Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới

Đình Quán La Sở, nằm cạnh chùa Ức Niên.




Xuân La



Đ i qua thôn Trích Sài, (cụm 10 của Phường Bưởi) ta bước sang địa phận Xuân La, tại đây có con đuờng rẽ về Xuân Đỉnh và con đường thẳng tới Nhật Tân. Theo sách “Tên làng xã và địa dư các tỉnh Bắc Kỳ” của ông Ngô Vi Liễn xuất bản năm 1928 thì Xuân La hồi đó là các thôn:

Quán La Xã thuộc tổng Thanh Nhàn huyện Hoàn Long, dân số có 408 người.

Quán La Sở thuộc tổng Phú Gia phủ Hoài Đức, dân số có 2154 người.

Xuân Tảo Sở thuộc tổng Trung huyện Hoàn Long dân số có 823 người

Sau năm CCRĐ, tách thôn Vệ Hồ khỏi Xuân Tảo Sở thành một đơn vị hành chính riêng, cho đến năm 2008 khi điều tra tại Xuân La, có các số liệu sau đây:

- Vệ Hồ (Sở Hồ) gồm 3 xóm : xóm Trong, xóm Giữa và xóm Ngoài , diện tích toàn thôn là 51.400m2. Toàn thôn có 6 dòng họ chính là họ Trần, họ Nguyễn, họ Lê, họ Vũ, họ Phương và họ Ngô

- Xuân Tảo Sở diện tích 166356m2. Toàn thôn có 4 dòng họ là họ Phương, họ Nguyễn, họ Lê, họ Trần. Có đền thờ Quan Trấn Đông ở ngõ 23 đường Xuân La.

- Quán La Xã (Quán Già La) diện tích 87493m2 có 3 xóm là xóm Trên, xóm Dưới, và xóm Giữa. (Nay chia thành 8 tổ dân phố). Thôn này có 4 cổng cổ tương đương với 4 đường trục chính trong làng đi tới cổng xóm Trên, cổng xóm Sau, cổng xóm Đồng và cổng xóm Dưới,(nay cũng không cong cổng nữa) Trong thôn có ba dòng họ chính là họ Nguyễn, họ Trịnh và họ Phương. Từ ba dòng họ phát sinh thành các họ nhánh Nguyễn Văn, Nguyễn Xuân và Trịnh Xuân. Họ Phương là dòng họ đông đinh thứ 3 trong làng. Làng Quán La Xã có ngôi đình thờ vị thành hoàng bản địa là Duệ Trang, theo truyền thuyết thì ngài là vị nữ tướng có công với nước được vua (?) ban cho đất Quán La, khi mất được dân bản địa xây đình thờ làm thành hoàng. Hội làng vào ngày 14 tháng Ba hàng năm.

- Quán La Sở có diện tích 60043m2 có 2 xóm là xóm Dinh và xóm Đình, có 4 dòng họ chính là họ Ngô, họ Nguyễn, họ Trịnh và họ Phương. Quán la sở có ngôi chùa ức Niên hiện nay tọa lạc tại tổ 29 cụm dân cư số 4 Quán La sở có một ngôi đình, ngày xưa hàng năm có lễ hội, nay chưa khôi phục.

Theo ghi chép của ĐỗThỉnh trong cuốn “Từ sông Tô đến sông Nhuệ”.

Năm 1983, ông Đỗ Thỉnh đã đi ghi chép một số đia điểm tron g huyện Từ Liêm, viết thành quyển Địa chí, xin trích một số điểm ở mục Xuân La

- Về nguồn gốc hai làng Xuân Tảo Sở và Quán La Sở : Theo Việt sử thông giám cương mục (tập 12 trg 17) chép năm Hồng Đức thứ 12 vua Lê Thánh Tông hạ chiếu lập 43 sở đồn điền trong cả nươc, “là cốt để dồn ghết sức vào việc làm ruộng cho sự tích trữ lương thực được dồi dào. Trong số 43 sở đó, sở nào lập ra trên đất làng nào thì lấy tên làng đó mà gọi tên đồn đièn. (cho nên mới có Quán La Sở, Minh Cảo sở -về sau Minh Cảo Sở đổi tên thành Xuân Tảo Sỏ)

- Đình làng Quán La bên trong có bức hoành phi đề 3 chữ “Tối Linh Từ” , hậu cung còn các đạo sắc từ đời Lê-Tây Sơn - Nguyễn. Thần húy là Định Trang được phong tước vương, nhưng không rõ thần tích (theo điều tra của phường Xuân La thì vị thần lại là Nữ tướng Diệu Trang?). Cạnh đình có gò gốc gạo, bên trên có Miếu thờ Chầu Bà (hai người hầu gái của vị Thành hoàng Diệu Trang) bên phía Tây cửa đình có cây đa cổ thụ, tại đây có bia kỷ niệm khi chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm.

Quán La Sở có chùa Ức Niên có quả chuông mới đúc năm Kiến Phúc 1883. Tại chùa có một hòm sắc của đình mới đưa lên gửi. Kiềm kê có tất cả 11 đạo sắc của các triều vua từ năm Vĩnh Thịnh thứ 8 (1713) đến năm Khải Định thứ 8 (1924) đã phong cho Tổng thái giám Đà quận công. Khi tôi và ông Ngô Đức Vinh (ngưòi Quán La Sở) đến viếng thăm ngôi đình và chùa thì cả hai di tích đều khóa cửa. Di tích Đình Quán La Sở là một di tích mới xây dựng lại, kiến trúc đẹp, ông Vinh nói hội làng mở vào ngày 12 tháng Hai hàng năm. Khi hỏi đến các đaọ sắc thì ông cho biết đều đã bị hỏng, nên làng không biết tên và thần tích của vị Thánh được thờ, chỉ biết tại ngai thờ có dòng chữ “ Tổng Thái Giám cung phi từ hạ”chúng tôi xin chép lại để các vị nghiên cứu. Cũng không hiểu vì nguyên nhân nào mà năm 1983 ông Đỗ Thỉnh còn được biết có 11 đạo sắc thế mà sau này đến đời ông Ngô Đức Vinh (1990) quản lý các đạo sắc ấy lại bị hỏng (mối xông, mục nát?). Theo các cụ ở địa phương kể lại xưa kia làng ở bên kia đê mới (chỗ gần Phú Xá) sau mới chuyển về chỗ ở hiện nay, nếu lên chỗ làng cũ thì tại nơi đó còn nền đình, chùa cũ, nay giữa hai làng vẫn còn tục kết chạ (chúng ta có thể từ thông tin đó mà xác nhận ông Tổng thái giám Đà quận công là người sinh trước ông Phương đình Pháp triều vua Lê Cảnh Hưng )

Dân số Xuân La:

Năm 1889 Xuân tảo sở có hơn 1000 người , Quán la sở có 2154 người

Năm 1957 Xuân tảo sở có 1102 người Quán la sở có 227 người

thôn Vệ Hồ có 353 Quán la xã có 363 người

Trong một thời gian ngắn Quán La Sở đã giảm từ 2154 người xuống còn 227 người (theo ghi chép 1957)

So sánh các số liệu về dân số, chúng ta có một số liệu rất khác nhau về sự biến đổi dân số tại ba làng cổ Quán La xã, Quán La sở và Xuân Tảo sở, cũng chưa hiểu tại sao mà trong một thời gian ngắn lại có sự thay đổi đến như thế? Tìm hiểu qua những cụ già tại Quán La thì được kể rằng sự giảm sút ruộng đất ở Quán La sở có lẽ là do dân đã bỏ làng đi nơi khác khi chế độ “Sở đồn điền của nhà nước” đã bãi bỏ, dân làng không có điều kiện đi làm ruộng xâm canh ở các làng xa, nên họ chuyển cư do đó dân làng ít đi .

- Xuân Tảo sở gồm hai thôn Xuân Tảo sở và Vệ Hồ : Đình đã bị Pháp đốt cháy, chỉ còn chùa Vạn Niên Trước đây vào ngày 3 thángBa hàng năm tại thôn Vệ Hồ có tục thi bơi chải gồm 10 thuyền tham gia, mỗi thuyền có 2 người bơi chải. Vào ngày 10 - tháng 10 âl còn có tục thi cơm mới, (tương truyền là do bà Liễu Hạnh đã dạy dân canh nông nên hàng năm dân tổ chức đóng xôi oản để cúng dầng. Ngày đó các dòng họ đều thổi xôi đóng oản dâng cúng) theo ghi chép trong Tây Hồ chí (sách do thư viện VHN quản lý) thì gò Thất Diệu gồm 7 đống mé tây hồ thuộc địa phận ấp Quán La. Trước triều Lý, có quán Khai Nguyên của Nhà Đường lập trên gò cao nhất, dưới gò có hang gọi là động Thông Thiền nay còn ( thế kỷ XIX còn di tích).... Trên một gò cao nhất của Thất Diệu Cương bên sông nhỏ Già La thuộc động Già La , khoảng giữa niên hiệu Khai Nguyên đời Đường có Thứ sủ Quảng châu là Lư Hoán sang làm Đô hộ Giao Châu Khi mới đến, ông đóng trụ sở tại đó, đổi tên động là An Viễn thôn. Thấy thế đất bằng phẳng, cây cối lơ thơ có dòng Già La uốn khúc chảy quanh, ông liền nẩy ra ý định dựng quán, khi hoàn thành liền treo biển quán là Khai Nguyên, ý là tuyên dương công đức nhà Đường, lại đổi tên thôn theo tên quán là Khai nguyên. vì vậy tục thường gọi là quán Già La Đến triều Lý, quán vẫn còn, các vua thường ra chơi, thấy có cái hang mới sai làm cửa, gọi là Thông Thiền động (ngoa truyền là người Tàu để của là sai).(tr25). Sau này, quán Khai Nguyên đổ nát, người trong ấp dùng làm nơi thờ sơn thần, đên khi nhà Lê lên, nhân tục gọi tên quán mà đổi thôn Khai Nguyên thành thôn Già La, đến nhà Hậu Lê lại đổi thành Quán La (tr19-20). Sông Già La cũng là một nhánh của sông Nhị, xưa thuộc Già la động nên có tên như vậy. Động đó nay là ấp Quán La.Triều Lý gọi là sông Thiên Phù, triều Trần gọi là sông Thiên Hán (tr15)

Bên tại phía tây bờ hồ, thuộc địa phận ấp Minh Tảo, có đền thờ Sóc Thiên vương. Đền này xưa thuộc Quán La, nay thuộc Minh Tảo (tr16). Đền hiện có trên gò Phượng Đầu thuộc ấp Minh Tảo bên Hồ Tây. Vương là người ấp Sóc Sơn làng Thường Lạc đi tu đắc đạo bay thăng lên trời. Bà mẹ ở dưới trần bị con giao long tại Hồ Tây làm hại, Vương giáng trần giết đi, rước mẹ về rồi hóa. Khi giáng, có vết chân lớn để lại trên gò. Vì vậy thổ dân dựng đền thờ, triều Lý còn tạc tượng rất lớn,khi tượng tạc xong, đã suy tôn là Xung Thiên thần vương. Đời Hậu Lê, đền hiện đã trùng tu, nay còn. Theo Biệt lục thì vương do Trấn Bắc thiên Đại thần hóa thành. Thiên Vương là một trong bốn vị mà kinh Phật nói đến, tục gọi là Sóc thánh. Có người cho là Đổng thiên vương thì không phải như vậy (tr32).

Năm 2009 tôi đi theo con đường Lạc Long Quân tới một ngôi chùa cổ, đó là Vạn Niên tự . Từ tháng 4-2007, thực hiện dự án cải tạo đường Lạc Long Quân thành con đường lớn, đã chia con đường cũ thành 2 con đường , cho nên chùa Vạn Niên ở bên phía hồ Tây. Theo Tây Hồ chí ghi lại “Vạn Niên tự thì chùa ở phía Tây hồ , thuộc địa phận ấp Quán La, thời cổ có tên là Vạn Tuế, sau mới đổi ra là Vạn Niên . Năm Giáp Dần niên hiệu Thuận Thiên triều Lý, có sư Hữu Nhai tăng thống tâu xin lập đàn giới tại đó để cho tăng chúng thụ giới (trang 51)”. Sách Danh tích Tây hồ của UBND Quận Tây Hồ thì giới thiệu kỹ càng hơn, tác giả đã lấy các chứng tích trong An Nam Chí lược chép rằng: “Thảo Đường theo sư phụ đi truyền giáo, Lý Thánh Tông đánh Chiêm Thành bắt được sư Thảo Đường, đem về cho làm nô của Tăng lục...Một hôm Tăng lục viết ngữ lục để trên bàn rồi đi ra ngoài. Sư Thảo Đường lên sửa chữa lại. Tăng lục lấy làm lạ về tên nô này, mới tâu lên vua. Vua phong cho Thảo Đường là Quốc sư ”...Cho trụ trì chùa Khai Quốc, hoằng truyền Trọng Hiển pháp, giảng Tuyết Đậu sơn bách tắc, chính thức thành lập phái Thảo Đường (theo Nho - Phật - Đạo bách khoa tự điển)

Chùa Vạn Niên hiện nay bố trí chữ Đinh, do được sửa chữa nhiều lần, nên các cụ ngày xưa cũng viết rõ “Cổ tự trùng tu tân cảnh sắc”, và bài trí cũng giống như các chùa khác: Trên cao là tam thế Phật, dưới là Adi đà, phía ngoài là tượng Thích ca sơ sinh. Trong đợt lễ mừng A Di Đa, chùa này là nơi các vị khách đến lễ, nên trang hoàng rất lộng lẫy,

Bây giờ, làng Xuân La đã thành phường Xuân La của Quận Tây Hồ, và trở thành một phường rộng: Phía Bắc giáp Phú Thượng và Xuân Đỉnh, phía Nam giáp thị trấn Nghĩa Đô (nay là phường Nghĩa Đô quận Cầu Giấy) Tây giáp xã Cổ Nhuế và Phường Mai Dịch, Đông giáp phường Bưởi quận Tây Hồ.

Từ năm 1961 Nhà nước lấy đất các xã Quán La (gồm Quán La sở và Quán La xã) nhập với thôn Xuân Tảo Sở của xã Xuân tảo (Xuân Đỉnh) thành xã Xuân La của huyện Từ Liêm. Khi còn chung (hai thôn Xuân tảo xã và Xuân tảo sở) thì làng có tên là xã Xuân Tảo , có tên nôm là làng Cáo. Nhiều câu chuyện dân gian mà tôi đã thu lượm được trong thời kỳ đó như chuyện bà Chiêu nghi Vũ Thị Xuyến đã tu bổ đền Sóc, chuyện ông Quận công tại gia được phong “Sô Quận công Đỗ tướng công thụy Minh Đạt có công nuôi hoàng tử nhà Lê bị lạc”, tiếc rằng do thay đổi địa chính nên không thể chép những chuyện đó vào trong câu chuyện dân gian của phường Xuân La. Gặp anh em ở Xuân La, các anh Đán,Vinh (bạn học thời 1947) nhắn tôi: “Tìm thêm những tư liệu về cụ Phương Đình Pháp”, Tôi đã cố công tìm và thật may tại trang 78 sách Tây Hồ chí chương Nhân Vật ghi rằng: “Phương Đình Pháp người Quán La làm quan Chấp kim ngô cùng quan Điển bạ Nghiêm Hiến (người Đông Ngạn) đều là thị thần của vua Hiển Tông nhà Lê. Năm Bính Ngọ, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 40, Thượng công Nguyễn Huệ là em Tây vương Nguyễn Nhạc đến chầu, mặc giáp đeo gươm mà vào, ai cũng cho là nguy hiểm. Khi đó quanh vua vỏn vẹn chỉ có hai người thị thần là Nghiêm Hiến và Phương Đình Pháp. Phươg Đình Pháp cầm gươm vàng thung dung xuống thềm tuyên mệnh: “Đây là thềm son chỗ thiên tử ngự, xin tướng quân cởi giáp!” Thượng công theo lời bỏ gươm, sau mới lên thềm bái yết, khi ra khỏi điện Thượng công rất trọng, cho rằng triều đình còn có người”.

*Ghi chú: Họ Phương là dòng giõi người Lâm ấp. Nay còn ở Quán La (THC trang 78) Người thôn Quán La Sở và thôn Xuân Tảo Sở thờ ông này làm Thành hoàng, đền thờ của ông gọi là Đền Quan Trấn đông. Nay ở ngõ 23 đường Xuân La, có đền thờ của Ngài, dân làng chỉ nhớ sự tích của Ngài là Quan Trấn đông cai quản tù binh sau mất được dân thờ. Như vậy ông Quan trấn đông này và ông Tổng thái giám Đà quận công có trùng nhau không, đó là điều mà tôi đang tìm hiểu qua anh em bạn ở Xuân La :…Ngày 1-8-2009 ông Ngô Đức Vinh cho biết hai thôn Quán La Sở và Xuân Tảo Sỏe thờ ông Phương Đình Pháp tại đình Quán La Sở, mở hội hàng năm vào ngày 12 tháng Hai (âm lịch Thế là :vế dưới của câu ca dao Kẻ Sở có hội thì vua đi cầy đã được chứng minh. Từ khi đền hai thôn thờ cụ Phương Đình Pháp làm Thành hoàng và hàng năm làng tổ chức lễ hội, cũng đúng là chế độ đã thay đổi. Cuộc cách mạng tháng Tám đã buộc vua Bảo Đại phải tuyên bố thoái vị để làm dân một nước độc lập tự do. Chúng ta chưa biết ông Vĩnh Thụy (cựu hoàng Bảo Đại) có đi cầy hay không, nhưng khi một ông vua rời ngai vàng về làm dân thì tức là “vua đi cầy” rồi, và cũng là đổi đời rồi (theo dân gian thường nói). Ngày 28-6-2009 tôi và anh Ngô Đức Vinh (Quán la Sở) cùng nhau đi sang bên Xuân Tảo Sở đến thăm đền Quan Trấn đông. Bây giờ làng Xuân tảo sở thành “một cái ngõ 23 đường Xuân La”. Đền Quan Trấn Đông ngày xưa có tên là Miếu Lăng. Theo lời kể của cụ Phương văn Thùy, người chủ tế của đền thì ngôi đền này xưa là Miếu Lăng, một địa điểm rất thiêng trong làng. Sở dĩ gọi là Miếu Lăng vì trong khu vực Miếu có một cái lăng an táng vị quan trong triều Lê. Chúng tôi không biết tên ngài là gì khi HTX Nông nghiệp Xuân Tảo Sở lấy khu vực miếu làm nhà trẻ, người ta bốc mộ cụ và mang sang thửa ruộng bên. Khi chủ thửa ruộng đòi đất, chúng tôi (Phương Văn Thùy và Phương Văn Chăm) đưa hẳn ngôi mộ lên nghĩa trang xứ Gò Châu thôn Nhân Lý xã Tam Quan huyện Tam Đảo tỉnh Vĩnh Phúc. Tuy cụ Nguyễn Vinh Phúc có nói rằng đây là mộ cụ Phương Đình Pháp, song do không có chứng tích (Bia ký) tại mộ nên chúng tôi chỉ gọi Ngài là Bản Cảnh Thần Linh. Tại ngôi đền Quan Trấn đông có một hoành phi đề: “Hùng tài Đại lược” và ba đôi câu đối , chúng tôi đang tìm người dịch câu đối để có thể từ văn tự câu đối mà biết vị Thần được thờ là ai.

Cụ chủ tế có cho tôi đọc bản “Trấn Đông đại thần tế văn” phiên âm ra tiếng Việt, (chưa dịch ra quốc âm) xin chép lại để các độc giả suy xét. .

Cẩn di cảm kỳ cốc vu bản xứ Trấn Đông quan Đại thần phù Lê hộ quốc,

Thần tạo sĩ Trấn môn Đông thắm vi lăng tẩm Nguyễn uy Hinh vi tiền.

Kính tế Nhân trung tuấn xoa trạch hữu, sinh dân đức thí hậu thế

Xuất tắc dĩ gia hưng tường thanh danh vạn đạt (đại?) ư đường.

Thời dụng nhi hữu ích quốc gia sự nghiệp giao truyền ư vạn dĩ.

Bảo dĩ Nam phần, Bình dĩ Bắc vạn lý trường thành

An ư Tây - Trấn ư Đông - nhất phương chúa tể

Đông nhân tri bội đức bất vong nhất niệm tri kính thanh

Mạc thế tư trích bạ - thiên cung trần phi lễ

Dĩ cảm dĩ hưởng Nguy khắc phất giàng - vu tinh thành tì thức tỳ xương thượng ích - Chăn vu phúc chỉ thực đốn - Điểm tướng âm phù tri đại đức giả.

Kính dĩ Cung phi phu nhân, các bộ tiên nương, tả hữu tòng

Cập đương sứ chư linh quan - Thổ địa thần kỳ- Ngũ hổ đại tướng

Đồng lai cảm cách - Phúc duy thượng hưởng

Như vậy, vị Thần được thờ tại đình làng là một vị có nhiều công tích, thế mà có kẻ đứng trước cửa đình Quan Trấn Đông báng bổ rằng: “Ta đây quân hàm đại tá mà không đựoc thờ, lại đi thờ một cái anh hạ sĩ !!! ”

Không ai thờ cái ông đại tá vô lễ ấy nhưng câu chuyện của ông ta thành một đề tài mà bà con thường đề cập đến mỗi khi kể chuyện về những sự báo ứng của đời, vì rằng sau lần báng bổ ấy, ông X đã ốm liệt giường, chưa biết sẽ chết ngày nào, hay còn bị hành hạ mãi nơi trần gian chưa được ngày để con cháu thờ.

Xuân La phía Bắc giáp Phú Thượng và Xuân Đỉnh, Nam giáp thị trấn Nghĩa Đô, Tây giáp hai xã Cổ Nhuế và Mai Dịch. Đông giáp phường Bưởi quận Ba Đình. Đất đai gồm các thôn Quán La Sở, Quán La Xã, và Xuân Tảo Sở. Từ năm 1961 lấy đất các xã Quán La (gồm Quán La Sở và Quán La Xã) nhập với thôn Xuân Tảo Sở (của xã Xuân Tảo - Xuân Đỉnh) thành xã Xuân La huyện Từ Liêm. Khi còn là xã Xuân Tảo thì xã này có 2 thôn Xuân Tảo xã và Xuân Tảo Sở, có tên nôm là làng Cáo, có đền thờ chung thờ Thánh Gióng. Từ khi Xuân Tảo Sở nhập về Xuân La, thì ngôi đền thuộc xã Xuân Đỉnh quản lý. Điều tra của ông Bùi Thiết không cho biết vị Tổng Thái giám được thờ ở Quán La là vị nào mà chỉ ghi vắn tắt: “Quán La thờ một viên Tổng thái giám ?” (theo Làng xã ngoại thành Hà Nội của Bùi Thiết)

Từ năm 1996 xã Xuân La nhập vào Quận Tây Hồ thành phường Xuân La.

Tháng 5-1989, tôi về đền Sóc ở Xuân Đỉnh để lầm điền dã, nhân đó chép được các việc tại thôn Xuân Tảo:

Tại đình thờ Quán La xã Xuân La Từ Liêm hiện còn lưu giữ 18 đạo sắc phong thần cho vị thần của đền, từ năm 1656 đời vua Lê Thần tông đến năm 1925 đời vua Khải Định triều Nguyễn. Những đạo sắc này các cụ đã chép thành một quyển để thường dụng, các đạo chính thì bỏ hòm niêm cất. (chưa biết tên vị Thánh được thờ tại đình Quán La là ai? Nếu theo Đỗ Thỉnh thì ngài có tên là Định Trang, còn theo ghi chép của cán bộ văn hóa địa phương thì ngài lại có tên là Diệu Trang). Câu đối hoành phi trong đình còn, đặc biệt có một đôi câu đối khắc trên hai tấm gỗ lòng máng, chữ viết theo lốí khoa đẩu, mặt sau là đôi câu đối viết theo chữ triện để ai cũng đọc được.Câu đối naỳ khắc năm Minh Mệnh bát niên 1827. Gạch xây đền Khai Nguyên là gạch dài, có hình rồng, nếu là gạch vuông thì có hoa nổi, hoặc khắc con nghê nổi.

Hang: Bên tả đền (nhìn từ trong ra) có một cái hang, miệng hang đường kính 0,80 -1,10m Các cụ từ cho biết những viên gạch hoa là gạch gốc của hang lở ra, các cụ xếp lại khu đền Quán La có một kiến trúc thâm nghiêm. Hai bên đền có hai cây đa lớn, đó là căn cứ cũ của cách mạng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã về thăm dân xã và đứng ở gốc đa để nói chuyện với dân, tại đây chính Người đã căn dặn dân phải giữ gìn các di tích lịch sử. Trước cửa ngôi đền này xưa có tam quan nay bị đổ nát mất hết dấu vết, các cụ còn nhớ xưa ỏ tam quan có hai cây thông cổ thụ, khi CCRĐ, người ta đẫ cưa thành khúc để bán làm gỗ đàn!

Hiện nay khu vực đền chỉ còn gian nhà hậu cung, hai bên giải văn,giải vũ đổ nát. Dưới sân là các xe của quân đội chạy di chạy lại, Di tích đang thành phế tích

- Chùa Quán La: Chùa có kiến trúc trải dài khác với các chùa khác, Trong chùa còn giữ được nhiều hiện vật lịch sử quý như:

+ Chuông đúc thời vua Thiệu Trị có bài minh (chưa dịch).

+ Bia đá: Có nhiều bia đá, đặc biệt có một tấm bia Thái Đức, không khắc niên hiệu Bắc Hà. Phải chăng vì Quán La xưa là nơi lưu giữ các tù binh chiến tranh, những người phương Nam bị giữ lại ở Quán La đã dùng niên hiệu Thái Đức thay cho niên hiêu Bắc hà là Lê Cảnh Hưng.

- Đền Sóc: Ngày 14-5-1989 tôi và Phạm Văn Thắm (ts) đến đền Sóc để xem thực tế, ngôi đền này tương truyền là xây từ thời Lý Thái Tổ khi nhà vua ra Thăng Long. Vết tích trùng tu cuối cùng là Bảo Đại năm thứ 10.

Ngày xưa, 1958 ngôi đền còn là nơi uy nghiêm, nhưng sau năm tổ chức CCRĐ đợt V người ta đóng cửa đình lại và sau đó lợi dụng cây cối um tùm, dùng đình là nơi sơ tán các đoàn xe. Đến năm 1989 đình đã điêu tàn, những chiếc xe tải đỗ nghênh ngang trong sân, Văn phòng đoàn xe ở trong sân, nhà ở ngay nách hậu cung. Khi chúng tôi đi vào thăm đình, có nhiều người đi theo cụ Vinh (QLDT) giải thích: “Họ dò xem ta làm gì để chống đấy.” Cái thời dân có đình, xã có quyền mà phải sợ cái đoàn xe sơ tán nhờ đất đình, thế có khổ không? Hai cụ kể chuyện ngày xưa cụ Hồ về đây, ông Trường Chinh cũng về đây, các vị đều bảo: “Phải giữ lấy di tích này” Tuân theo lời các vị lãnh đạo, chúng tôi đã đi khắp nơi kêu cầu nhưng nào có thấu đến ai. Hai chúng tôi xem xét cẩn thận tất cả những hiện vật, tất cả đều mang dấu hiệu mỹ thuật đời Lê, nhưng khi hỏi đến thần phả, ngọc ngả, thì các cụ cho biết đã bị thu đi từ năm CCRĐ, đến nay không ai rõ. Hai cụ chỉ nhớ rằng đó là thời kỳ ông Bách làm chủ tịch Xuân Đỉnh có dẫn ông Minh (người Cổ Nhuế làm việc ở 90 Hàng Bông nhuộm) đến lấy quyển ngọc phả và các đạo sắc phong thần cho Phù đổng thiên vương. Đến nay mất tất cả, biết đâu mà tìm.

- Các xóm của Xuân Đỉnh

Các cụ kể chuyện Xuân đỉnh có 4 xóm là Đông Xuân, Lộc, Quyết Thắng và Nhang.

+ Xóm khu Nhang có nhà thờ ông Nguyễn Công Cơ tức cụ Thượng Cáo, Cụ làm quan triều Lê, đi sứ Trung quốc cãi về việc bãi bỏ lệ cống Liễu Thăng đã thắng lợi.

+ Xóm khu Lộc có Phủ đó là nơi thờ bà Chiêu nghi vợ của chúa Trịnh. Truyền rằng sông Thiên Phù xưa còn chảy qua Quán La, một lần chúa đi chơi trên sồng, nghe có tiếng người hát:

Tay cầm bán nguyệt xênh xang

Người ta che tán che tàn mặc ai


Chúa lấy làm lạ, hỏi thăm ra người hát, và đón nàng về làm phi. Bà phi sau này được chúa yêu, lợi dụng điều đó, bà đã giúp dân làng được nhiều điều, dân nhớ ơn và thờ bà

(Bà là Vũ Thị Xuyến, chiêu nghi của Dương vương Trịnh Tạc)

Tại khu Nhang có nhà thờ và tắm bia ghi “ Tiên triều trung hưng Tuyên lực công thần Sô quận công Đỗ tướng công thụy Minh Đạt” kể chuyện cụ Minh Đạt đi thăm đồng thấy có đứa trẻ lạc liền đưa về nuôi. Sau có sứ giả rao tìm hoàng tử. Cụ đem nộp và được phong Quận công, nhưng vì không biết chữ nên ở nhà, làng goị là “Quận công tại gia”.

Ngõ Dầu khu Nhang là quê của vợ chồng Vũ Phục. Sau khi ông bà Vũ Phục chết vì nước, dân làng gọi nơi nhà cũ của ông bà là xóm Dầu, mảnh đất cũ của ông bà thì xây thành miếu Vũ thờ 2 vợ chồng, khu đất này trở thành nơi cấm địa, hàng năm dân làng Cáo tổ chức lễ, kiêng tên Phục mà gọi là Phược.

Bây giờ Xuân La đã thành các khu vực (hay cụm dân cư) như sau :

- khu vực 1 và khu vực 2 là đất Xuân tảo Sở

- khu vực 3 là đất Vệ Hồ

- khu vực 4 là đất Quán la sở

- khu vực 5 là đất Quán la xã

- Chuyện ngày xưa của Xuân La:

Về Xuân La không tìm hiểu được về thần tích và lễ hội, tôi đến các anh em để nhờ các bạn kể cho biết về ngày xưa của làng. Ông Phương Văn Câu gần 70 tuổi ở Quán La cho biết: Quán La xã nay là Cụm 5 Xuân La. Ngày xưa đây cũng là nơi đất học, tại Quán La bây giờ còn một người cháu đích tôn cụ Đồ Nghệ đến đay dạy chữ rồi lập nghiệp ở làng. Hết thời học chữ Nho, sang thời học Quốc ngữ thì Nhà nước lập trường học ở mộc đình Quán La và bổ nhiệm về đây một ông thầy tên là Nguyễn Khắc Nhiệm Trường Quán La thu hút nhiều học sinh , các trò học hết lớp Nhất thì đi thi Sep. Ông Ngô Đức Vinh cũng đã gần 70 tuổi, kể với tôi rằng: Làng mình là Quán La Sở hồi trước năm 1945, chỉ có vài chục nóc nhà, khi lớn, các trò đều phải sang đình Quán La để học. Ông Phương Văn Đán bên Xuân Tảo sở cho biết bây giờ Xuân Tảo sở cũng có người học cao, học giỏi, hơn hẳn anh em mình ngày xưa Làng Xuân Tảo Sở có Tiến sĩ dầu khi Nguyễn Văn Bách, Anh này là con liệt sĩ Nguyễn Văn Vạn hy sinh thời chống Pháp, lại có một ông là giáo sư Đại học Nguyễn Văn Thành, và một vị hàm đại sứ ngoại giao, nghỉ hưu về làng làm ông chủ tế tại đền Quan Trấn đông! Tháy tôi ngơ ngác, Đán cười thân mật bảo: Cụ Phương văn Thùy làng tôi đấy.

Xuân La - một làng ngày xưa làm nông nghiệp, ngoài ra chỉ biết bắt cua mò cá bên Hồ Tây, một làng có đến 2 sở nguyên là những điểm “cảo điền” do triều đình cũ lập ra , chuyên để cho những viên quan bị phạt tội, những chiến binh xứ người bị thua trong chiến trận , nay đưa về đây giam lỏng cho đến cuối đời cho nên ngày xưa, Kẻ Sở làm gì có hội. Thế mà bây giờ, đi đến Xuân La trên con đường Lạc Long Quân thấy Xuân La đang nỗ lực đổi mới và đô thị hóa Ngoài cây lúa nước, các gia đình đã đua nhau trồng đào. Rất nhiều biệt thự của các vị cao cấp đã đi trước thời đại đến với Xuân La để mua đất xây nhà đẹp bên Hồ Tây, xây nhà đẹp bên đường Lạc Long Quân, bên đường Xuân La. Tất cả đang đua nhau đi lên và khoe nhau về mọi sự sang giầu quyền quý của mình, chỉ không hiểu là trong cái bước khổng lồ đô thị hóa ấy, họ có bị lỡ bước không? Khác với câu chuyện mà các bác cao tuổi kể với tôi về ngày xưa đi học, hiện nay ở Xuân La có một hệ thống giáo dục gồm trương tiểu hoc - trường Phổ thông cơ sở - sân thể thao rất khang trang, mà có lẽ một đơn vị cấp huyện còn mơ ước. Cơ sở vật chất như thế, con người như thế, Xuân La đang trở thành phường “thủ đô” của quận Tây Hồ.



. . Cập nhật theo nguyên bản của tác giả từ HàNội ngày 01.03.2018.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004