Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới







Bức Họa Người Tình Phố Núi









- B ác định mua chăng? Không bán. Ăn, uống, trọ nghỉ thì được.

Tôi đứng sau lưng ngó xem tranh khá lâu, người đó vẫn mải miết vẽ, chả thèm để ý. Vẽ không người mẫu, dạng chắt lọc từ ký ức. Bức họa gã đàn ông râu quai nón, lông mày lưỡi mác sắc rậm, điển trai kiểu giang hồ. Ngắm bức chân dung, thấy trường phái, phong cách, bố cục, cách thức pha trộn màu sắc, biết là dân nghiệp dư, nhưng gửi gắm lòng mình - hồn cốt, thần cách và cái tình.

- Thằng người yêu em đấy.

Đến lúc này chị ta mới quay lại nhìn tôi. Người đàn bà tuổi cỡ ngoài năm chục, dáng vẻ pha trộn chất quê mùa, núi rừng, cùng thứ chao chát của dân buôn bán. Chắc chị ta cũng một thời xuân sắc, tóc đen dày, búi chổng ngược trên đỉnh đầu và trang điểm nhẹ.

- Bác cần phòng chưa?

Ấy là chị ta hỏi và chùi tay vào tạp dề, những ngón tay vương vấn màu vẽ.

- Sao  biết tôi trọ?

- Vào đây hoặc trọ, hoặc ăn, có ai xem vẽ vời đâu. Họ bảo em là con mẹ cám hấp trên vung, chả yên phận bán phở, chứa trọ, lại nảy nòi vẽ vẽ với vời, còn cả thơ phú nữa. Mà vẽ ai không vẽ, lại vẽ chính kẻ người tình từng đá mình. Bác thấy em điên khùng không?

Nói rồi chị ta cười rinh rích, che tay lên miệng với chút chút thẹn thùng. Ở ngữ tuổi năm mươi, phụ nữ vẫn còn giữ nét thẹn thùng, duyên chứ nhỉ.


**


Tôi đang ở một quán nửa nhà trọ, nửa quán ăn, biển hiệu trưng ra: Nhà nghỉ phố Quặt. Quán trọ hai tầng, tường thưng gỗ, trần – tức sàn tầng hai, cũng lát gỗ; khu  tầng dưới là phòng ăn uống, bếp và vệ sinh, tầng trên bố trí buồng ngủ. Quán xá tềnh toàng. Phòng ăn kê chiếc bàn to, cùng mấy chiếc nho nhỏ nữa, mặt bàn nổi màu mỡ mắm đen xỉn. Trên mặt bàn bày ra nào lọ dấm ớt, ống đũa, giấy ăn; góc nhà là quầy gỗ bày lọ nước mơ, sấu dầm, hộp cà phê và bàn bếp đặt chồng bát đĩa, chiếc thớt nghiến to quật, lủng lẳng treo miếng thịt thâm xì xì, chả rõ trâu hay bò, ruồi muỗi túm tụm bâu đậu, cùng thêm túm ớt quả, mớ hành và đám mùi tàu. Tường gỗ quanh phòng dán dăm ba bức hình quảng cáo về thuốc cường dương, trĩ nội ngoại và đến dăm, bảy bức họa, chân dung kẻ đàn ông, kiểu như người đàn bà đang cắm cúi vẽ.

Phố núi trước là khu văn phòng lâm trường, sau giải thể, trả lại địa phương, cùng giao khoán cho dân; cán bộ, công nhân viên nghỉ chế độ, thôi việc, thành dân tự do, người người bươn chải kiếm sống. Vượt đèo Hổ Vồ là tới phố núi. Tên phố hơi lạ: Quặt, phát âm trẹo cả miệng, chả ra địa danh tên nôm vùng xuôi, không ra từ ngữ nơi miền sơn cước. Đèo có tên vậy, bởi trước kia có con hổ què, rình rập ở khu rừng gianh, thì thoảng ra vồ người, ăn thịt.

Phố Quặt với đôi ba chục nóc nhà, xộc xệch, tiều tụy, những mái nhà lợp phi bờ rô xi măng hứng đầy bụi đất, được căn nhà nào ra hồn, thì cửa rả, tường xây nhem nhuốc bụi đường. Phố rôm rả góp mặt trong cơ chế thị trường dãy cửa hàng kinh doanh đủ mọi hàng hóa, dịch vụ, nào sửa chữa xe máy xe đạp, bán hàng hóa Tàu và có hẳn ngôi nhà trọ cùng quán hát Karaoke nằm đối diện nhau, loa đài rên rỉ hát.

Tôi có chút việc qua đây, liên quan đến công trình từ thiện, xây bếp ăn cho ngôi trường trung học cơ sở dân tộc bán trú, tối đó dừng trọ lại phố núi. Thực ra tôi còn phải đi tiếp, độ hơn hai chục cây số. Đường núi hiểm trở, kể cả bắt xe ôm, trong cảnh chiều muộn, vả lại đêm hôm mịt mùng, tới cũng chả gặp được ai nữa.


***


Ba phòng ngủ ngự gác trên. Đi lại sàn gác rung rung lắc lắc, kêu đảo răng rắc. Đồ đạc đơn sơ, trật khấc chiếc giường đôi, phủ tấm chiều sờn rách, màn tuyn màu cháo lòng te tua và bày sẵn đôi gối cũ rỉn, bốc mùi hôi rình, lên nước màu xỉn y như mấy mặt bàn ăn dưới gác. Chắc do thấm đẫm mồ hôi và dãi rớt lưu cữu của các người từng qua đây ngủ nghê.

Phòng ngủ mà khói bếp cùng mùi thức ăn từ bếp xộc lên ngào ngạt. Được cái, phòng ốc bé tẹo, mà có bồn cầu, vòi nước, khách khứa thoải mái rửa ráy. Chu đáo quá, tôi ngó thấy mấy bao OK, cái nguyên tươi chưa bóc vỏ, cái dùng rồi, vứt tọt vào sọt rác; khăn tắm thì sẵn, bốn năm sáu bảy chiếc vắt treo khắp nơi khắp chốn. Cửa sổ căn phòng ngó ra con đường chạy vắt ngang trước nhà. Vào phòng của tôi phải qua dãy hành lang xuyên ngang cửa hai buồng trọ kia. Lúc qua đấy, thấy cửa rả khép im ỉm.

Đưa lên nhận phòng xong, bà chủ tong tả xuống gác. Tôi ngó nhìn con đường trước nhà. Cảnh vật buồn tẻ: lững thững dăm ba người qua lại; ai đó dắt ngựa, lưng gùi củi, hay đám rau rừng, kè kè con dao quắm bên hông, lũi cũi bước. Bất chợt có anh chàng người Mông trang phục đen thẫm, đũng quần thề lề, phía sau cô gái váy áo sặc sỡ, đầu quấn tấm khăn cũng sặc sỡ, ôm ghì lấy cậu trai, chả rõ chồng vợ, hay cặp yêu đương nhau. Đường đá lổn nhổn, xe máy chồm chồm, cặp trai gái phi con xe Tàu chạy như chạy giặc, phía sau tung lên lớp bụi mù mịt. Ngắm cảnh người, cảnh núi đồi lở lói, trọc trụi và nhất là sàn nhà cứ từng đợt rùng rình, cót két tiếng giường chiếu, cùng tiếng thở hổn hển, rên rỉ từ buồng bên vọng sang, tôi đành lòng xuống gác. Vừa thấy mặt khách, bà chủ đon đả:

- Bác thăm chơi đâu đó chăng?

- Dạ.

- À, bữa tối bác dùng gì, cứ gọi. Thức đồ gì cũng có: thịt rừng, trâu khô, măng đắng,... chỉ loáng cái xong ngay. Nhà em vừa nhập đám thịt hoẵng tươi rói. Nghe nói bắn tận rừng Hửu Quẩy. Còn rượu thì ngon tuyệt. Đây rừng núi buồn tẻ, bên kia sẵn quán hát hay lắm. Hát xong, bác cứ đưa về đây. Em chỉ tính thêm chút chút tiền phòng thôi.

- Tôi gần sáu sọi, món ấy chả còn thiết.

- Bác cứ nói thể. Đàn ông, cắt đầu gối còn máu là còn thứ khỉ gió đó… Ha hi ha!

Tôi nghĩ bụng, nơi thâm sơn cùng cốc, mà sẵn ca ve nhỉ, kém cạnh Thủ đô đâu, có khi còn hơn đó: Quặt, rồi Hửu Quẩy, Hổ Vồ cơ mà.  Chợt từ cầu thang đôi trai gái dìu nhau xuống gác. Họ như dính bện, mặn nồng, tình cảm, xoắn quẩy lấy nhau. Chắc cặp đôi thuê phòng kề sát phòng tôi. Anh chàng thì khẩu trang, kính râm, mũ bảo hiểm che kín mít, còn cô nàng tươi non roi rói, váy áo hớ hênh. Nàng tiễn đưa chàng ra đường, xe máy nổ pành pành lao vút xa rồi, còn giơ tay vẫy vẫy và đưa lên hôn gió một cái.

Hôn gió xong, nàng ta quay vào, gọi cốc cà phê. Vậy là hoàn thành một ca ngủ thăm của khách làng chơi. Cô nàng ngồi nghếch nghếch chân trên ghế, nhâm nhi tách cà phê, phì phèo điếu thuốc, ngó nhìn tôi - ông khách già - một cách khiêu khích. Thấy chả nước non gì, nàng ta tót sang quán hát bên kia đường. Quán trương tấm biển to không kém cạnh nhà trọ đối diện bên này: Karaoke Phố Quặt.


***


Phố núi yên tĩnh. Trời sập xuống tối nhanh. Ánh nắng vừa còn chiếu dọi vàng hoe, thoáng cái ông mặt trời thụp ngay xuống núi.

- Mời bác dùng bữa.

Người đàn bà hối hả bày các món ăn, nào thịt hoẵng xào, trâu gác bếp, lạp xưởng hun khói, canh măng,… Tôi ngắm nhìn thứ rượu hoẵng vùng đồng bào Dao, màu vàng thẫm...

- Có chẳm chéo, măng dấm ớt, bác cứ dùng tự nhiên. Rượu thì thoải mái. Hết, em lại mang ra hầu bác tiếp.

- Cô dùng bữa cùng cho vui.

- Bác cứ tự nhiên. Em ngồi góp chuyện cho bác ăn rượu thêm ngon miệng.

Chị ta người vùng xuôi, đầu thập niên tám mươi của thế kỷ trước, học xong lớp mười, thi không đậu trường chuyên nghiệp, bò lên đây. Ở lại quê chả nổi, bởi công điểm ngày trả vài ba lạng thóc, hợp tác xã nông nghiệp sắp tan. Mang tiếng tốn bao tiền của, công sức học hành, làm ruộng, dân làng không cười cho thối mũi; lấy chồng cũng chả xong, toàn lũ trai làng ít học, rượu chè bê tha, đánh vợ con như bổ củi. Vì họ hàng là công nhân lâm trường, họ ưu tiên cho vào biên chế. Phận gái quê, suốt ngày mông chổng ngắm trời, úp mặt nhòm đất, mác công nhân oách hơn là cái chắc. Kể đến đấy, chị ta quay ngoắt sang hỏi tôi:

        -Bác bị đói bao giờ chưa? Quê em từng đói quay quắt, vàng mắt ra nhé. Nay đọc mạng thấy bảo, có nước dân chúng ăn cỏ, rồi giết thịt trẻ em, nhà này đổi con cho nhà kia, làm thịt đỡ thương. Khiếp! Làng em chửa có nhà nào phải ăn cỏ, hay thịt người. Trừ đỉa thôi, còn cóc ngóe, cào cào, rắn chuột, bắt hết, ăn tuốt. À, chính em từng ăn nhau bà đẻ đấy. Mẹ em là bà đỡ trạm y tế xã, cứ chọn ca nào con so, người khỏe mạnh là gói về, bóp với rượu, gừng, sạch sẽ xong cho vào bát ô tô hấp cách thủy, đập hành khô, tỏi vào. Chín tới thì bắc ra, thái miếng, nom y như miếng gan ấy, ngon ngon lắm! Con nhau thai con dạ sẽ bị xốp, giống phổi lợn, không ngon bằng nhau con so! 

Nghe chị ta miêu tả, tôi rùng mình, song tin ấy là thật. Đói thì người ta mất tiệt nhân cách, nhân tính, kiếm được thứ gì thì tống ngay vào mồm thứ đó.

- Tiếng là công nhân lâm trường, nhưng khốn khổ lắm bác ạ. Ở quê đói khát - chị ta kể - lên đây còn khổ nhục hơn. Em vừa chân ướt chân ráo tới lâm trường, vớ ngay phải tay giám đốc tính khí dâm dê. Nghe đồn nó ngủ hết lượt, già trẻ lớn bé xơi tuốt. Kể cả con nuôi, cháu nuôi, nuôi toàn để thịt dần thôi. Mà lại ghen tuông, tranh giành nhau nữa chứ, gã giám đốc với tay bí thư chi bộ.

Gã giám đốc mặc cả, em ngủ với nó, sẽ bố trí cho chân đi học y tá, em là người có trình độ văn hóa cao mà. Còn tay bí thư, một lần tập hợp các đoàn viên lâm trường để lên lớp về lập trường quan điểm vững vàng, lý tưởng trong sáng, cuối buổi hắn bảo em ở lại và gạ gẫm, nếu chiều, sẽ dìu dắt, kèm cặp vào Đảng. Sau rồi hai đứa đó ganh ghen nhau, lão giám đốc thủ con dao, đâm lòi ruột tay bí thư. Tòa kết án tay giám đốc dăm năm tù, gã bí thư thành kẻ thương tật, về mất sức. Nói tới đây, chị ta chỏ tay vào căn nhà phía xa xa:

- Đấy, nhà lão giám đốc đó. Giờ thân tàn ma dại, lại nát rượu. Đứa phục vụ thằng trai vừa nãy, là con gái lão ta đó.

Làm tiếp chén rượu, thấy tôi vẻ lắng nghe câu chuyện, chị ta hào hứng kể tiếp:

- Sau vụ chúng ghen tuông tranh cướp nhau, em thôi béng công nhân lâm trường. Báu bở, màu mỡ riêu cua gì. Tháng chưa nổi hai chục cân gạo sổ, vài chục bạc đồng lương chết đói, hết trồng trẩu sang trồng thông, lâm trường sắp tan, mà kế họach phát triển rừng rú cứ thay đổi xoành xoạch: chặt trẩu để sang trồng thông, rồi đảo sang trồng cây gỗ lát. Cây gỗ lát trồng đến trăm năm, chết bỏ thằng cụ hết rồi, kế với chả hoạch. Chỉ khổ công nhân thôi, đào xới bới lộn đất đồi đất núi lên. Mà trồng cấy gì đâu, chặt đốn rừng là chính, chuyển gỗ lậu về xuôi. Thế nên giờ đồi núi hết tiệt cây cối. Mà em cũng chả muốn mang tiếng là cái điều cày của lâm trường như nhà chị nọ, hết các ông trong ban giám đốc, đến các tay đội trưởng. Em bỏ lâm trường còn lý do nữa, gã người yêu, trước lái xe ở đây, sau bỏ việc. Số em đen đủi lắm bác ạ, vớ ngay phải kẻ bạc tình, bạc hơn vôi, cái gã Sở Khanh.

Hóa ra người phụ nữ này cuộc đời cũng truân chuyên, ba chìm bảy nổi chín cái lênh đênh. Tôi đâm ra tò mò chuyện đời của chị ta.

- Ngay buổi đầu gặp, em đã ngẩn ngơ gã. Chết là chết vậy đấy. Thấy bảo trên này có bùa, bị bò là đâm ra mê mẩn, chả dời ra nổi. Khéo gã bỏ bùa, chài em cũng nên. Đàn ông đâu mà có thứ sỗ sàng, tham lam lắm. Chân ướt chân ráo tới đây, xe khách vừa thả xuống đường, còn lỉnh kỉnh túi tắm, đồ đạc, thì chiếc xe tải ập đỗ. May quá, xe lâm trường. Gã nhìn ngó em kiểu ăn tươi nuốt sống. Thế là chúng em bập vào nhau, chả còn biết trời đất gì nữa. Nhưng tính khí gã cũng ghen tuông lắm. Nghe lão giám đốc, rồi tay bí thư gã gẫm, không có em gàn, là xách dao đến xin lũ kia tí tiết. Khiếp không cơ chứ!

Trong câu chuyện, chất giọng, ngữ điệu của người đàn bà, thì vết thương lòng còn tê tái.

- Vậy mà bạc, mà ác, bỏ cả em, cả vợ con ở quê, theo ngoắt con mẹ nạ dòng kia, già hơn gã đến mươi tuổi.  Thấy bảo, không theo không xong. Con mẹ ấy là chủ đường dây buôn bán hàng quốc cấm. Giờ thì lão ta cũng khổ, nghe nói dặt dẹo, bồ đá, vợ bỏ. Thật đáng đời, đáng kiếp nhá!

Chị ta thoáng thở dài. Ánh mặt, cử chỉ, ngữ điệu và hình như cặp mắt loang loáng ướt. Chắc cái tình của người đàn bà này với kẻ đàn ông phụ bạc kia còn sâu nặng. Đang dang dở câu chuyện, chợt ô tô khách xịch đỗ trước quán. Khách khứa, hàng họ đổ xuống. Góc phố núi chợt ồn ào, xáo động. Thấy xe khách bà chủ cũng tong tả chạy ra ngó nhòm, xem vớt vát được khách hàng nào chăng. Và rồi khách, hàng hoá tản nhanh. Khi chị ta quay lại, thái độ vẻ không còn vui vẻ nữa. 

Bất chợt ngoài cửa xuất hiện người đàn ông. Kẻ đó đeo cặp kính râm đen xì, râu quai nón không tỉa cạo, đâm mọc tua tủa. Chiếc áo sờn rách, vai khoác túi đồ sờn cũ. Mệt mỏi, gầy guộc, song khuôn mặt toát lên vẻ phong trần, một thời ngang dọc trời Nam đất Bắc. Tôi thoáng nghĩ, một tay anh chị và nghĩ tới câu chuyện bà chủ loáng thoáng kể, khi kiểm tra chứng minh thư của tôi, tháng trước vùng này có băng đảng buôn bán ma túy, thanh toán nhau.

Ô kìa, ông khách bất ngờ xô chạm ghế, vấp ngã dúi dụi, văng cả kính, tuột rơi chiếc túi quàng khoác trên vai. Bỏ chén rượu, tôi bước lại đỡ giúp ông ta dậy. Người đàn bà nhìn cảnh trên, ban đầu vẻ thảng thốt, rồi thoáng nhanh chuyển sang sững sờ, tiếp đấy phắt cái mặt mũi lạnh tanh. Quả thật người đàn ông tiều tụy, xơ xác nghèo, bước chân vào quán xá lúc này, chủ nhân chả hi vọng kiếm chác được gì, có khi còn bị khách nhờ vả, như xin tá túc qua đêm chẳng hạn. Vực người đàn ông dậy, nhặt và đưa kính lại cho ông ta, tôi mới hay, ấy là một người khiếm thị. Dìu ông ta ngồi xuống ghế, tôi đâm ra khó xử. Nét mặt chủ quán lúc này lạnh tanh lạnh ngắt hơn. Đúng là vẻ mặt của kẻ mua bán, chao chát giành giật nơi phố núi. Có lẽ thái độ và câu chuyện của chị ta lúc trước, cũng chỉ là sự đưa đẩy của người mua, kẻ bán. Bất chợt người đàn ông cất tiếng:

- Làm ơn cho hỏi... đây là phố Quặt?

Nếu không có câu đỡ lời của tôi, câu hỏi của ông ta sẽ rơi vào chốn lạnh băng của bà chủ:

- Đúng. Ông tìm người quen chăng – tôi hỏi.

Bằng thái độ và bước chân bậm bịch, bà chủ bước nhanh xuống bếp. Tiếp đấy vọng ra tiếng xoong nồi xủng xoảng, cùng giọng nói chát chúa:

- Muộn rồi. Ông khách dùng bữa xong chưa. Tháng trước công an vừa vồ được lũ vận chuyển ma túy đó. Địa phương yêu cầu, nhà hàng đóng cửa sớm.

À, hóa ra bà chủ có ý xua đuổi vị khách mù lòa kia. Phố núi lắm chuyện phức tạp. Chị ta còn phải lo giữ thân mình chứ. Không để ý tôi dùng bữa xong chưa, chị ta sầm sập quay lại, quơ quéo dọn dẹp bàn ăn. Khi tôi chầm chậm bước chân lên gác, cũng là lúc người đàn ông ngập ngừng đứng lên, rờ rẫm bước ra cửa. Đi đâu, về đâu, giữa chốn rừng núi hoang vu, tăm tối - trong tôi nghĩ ngợi và lòng thoáng chút thương cảm. Giúp được gì đây, bởi tôi cũng chỉ là kẻ qua đường, nghị trọ nơi phố núi quạnh hiu  này.

Sáng hôm sau tôi thức dậy khá sớm, còn phải bắt xe ôm cho kịp đến nơi cần tới kia. Người đàn bà chắc cũng dậy sớm, tôi vừa ngồi xuống bàn, chị ta đã bê ra bát phở, khói bốc lên nghi ngút. Nom chị ta khác lạ, chả còn nét mặn mòi, mà thất thần, sọm già đi đến dăm tuổi. Ánh mắt vô hồn, vô thức, chị ta thốt lên:

- Hắn đó!

Tôi cũng mang máng đoán vậy.

Hơn năm rồi tôi mới có dịp quay lại phố Quặt. Vẫn quán trọ tiêu điều, cũ kỹ, buồn thảm. Không gặp lại bà chủ, chỉ thấy cô ca ve cai quản giúp. “Biền biết đi tìm người tình đó.” Khi bê bát phở ra, cô ta ta thán tiếp:

-Thiên hạ còn lắm kẻ dở hơi, lại đi tìm người tình xưa cũ của mình cơ chứ!



VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004