vài con thuyền nhỏ neo cạnh bờ. Bãi sông hiu hắt như lòng Chù. Chù ngồi lặng thế không biết bao lâu mãi đến lúc thấy ướt cỏ. Tối ấy, sương nhiều quá, nhoè nhoẹt cả rìa sông.

Tiếng gọi người chở thuyền. Tiếng cót két của dây kéo khiến Chù choàng tỉnh. Khuya lắm rồi. Sương hay nước mắt đầm đìa cỏ ướt, nhoà trắng mặt sông. Chù xiêu vẹo bước, chẳng cần đến đâu, lúc lúc xa dần Bến Trại. Về nhà, nhà không còn mẹ. Vào chú, chú cũng khổ. Sáu đứa em bìu ríu nhếch nhác. Thím thiểu não như nhà nghèo tháng ba. Chú cố vui, nói vài hôm nữa theo chú ra mỏ. Làm được tiền rồi, chú cháu về làng, quần áo khăn tất rênh rang, ăn uống thoả thích. Bọn con gái làng đứa nào đứa nấy, mắt xếch lên, lác cả một lũ. Chù biết chú nói cho vui chứ cái khổ nghèo làm sao giấu được. Nó như hoa bí cằn về chiều còn trái vụ.

Trong đêm, Chù thấy lờ mờ trước mắt mình lô nhô mồ mả. Nghĩa địa làng đây rồi. Chù tìm mộ bố trong nhờ nhờ trăng sao. Tìm chán không thấy. Mộ bố lẫn trong hàng trăm mộ khác. Người lớn có biết thì biết. Mười lăm tuổi đầu. Bố chết đã năm năm. Năm năm làm lụng xin xỏ để còn sống, còn bước được, Chù không nhớ mộ bố. Những hố hốc lộn xộn, mả xây mả đắp nhấp nhô như hàm răng làng. Vì mệt mỏi và ngao ngán, Chù thả người xuống vệ cỏ ven đường làm một giấc ngon lành.

Thức dậy, trời đã sáng. Mặt trời lên cao xoè nan quạt. Người ra đồng đã đông. Mấy ông dong trâu lặng nhìn Chù không nói. Đối với họ, Chù là người xa lạ, không quen biết, thấy thì coi, không bận tâm. Chù cũng chả ngồi lâu. Từ đây trở lại nhà cũng hơn bốn cây số. Cứ đi. Thẳng đường mà đi. Đã có ba hào mẹ cho nằm giữa mấy lượt vải bọc giắt cạp quần. Đâu cũng là nhà. Cứ đi, tìm đường kiếm ăn, cứ gì phải ra mỏ. Không ai thân thích có thể nhờ cậy thì đi đâu, đến đâu chả vậy.

Nghĩ thế nhưng đường xa hun hút. Được vài cây số, chân bắt đầu nhức mỏi. Cũng may, có thêm tụi trẻ cùng nhập cuộc thấy vui và quên được chốc lát. Chúng cũng tha phương cầu thực. Hai trai một gái. Đứa gái bé nhất mới vừa mười tuổi tên là Kim. Hai đứa lớn hơn lâu không nhớ nữa. Chúng kéo nhau về Ninh Giang.

- Cố đi! Chiều là tới!

Qúa trưa, cả bọn nằm ngồi dưới gốc cây. Ruồi bậu mép không buồn xua. Thằng lớn nhất tầm tuổi Chù phân công thằng bé coi em:

- Nằm đây. Không được đứng dậy, không được đi đâu, chờ chúng tao!

Rồi quay sang Chù, nó cầm vai áo kéo:

- Tao với mày vào làng kiếm gì ăn.

Hai đứa men theo ngõ mòn một lúc. Gặp ruộng dưa, nó vãy Chù, chỉ tay. Cả hai hiểu í, nhao xuống, mỗi đứa chọn ôm một quả, chạy. Dây dưa kéo lằng nhằng mãi mới đứt. Loáng chốc đã đến đường cái. Hai đứa ở lại, ngủ lăn lóc bên gốc cây. Khua dậy, chúng mừng như vớ được vàng.

Bốn đứa bụng lưng lửng dưa lại lếch thếch. Đường dài tưởng vô tận. Tối một lúc lâu mới thấy vầng sáng nhàn nhạt ở phía trước. Những dãy nhà mái rạ, nhà mái ngói thấp lè tè hai bên đường vào Ninh Giang. Đến đấy, chúng chia tay nhau chẳng hẹn hò gì. Mấy đứa tìm nhà họ hàng. Chờ chúng đi khuất, nắn lại chỗ giắt tiền, Chù bước vào quán mua một xu cơm. Chủ quán bê lên bát cơm to và bát canh nóng. Nhìn Chù, đoán là khách nghèo, không nài thêm, bà chỉ khẽ:

- Nếu ăn thêm gì, cháu gọi nhé!

Bà vào phía trong dọn dẹp. Loáng chốc, mặt bàn trơ ra hai cái bát không. Lững thững bước ra đường, Chù vươn vai. Bây giờ phải tìm chỗ ngủ.


Đó là quãng đầu tháng năm. Sở dĩ Chù nhớ được vì đó là dịp lễ hội Tuần Chanh. Nghe nói trước đây, quan Tuần đã cho đào sông Chanh nối với sông Cái đưa nước vào đồng lập nên một vùng đất trù phú, rộng lớn. Quan đã giúp Trần Hưng Đạo đại thắng quân Nguyên tại cửa Bạch Đằng. Dân nhớ ơn lập đền thờ. Tháng năm là dịp lễ đền. Khách thập phương đổ đến kêu cầu không ngớt.

Ngủ dậy nghe người đi đường kháo nhau, Chù thích thú. Chỗ đông người, làm ăn dễ. Có thể sống được rồi.

Được quãng nửa tháng ăn ngủ tại đền, làm việc lặt vặt, sắp đặt lễ vật cho khách. Người đến đền chùa phần đông rộng lòng để được phúc nên Chù cũng no bụng. Rồi lễ dừng, hội tan, đền vắng. Khách đi chen chân giờ cửa khoá, cổng khép cả ngày. Chù không chỗ bấu víu, lại lên đường. Sống đâu là nhà ngã đâu là giường. Lang thang nay đây mai đó. Nhiều lúc luẩn quẩn, lững thững sau hai ba ngày mệt nhoài, lại nhớ chỗ này mình đã qua rồi. Khi vào đến đất Quảng Yên thấy bốn cột cao vút, phả ra làn khói đục trắng. Lạ quá, Chù cứ nhìn ngắm mãi.

Đó là nhà máy kẽm. Ông chủ quán cơm thưa với ông đội khăn xếp đen, áo dài đen, quần trắng. Thoáng qua vậy thôi, Chù không dám nghe lén. Đầu không phải, phải tai. Gặp người vừa mới sang trọng ra oai, họ nện cho gẫy gối tối mặt thì thiệt thân. Mấy tháng nắng nắng mưa mưa, Chù vạ vật khắp chợ Rộc, chợ Rừng, đêm đêm ngủ ở vướn hoa chéo, ở chân dốc võng. Chù gặp Chương. Một thằng láu lỉnh nhanh nhẹn. Ngủ cùng nhau một chỗ trong đêm. Sáng dậy nhìn nhau một thoáng rồi đi. Đêm sau lại thấy, cười cười hỏi han, biết cùng cảnh, cùng tuổi thành thân. Chương nói lớn rồi, phải tìm việc gì đó mà làm. Sang Uông Thượng, Bí Chợ hay tới Cẩm Phả, Mông Dương làm than. Ở đây, bọn cút lit thấy mình lớn lồng ngồng lại lông bông không nghề nghiệp, nghi ngờ hoạt động phá hoại gì đó thì khốn. Bị bắt bị đánh có người giúp đỡ còn khá chứ không ai thân thiết chỉ một nước rục xương. Vài hôm nữa, kiếm đủ tiền là tao đi.

- Đi đâu?

- Ra mỏ! Theo thuyền, theo tàu, theo xe. Tao còn nghe ngóng xem đã. Chỗ nào chắc chắn hãy đến.

- Cho tao đi với!

- Mày có bao nhiêu?

- Tao còn hào tư.

- Thôi! Hãy cất kĩ đi. Đâu chỉ có tiền tàu. Chắc mày nhịn đi đào lò chắc? Chỗ ấy chưa đủ một mình mày. Cố làm lụng chăm chỉ một tí. Làm thuê làm mướn, ăn sẻn để giành. Cố là được, không lo đâu. Tao đành chờ mày vậy.

Trời đã sang thu, se se lạnh. Hai đứa tìm ra bến, mua vé lên tàu. Gom cả lại còn ba hào sáu. Tàu đi vào tấm trưa, đứng trên boong mát lạnh. Từng cánh hải âu chớp trắng quanh tàu. Phía đuôi, bọt sôi sùng sục. Tàu rẽ nước thành hai vệt dài càng về phía sau càng rộng. Nhiều lúc tàu dềnh lên, dập xuống như nô dỡn cùng sóng. Lác đác những thuyền mủng của người dân chài. Tàu chở ít khách, phần lớn hàng hoá. Từng đống từng chồng lồ bịch. Có cả rau lang, bí đỏ, cua bể, ngán ngao… Lần đầu Chù được nhìn thấy núi đá gần sát như thế. Núi đá xanh dầm chân trong nước. Chúng đủ mọi hình thù dáng vóc. Những quả núi gần lừng lững như xô vào tàu rồi lại tẽ ra. Lúc đầu nhìn cũng khiếp, sau quen dần. Đã thấy đất liền thấp thoáng. Nền trời thấp dần rồi đặc lại. Một vài ngọn đèn trên tàu sáng từng quầng vàng vọt. Đứng lâu ngoài boong chân tay lạnh ngắt, hai đứa tìm vào trong khoang ngồi dựa đống hàng. Tàu ghé Hòn Gai.

- Cứ yên chí! Khi nào đến Cửa Ông không lên họ cũng đuổi.

Đến Cửa Ông đã khuya lắm. Con đường đất hẹp lách lượn bên đồi bên biển. Từ bến tàu Quảng Đông (dân gọi thế vì ở đây có chuyến tàu mang tên Quảng Đông chuyên chở hàng hoá và hành khách từ Cửa Ông đi Hải Phòng. Đôi khi tàu cũng đón trả khách tại Quảng Yên, Hòn Gai, Cẩm Phả), Chù theo Chương lên, ngơ ngác như thổ công vườn hoang. Những ánh đèn vàng đục lờ mờ ngoài cảng than. Sắt thép va nhau. Âm thanh rổn rảng. Chù thấy bé nhỏ vô cùng trước tầm vóc công nghiệp còn manh nha chưa lấy gì làm lớn lao hiện hình ngay trước mặt.


Chưa sáng, nghe bà Thạo nháo nhác giục gọi, Chù trở dậy, mắt nhắm mắt mở. Cùng mấy người thợ, anh với lấy cái xẻng, theo lên tầng.


... còn tiếp ...



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ QuảngNinh ngày 03.02.2018.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004