Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới






Nhật Tân Một Làng Huyền Thoại



C ó một điêù lạ rằng ven Hồ Tây chỉ có hai làng cổ nay lập thành phường, khômg cần phải hợp nhất với các làng khác, đó là Thụy Khuê (xưa là Thụy Chương ) và Nhật Tân (xưa là Nhật Chiêu). Hai làng này cùng thờ một vị thần có tước hiệu là Uy Linh Lang nhưng xuất xứ khác nhau:

- Đình Thụy Chương thờ ngài Uy Linh Lang thời Lý.

- Đình Nhật Chiêu thờ ngài Uy Linh Lang thời Trần.

Tuy thời gian có khác nhau, nhưng cả hai vị thần đều giáng thế để giúp nước đánh ngoại xâm. Trong tập “Việt Thường thị Lý triều tông đế Linh Lang đại vương ngọc phả cổ lục” có chép bài thơ của Linh Lang như sau:


Kim Cổ tuy xa vẫn nhất nguyên

Anh hoa còn mãi bao đời truyền

Non sông bất tử anh hùng tại

Sinh hóa thần linh, sử chép biên.


Chúng ta đã khảo sát đình Voi phục Thụy Chương nơi thờ Uy Linh Lang thời Lý, hôm nay chúng ta đến phía Đông Hồ Tây để được làm quen vời làng cổ Nhât Tân, nơi có hoa đào đỏ thắm, mỗi độ xuân về, người Nhật Tân mang đào về phố, người đi đông lắm, thành một dòng sông đỏ chảy từ ngoại thành vào nội thành.

Làng Nhật Tân xưa có tên là Nhật Chiêu, trải dài hai bên bờ phía đông và phía Tây Hồ Tây, thời vua Lê Hiển Tông Nhhật Tân được gọi là phường Nhật Chiêu huyện Quảng Đức phủ Phụng Thiên thành Thăng Long. Đến triều Nguyễn, Nhật Chiêu thuộc tổng Thượng huyện Vĩnh Thuận phủ Hoài Đức thành Hà Nội. Sang thơì Bảo Đại xã Nhật Chiêu đổi thành Nhật Tân thuộc tổng Thượng huyện Hoàn Long tỉnh Hà đông. Năm 1955 xã Nhật Tân thuộc quận V ngoại thành Hà Nội, năm 1961 thuộc huyện Từ Liêm, đến năm 1996 thì đổi thành phường Nhật Tân thuộc quận Tây Hồ.

Trong lịch sử, Nhật Tân có 4 thôn tập trung thành 4 khu vực:

- Thôn Đông: Giáp với phường Quảng An. Trước đây trong thôn có 3 xóm: xóm Tràng, xóm Đình và xóm Tân Đê

- Thôn Tây: Xưa là ba xóm, gồm xóm Lũy, xóm Trung Hương và xóm Cầu Bàng, thôn này ở vị trí ngã ba hai con đường Lạc Long quân và Âu Cơ nên phát triển. Ngày xưa có cổng làng to đẹp, khi mở cổng làng, người ta trông thấy con đường lát gạch nghiêng nối từ đường Âu Cơ vào làng, Theo cụ Nguyễn Văn Học 83 tuổi kể lại thì gạch xây đường là gạch nộp cheo của các đám cưới trong làng.

- Thôn Nam: Giáp với phường Xuân La. Trước đây thôn chia thành các xóm Hoa Đình, xóm Chùa, và xóm Giếng. Có cổng làng nối với đường Lạc Long Quân, trước kia cổng làng có đắp chữ Hoa Đình.

- Thôn Bắc: Thôn này chia làm hai thôn nhỏ, gọi là Bắc Nội và Bắc Ngoại. Trước đây tại thôn Bắc Nội là các xóm hợp thành, đó là Bắc Xưởng, Bắc Hạ, Minh Hương và xóm Cung. Thôn Bắc Ngoại trước đây ở giữa bãi sông Hồng, có dân cư ra canh tác, sau vì nước lũ nên không có người ở.


* Các dòng họ trong thôn:


- Thôn Đông: có 5 dòng họ, có họ cư trú lâu đời như họ Nguyễn, họ Đỗ, họ Trần, họ Vũ . Trong thôn này có ông Vũ Tuấn Chiêu quê nội ở xóm Xuân Lôi - thôn Cổ Da - xã Nam Hùng - huyện Nam Trực - tỉnh Nam Định, Năm lên 6 tuổi, cha chết, ông phải về sống tại quê mẹ tại phường Nhật Chiêu. Khoa thi Ât Mùi năm Hồng Đức thứ 6 (1475) Vũ Tuấn Chiêu đi thi, đỗ Tiến sĩ đệ nhất giáp (Trạng nguyên). Ông làm quan nhà Lê đến chức Tả thị lang. Ông là tổ họ Vũ ở Nhật Tân.

- Thôn Tây: Có các họ Chu, họ Đỗ, họ Trần, họ Nguyễn, họ Bùi cư trú. Ông tổ họ Đỗ nguyên là con rể vua Tự Đức, là Đỗ Quý Công, tự là Tảo Sính. Nhà thờ họ Đỗ có đôi câu đối:

        Khổ công học tập nên sự nghiệp

        Tự hào nguồn gốc ắt hiển vinh

Người trong thôn này có nhiều họ thành đạt như họ Trần có cụ Trần Văn Sắc đi thi đỗ Hông đô làm quan triều Nguyễn, họ Chu có cụ Chu Lệnh Công đi thi đỗ Hương vào năm 1925 triều vua Khải Định. Người làng ở xóm nào cũng có người đi thi, bởi các cụ trong làng rất trọng đạo Nho. Mà cụ Đỗ Thị Trinh ở thôn Đông năm nay đã 92 tuổi khi tiếp tôi tinh thần vẫn còn tỉnh táo, cụ thường đọc Nhị thập tứ hiếu (sách do Sài gòn xuất bản có song ngữ: chữ Nôm và chữ quốc ngữ). Cụ kể rằng: Ngày xưa cụ bố tôi rất trọng chữ Nho, cụ nuôi thầy đồ người Thanh Hóa ở trong nhà để cho 3 chị em chúng tôi học. Cụ sinh con gái một bề nên cụ quyết chí cho các con học chữ Nho để nên người, chị em chúng tôi không đi thi nhưng có tiếng trong làng là những học sinh giỏi. Ông Nguyễn văn Học - nguyên đại tá Quân đội Nhân dân Việt Nam - năm nay cũng hơn 80 tuổi kể rằng: Xưa các cụ đồ về làng Nhật Tân dạy dọc có nhiều, ví dụ làng tôi có cụ đồ Nhẩm đi thi Hương bị trượt về mở trường dạy học. Lại có cụ đồ Phong là người trong Thanh Hóa đến làng dậy chữ Nho, khi chấm dứt học chữ Nho, cũng có các cụ biết chuyển sang dạy chữ quốc ngữ các cụ Lý Bạch, Lý Long (tên thật là Trần Văn Uẩn và Nguyễn Phan Long) là người biết chuyển từ dạy chữ Nho sang dạy chữ quốc ngữ. Cụ Nguyễn Phan Long mở lớp dạy chữ Hán tại Nhật Tân, khi có phong trào Đông Kinh nghĩa thục, cụ tham gia phong trào, bị Pháp đàn áp, cụ phải bỏ quê, trốn vào Huế, ra Hải Dương, nhưng ở đâu cụ cũng dạy học, hai người con trai của cụ là các ông Nguyễn Phụ Phượng và Nguyễn Đức Hồng cũng dạy học, cháu nội của cụ là các ông bà Tuất, bà Châu, bà Báu, và bà Liên đều là giáo viên, cho đến đời thứ tư là chắt nội cũng làm nghề dạy học.

Ở thôn Tây có cụ Bật sau này cũng là người dạy chữ quốc ngữ, cụ Bật có người con là Trần quang Cẩn cũng đi học rồi về làng dạy học. Học chữ quốc ngữ ở làng hồi đó chỉ là học Sơ học Yếu lược, sau khi tốt nghiệp, cũng là danh giá lắm, muốn học thêm phải đi học ở trường Tiểu học Yên Phụ.

Cụ Nguyễn Văn Học kể tiếp: Những người đã tốt nghiệp Sơ học yếu lược cùng chúng tôi sau này tham gia cách mạng, tham gia kháng chiến đều trưởng thành, họ có kiến thức cơ bản. Ngày xưa đất Nhật Tân vốn là đất bãi ven sông, lại là một làng lớn, nên các làng giáp ranh không có người nào dám xâm phạm tranh giành. Làng ở sát làng Phú Xá, làng Quảng Bá, trong khi hai làng đó có nhà thờ Thiên chúa thì ở Nhật Tân có 3 ngôi chùa, không có người nào theo đạo Thiên Chuá. Nhật Tân trước sau vẫn là một làng, nay thành một xã, rồi thành một phường thuộc quận Tây Hồ, không phải ghép thêm làng xã nào.

Dân trong thôn làm nghề đánh cá ven sông, trồng dâu nuôi tằm là chủ yếu. Cây đào sau này mới có người đem về trồng tại thôn Tây, đó là cây bích đào đầu tiên của làng. Mội người thấy cây đào đẹp, lại nở hoa vào dịp Tết nên các nhà phát triển rộng ra, chưa ai khẳng định được tên người đầu tiên mang giống đào về. Lúc đầu cây đào hoa nở không tập trung, hoa nở phía dưới nhưng phía trên chỉ có nụ, về sau có chuyện ông giáo Căn tình cờ buộc giây thép chống bão vào cây đào, làm cho cây đầo bị héo quắt phía trên, ai cũng tưởng cây đào sẽ chết, không ngờ qua tiết đông chí, đào đâm hoa nở bùng từ dưới lên trên, thành một cành đào đỏ thắm rực rỡ. Từ đó, động từ “thiến đào” trở thành động từ nghề nghiệp, các gia đình trồng đào đều có kinh nghiệm nghe thời tiết để thiến đào trước tết Nguyên Đán khoảng 40 ngày sao cho ngày Tết có hoa đào đi bán, nở đẹp từ trên xuống dưới. Sau Tết Nguyên Đán thì cũng là lúc đất vườn và người trồng đào ở làng Nhật Tân chạy đôn chạy đáo để lo chuyện “đổ đất nuôi đào” bởi vì rễ cây đào đã hut hết chất mầu trong đất, chủ vườn gọi là đất đã bị “hăng, bị chua” do vậy phải hớt bỏ lớp đất trên mặt thay thế bắng lớp đất mới. Năm nào cũng vậy, dù trúng vụ hay thất bát, sau Tết Nguyên đán là mùa đổ đất.!

Đi trên đường Lạc Long Quân về Nhật Tân (những năm Nhà nước chưa lấy đất trồng đào để xây dựng khu đô thị Nam Thăng Long) ta thường gặp cảnh người dân quê Đông Anh sang làm thuê, quẩy đất phù sa do xe tải chở đến, dò dẫm đi vào từng thửa ruộng, đổ đất xuống hố gốc đào vừa nhổ lên. Người chủ đào cẩn thận nhấc nổi cây đào lên, đập bỏ đất cũ, rồi bón lót ,đặt cây và đổ đầy phù sa. Có như thế thì cây đào mới tốt mầm, to lộc. Theo các cụ ở Nhật Tân kể thì Đào có 5 chị em, cô nào cũng sắc nước hương trời, đó là đào Thất Thốn, cây lùn, hoa nhiều cánh, giống hoa cao giá nhất, rồi đến đào Bích, đào Mông Tự, đào Vân Nam và đào Phai. Đào Phai có nơi gọi là Đào Ta, nhưng cái sắc nhàn nhạt tím, sâm sẫm hồng lại chính là mầu sắc gợi ý cho thi nhân vì nó gợi bâng khuâng nỗi nhớ.

Sau khi lấy đất Nhật Tân để làm khu đô thị Nam Thăng Long, có nhiều nơi đã phát triển đào, Ngày tết ở Hà Nội, người ta thấy đào ở Phùng Xá, Văn Giang, Thường Tín, mang về các chợ hoa, nhưng ngắm kỹ những cánh hoa này sắc không thắm, cánh lại mỏng. Mất Dinh Đào, nhiều nghệ nhân của làng Nhật Tân cũng đi vào cõi vĩnh hằng, nên các cây đào từ nơi khác mang về có cái dáng ngoằn nghèo không ra một thế cảnh nào. Người làng Nhật Tân cũng đưa giống đào trong ruộng ra trồng ở bài phù sa ven sông. Vẫn là giống đào ấy nhưng cây đào trên đất mới cánh hoa mỏng, không dầy như trong đồng.


* Thần tích - Đình làng - Hội làng:


- Thần tích: Vùng phía Đông Hồ Tây có các di tích thờ Uy Đô Linh Lang Dâm Đàm đại vương là hai đình Nhật Chiêu và Yên Phụ. Theo thần tích còn ghi chép để lại và sách Tây Hồ chí, thì nơi thờ chủ yếu là đình Nhật Chiêu (tức đình Nhật Tân ngày nay). Căn cứ theo bản thần tích do Nguyễn Thị Oanh chuyên viên Viện Hán Nôm phiên âm và dịch thuật thì vị thần được thờ tại đình vốn là giòng giõi Hồng Bàng, cháu con Bách Việt. Ngày xưa Lạc Long Quân lấy con gái Đế Lai là Âu Cơ sinh được 100 người con trai (câu chuyện này đã ghi trong Lĩnh Nam chích quái lục) sau chia đàn con làm đôi, một nửa theo mẹ lên rừng, một nửa theo cha về biển, mỗi bên cai quản một phương chăn dắt dân chúng. Đại vương thuộc tộc Giao Long, là con trưởng tên là Giáp Xích, hiệu là Uy Linh Lang cùng với 6 người em có tên hiệu là Bạch Giáp, Hoàng Giáp, Hắc Giáp, Thanh Giáp, Chu Giáp và Tử Giáp. Về sau anh linh rờ rỡ, giúp dân độ vật, nhiều lần hiển ứng được đời đời phong tặng.

Đến đời vua Trần Thánh Tông có bà chính cung tên là Minh Đức hoàng hậu chưa có con nối dõi nên thường hay đến cầu đảo các di tích, mỗi lần đến vườn Ngưu uyển (Kim Ngưu) bà thường mến yêu phong cảnh nơi này, bỗng một hôm bà đang nằm nghỉ trưa tại vườn Kim Ngưu bà thấy một người mặt đẹp như ngọc, đầu đội mũ mây, mặc áo bào gấm đến trước mặt bà cúi chào mà nói: Tôi là Uy Linh Lang làm vương ở đất này đã lâu, nay gặp thánh giá tới đây ban nhiều ân sủng. Tôi đã tâu lên thiên cung được đội ơn cho phép xuống trần gian”, phút chốc bà tỉnh dậy thấy trong lòng rạo rực tự nhiên có thai. Trải qua 14 tháng đến giờ Tỵ ngày hai tháng hai năm ất Sửu bà sinh ra một bọc thai, nhưng cho đó là điềm chẳng lành bèn sai cung nữ giấu vào trong cái thúng mang vứt đi. Những người qua lại đây thấy lạ nhưng chỉ dám đứng xa nhìn vào, không ai dám lại gần khi mặt trời lên cao gần ba con sào, bỗng nhiên bọc thai vỡ ra tiếng nổ như sấm. Dân làng vội chạy tới xem thì thấy bào thai đã vỡ, hiện ra một cậu con trai nằm ngửa trong chiếc thúng, tiếng khóc lanh lảnh như chuông. Thế rồi xa gần huyên náo, tiếng đồn lan tới trong cung, Hoàng hậu cho là lạ, liền sai người cung nữ đã vứt bọc thai, ngầm ra xem sao, cung nữ thấy cậu bé dáng vẻ thanh tú, lẫm liệt đĩnh ngộ lạ kỳ, bèn trở về thưa lại với vua, Vua cười nói: Ngày xưa nàng nguyên phi họ Cao Tân tên là Khương Nguyên sinh ra Hậu Tác cũng giống như vậy, sao có thể gọi là yêu quái được. Thế rồi vua cho đem vào cung nuôi dưỡng, được năm tháng đã biết nói, đầy tuổi đã biết đi, đi đứng nằm ngồi dáng vẻ hệt như người lớn. Vua cho rằng cậu bé sau này ắt trở nên người tài giỏi nên càng yêu mến, quyến luyến đêm ngày sủng ái và đặt tên là Uy Linh Lang. Khi cậu bé lớn lên thông minh tài trí học hành uyên bác hơn người. Đến năm 20 tuổi, chàng ham thích được đi du ngoạn các nơi, bèn dâng biểu lên hoàng hậu và vua cha xin được xuất gia đi du ngoạn. Vua và hoàng hậu đều bằng lòng, chàng bèn thay đổi y phục, mặc áo thường dân đến học nhà ông Triệu Lăng Khang ở ấp Vũ Điện huyện Nam Xương, chưa đầy một năm mà kinh sách tất thảy đều lầu thông. Ngày tháng trôi đi, chàng học thêm được nhiều điều bổ ích và trở thành người trên thông thiên văn, dưới tường địa lý. Cửu lưu Tam giáo không có chỗ nào là chưa hiểu biết tường tận và giỏi hơn cả là kệ từ và kinh Phật, sa môn tăng chúng hết thẩy đều khâm phục học vấn cao diệu của ông. Hoàng hậu nghe thấy mọi người ca ngợi liền sai sứ giả đón ngài về Kinh, ban cho ấp Bình Thọ, Nam Giao và cung cấp lương tháng để mỗi khi rảnh rỗi an dưỡng tinh thần.

Đến đời vua Nhân Tông niên hiệu Trùng Hưng, tướng nhà Nguyên là Toa Đô đem hơn 40 vạn quân chia hai đường vào cướp nước ta (lần thứ ba). Đã lâu không có chiến tranh nên lúc bấy giờ trong nước rối loạn khắp nơi, từ triều đình đến thôn dã, tất thảy đều lo sợ hoang mang, tin cấp báo ở quan ải gửi về một ngày bốn, năm lần. Nhưng Ngài lại hiên ngang phấn chấn nói “Con người ta sinh ra ở trên đời nên lẫm liệt hơn người, tỏ rõ là bậc đại trượng phu, chí trai ở tứ phương, dù cho da ngựa bọc thây nếu không liều chết cứu dân trong lúc gian nan thì lấy gì ghi tên trong sử sách, để tiếng cho đời sau?”. Ngài bèn dâng biểu bày tỏ phương lược diệt giặc, tự mình lập đội “Thiên tử quân” (còn gọi là quân Hưng Nghĩa) để diệt trừ giặc mạnh. Vua ngợi khen ý chí của Ngài và đồng ý, thế rồi ngài thu thập môn hộ, dựng cờ nghĩa, chiêu mộ sĩ tốt được hơn một vạn người, phân bổ các đội rèn luyện trận pháp, phục kích tiến đánh quân Nguyên ở Hàm Than, quân của Ngài thừa thắng truy kích lại đánh tan quân Nguyên ở sông Đông Mai, hội với các cánh quân của của Hưng Đạo Vương, Trần Nhật Duật ở Vạn Kiếp, Quân doanh đầy đủ lại tiến đánh quân Nguyên ở Màn Trù, nhổ trại giặc ở Đông Kết, một ngày giao chiến tám lần cả tám lần đều thắng, chém hơn ba vạn tên giặc, bắt sống tướng giặc Lý Hòa La và rất nhiều binh lính. Người Nguyên từ đó lo sợ không dám tiến đánh nước ta, từ đó đất nước thanh bình, do có công đánh giặc Nguyên Ngài được phong là Dâm Đàm đại vương (Tức Hồ Tây)

Năm Ngài 36 tuổi, vào giờ Ngọ ngày Tám tháng Tám năm Canh Tý, Ngài không bệnh mà mất. Vua và Hoàng hậu thương nhớ không nguôi bèn lập miếu thờ ở nơi trước kia vứt bọc thai và đặt tên là điện Nhật Chiêu, còn gọi là điện Linh Hảo hay là Linh Lang thánh từ. Nhà vua còn cho xây đền thờ ở Bình Thọ để ban khen Minh Đức hoàng hậu.

Đến đời vua Trần Nghệ Tông thần do có công ngầm giúp giữ vững đê Yên Hòa (đê Yên Phụ ngày nay) lại được ban thêm mỹ tự là Dực Chính Hiển ứng, Phù Hưu đại vương. Sáu người em cũng được bao phong:

Bạch Giáp là Chu Ma đại vương Hoàng Giáp là Minh Khiết đại vương

Hắc Giáp là Hoằng Liệt đại vương Thanh Giáp là Đông Nga đại vương

Chu Giáp là Phương Ba đại vương Tử Giáp là Đông Đầu đại vương

Đến nay anh linh ngày càng hiển ứng trải qua các triều đại đều được tôn sùng.

Tư liệu này có tên “Việt Điên U Linh tập ghi chép về An trì Linh Lang”

lưu trữ tại đình Nhật Tân quận Tây Hồ do Nguyễn Thị Oanh dịch .

Các sách “Danh tích Tây Hồ” “Lịch sử cách mạng phường Nhật Tân” đều lấy tư liệu ở đây để đưa vào sách của mình.

- Đình làng.: Theo sách “Lịch sử Cách mạng phường Nhật Tân” chép rằng đình Nhật Tân được xây theo kiểu chữ tam gồm: Ba gian đình thượng, bảy gian đình trung, bảy gian đình hạ và hai ngôi tảo mạc ở hai bên. Căn cứ theo tấm bia khắc năm Hoằng Định 13 (1613) thì đình Nhật Tân được xây dựng được xây dựng đã từ lâu.

Trong đình còn giữ được 36 đạo sắc phong cho thành hoàng Uy Linh Lang đại vương. Trong đó có 13 đạo sắc từ thời Lê Trung Hưng từ năm Vĩnh Thịnh thứ 6 (1710) đến năm Chiêu Thống nguyên niên (1787), lại có 12 đạo sắc thời Tây Sơn, từ năm Quang Trung 1792 đến vua Cảnh Thịnh 1796. Còn lại là 11 đạo sắc của nhà Nguyễn từ năm Thiệu trị thứ 4 đến năm Khải Định thứ 9 (1924), Trong đình có nhiều hoành phi câu đối uy nghi:

Hoành phi đề chữ     Nhật điện uy linh

Câu đối viết :     Đông A hiển thánh danh thiên cổ

                             Nam quốc phong thần điện Nhật Chiêu

dịch là :         Trần triều hiển thánh danh nổi mãi

                    Nam quốc phong thần điện Nhật Chi


                       Cơ hiển nhất bào truyền đi tích

                    Đàm danh thất thụ lẫm anh thanh

dịch là :

                    Mủng có một bào truyền di tích

                    Đầm gọi thất thụ tỏ anh linh

* * *

                    Xã tắc Trần triều, Thánh xuất lôi phong đàm thất thụ

                    Giang sơn Nam Việt, Thần linh uy vũ điện Nhật Chiêu

dịch là :

                    Xã tắc Trân triều, Thánh xuất lôi phong đầm tên thất thụ

                    Giang sơn Nam Việt, thần thiêng uy vũ điện gọi Nhật Chiêu.

Tại sao trong hai đôi câu đối đều có câu “đàm danh thất thụ”? Tìm hiểu các huyền thoại làng Nhật Tân được biết: “Truyền thuyết dân gian kể lại rằng xưa kia ở đây có bẩy cây gạo cổ thụ do bà Lạc Phi vợ Lạc Long Quân trồng để ghi lại việc bà đã sinh ra một cái bọc có bẩy quả trứng, rồi hóa thành bẩy con rồng bay về trời. Thời vua Cảnh Thịnh ông Nguyễn Huy Lượng viết Tụng Tây hồ phú có câu “chốn bẩy cây còn mấy gốc lăng vân, chẳng tùng bách cũng khoe hình thương lão.”

Lại có một truyền thuyết khác chép trong Lịch sử Cách Mạng phường Nhật Tân như sau “Thời Hồng Bàng, bà Phi của Diệu đế là Lạc phu nhân khi sinh Uy Linh Lang thấy một bọc bẩy quả trứng lấy làm lạ đã bỏ lại đó. Sau bẩy trứng hóa thành bảy con rồng bay lên trời. Phu nhân nghe tin cho trồng bảy cây gạo để ghi lại dấu tích. Vua sắc phong vương tước, gia tặng hai chữ Uy Linh và lập miếu thờ. Bẩy cây gạo đó ở góc Tây Hồ thuộc địa giới làng Nhật Chiêu”. Không chỉ ngày xưa mà những năm gần đây đình Nhật Tân còn ghi đậm dấu ấn hào hùng của dân tộc: Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, tháng 12-1946 có đội quyết tử quân của quận Lãng Bạc đã dược thành lập dưới mái đình Nhật Tân. Sau kháng chiến, ngày 8-5-1960 Hồ Chủ tịch đã về đình Nhật Tân thăm một đơn vị bầu cử quốc hội khóa II. Đình Nhật Tân đã được Nhà nước xếp hạng Di tích lịch sử -văn hóa ngày25-1-1994.

- Hội làng: Trước đây trong các ngàylễ hội thường diễn ra rất trọng thể Trong nhưng ngày hội đó thường có các quan thay mặt triều đình về làm lễ. Vùng này có câu ca dao rằng:

Làng Xù kéo mật đã lâu

Nhật Tân bảy kiệu vui đâu cho tầy !

Hội làng thường tổ chức từ ngày Hai đến ngày Mười tháng Hai, các cụ già kể rằng năm 1936, làng Nhật Tân mở hội lớn làm xôn xao các tỉnh Hà Nội, Hà Đông, Sơn Tây, Bắc Ninh, Hưng Yên. Ngày 7 tháng Hai bắt đầu rước kiệu Uy Đô Linh Lang và các Thánh Em đi từ thôn Đông về thăm nơi ngày xưa cung nữ đã mang bọc thai vứt ra (đó là miếu Cung ở xóm Bắc). Địa điểm này ở thôn Bắc, nay không còn miếu cũ, các cụ dừng kiệu tại một bãi rộng. Đám rước có tới 56 giai kiệu mặc áo the quần trắng, lại có chàng mạng đeo chéo trước ngực, ngoài kiệu của 7 anh em còn có kiệu của đức Chiêu Minh do 8 cô gái mặc áo dài mầu hồng, thắt lưng màu hoa lý khiêng, có 8 cô khác đi bên chờ đổi vai Thật hiếm có đám rước nào mà có nhiều kiệu vàng son lộng lẫy đến như thế. Khi thời điểm hành cung phía Bắc thì các bô lão dùng thuyền bơi ra giữa dong sông Hồng để múc nước trong bằng gáo đồng. đựng bằng chóe sứ đem về làm lễ nài ban mộc dục, Ngày 10 tháng Hai là ngày Đại lễ, hôm ấy làng tổ chức tế thần, rước kiệu từ miếu Cung về đình Nhật Chiêu.

Năm 1921, làng Nhật Tân thông qua một hương ước mới, trong hương ước đó, có ghi về cỗ tế của làng như sau: “Làng mua một con bò, một con lợn to, 9 bàn xôi, 5 nồi gạo nếp, 20 chai rượu, giầu cau, vàng mã, và ngũ quả đủ bày (ước giá năm ấy khoảng 100$ Đông Dương).

Năm 2000 để khôi phục lễ hội Nhật Tân, ủy Ban Nhân Dân phường và ban Văn hóa Thông tin đã mời các cụ cao tuổi họp lại, kể lại không khí, trang phục của ngày lễ thuở xưa để từ đó lập nên một kịch bản thích hợp trong tình hình bây giờ. Năm 2004 quyển Lịch sử Cách Mạng phường Nhật Tân xuất bản, đã mô tả về lễ hội của làng như sau: Hàng năm Nhật Tân mở hội làng vào ngày Mười tháng Hai nhân ngày kỵ của Thành hoàng làng. Dân làng tổ chức ngày hội thật linh đình, thật trang trọng để tưởng nhớ đến công lao của thần.



Hội làng được tổ chức trong ba ngày gồm có hai phần:

+ Tế lễ và hội hè. Phần tế lễ được tiến hành với nghi thức hết sức trang trọng, lễ vật trong buổi lễ gồm có xôi nén, chè kho và hoa quả. Sau nghi thức tế lễ ở đình là phần lễ rước nước. Đám rước với một đội hình cờ quạt, mũ áo, kiệu rước rực rỡ Nét đặc sắc của hội đình Nhật Tân ở nghi lễ rước kiệu hiếm có nơi nào hồi ấy có chín (?) cỗ kiệu sơn son thếp vàng trong đoàn rước bài vị thành hoàng như ở đây. Đoàn rước gồm chín cỗ kiệu xếp hàng nối đuôi nhau đi từ Đình đến miếu Cung (ngoài xóm Bắc) thì dừng lại. Ông chủ tế và những người phụ tế vào miếu để làm lễ, sau đó họ lên thuyền ra giữa sông lấy nước, rồi lên miếu Cung lễ tạ. Đoàn rước quay trở về đình, dâng nước lên điện thờ, làm lễ và cất kiệu.

+ Sau nghi thức cúng tế là đến phần hội đình. Hội đình có các trò chơi truyền thống như thi thả diều thi chọi gà, thả chim bồ câu, múa sư tử, múa rồng, đánh cờ bỏi, tổ tôm điếm, đánh cờ người Đặc điểm hội làng Nhật Tân không chỉ thu hut có đàn ông hay lớp trai trẻ mà hầu hết tất cả dân làng đàn ông, đàn bà, già, trẻ, trai, gái, kể cả các em nhỏ. Hội làng mở ra cả vùng như trẻ lại, tưng bừng nhộn nhịp, hầu như mọi nhà ngày ấy đều đóng cửa ra dự hội. Các bà già, các chị trung niên đi xem cũng hò hét cổ vũ cuồng nhiệt, trẻ nhỏ cũng nhảy múa theo múa rồng, múa sư tử, các cụ già vượt qua tuổi “cổ lai hy” vẫn hăng hái vào cuộc thi và tham gia biểu diễn. ở đây mọi người thực sự bình đẳng, mặc sức vui chơi sau một năm lao động vất vả và cũng là dịp để thể hiện khả năng, trí tuệ của mình.

Mấy năm gần đây, phường Nhật Tân đã phục hồi nghi thức phóng noãn sau nhiều năm gián đoạn, nghi thức này có lẽ để tưởng nhớ bẩy anh em thần Uy Linh Lang, lễ chính thức được tiến hành vào ngày Chín tháng Hai âm lịch. Lễ vật trong đình có 7 quả trứng gà (tượng trưng cho 7 quả trứng rồng) hương hoa, oản quả, vàng mã, Chủ tế do một bô lão cao tuổi đáng kính trong làng đảm nhiệm, cụ mặc áo đỏ, đội khăn đỏ, vào khoảng giờ Tuất đêm mồng chín tháng Hai bắt đầu làm lễ tại đình. Sau đó là phần lễ rước trứng, người đứng đầu làng cầm cờ đi dầu đám rước, rồi đến ông chủ tế, đội chiêng lệnh, người mang khay trứng, người bưng đồ tế lễ đi lên miếu Cung, nay miếu Cung không còn nữa người ta dừng lại ở một bãi đất rộng bằng phẳng ở ven sông để hành lễ. Sau đó họ lên thuyền ra giữa sông Hồng rồi lần lượt thả từng quả trứng xuống dòng sông, gọi là “phóng noãn”, đám rước quay thuyền về đám đất bên sông, lễ tạ, đốt vàng mã.. Lễ xong, mọi người trở về đình lễ tạ thành hoàng”.


* Những ngôi chùa làng và cổng làng thời xưa:


Cụ Nguyễn văn Học kể với tôi về những ngôi chùa cổ của làng Nhật Tân như sau: Làng Nhật Tân có nhiều họ, nhiều xóm, đông dân nên đình thì có Một nhưng Chùa lại có ba, đó là chùa Phúc Khánh tự xưa ở ngã ba đường Âu Cơ - Lạc Long Quân, chùa này đã bị Pháp phá từ năm 1949 để lấy vật liệu làm đồn bốt Nhật Tân , ngày trước chùa này có tam quan xây to và đẹp lắm. Ngôi chùa thứ hai là chùa Linh Duyên tự , còn gọi là chùa phe Môn (do ngày xưa trong làng có các phe, giáp), cũng do vị sư tổ coi chùa đã tạ thế từ rất lâu, cụ tạ thế từ ngày 18 tháng Hai âm lịch năm 1944 nên không có người trông nom đèn hương, người làng chỉ nhớ cụ là người đạo cao đức trọng nên được mọi người tôn kính đi đưa đám đông lắm. Cũng do cụ đã mất, lại gập chín năm kháng chiến, đến năm 1961 thì ngôi chùa đã xuống cấp, lúc này, do ảnh hưởng cách mạng văn hóa vô sản bên Trung Quốc, một số người đã chủ trương dỡ bỏ chùa, đưa các tượng Phật sang chùa Tào Sách công việc làm sơ sài nên nhiều bia đá, tượng to bị bỏ vương vất, nay không còn nữa. Ngôi chùa thứ ba là chùa Tào Sách, chùa này xưa là một nhà sách, năm 1944 chúng tôi lập nên thành ngôi chùa. Ngôi chùa này trước đâycó tên là chùa Linh Sơn, nhưng dân làng quen gọi là chùa Nhật Tân vì chùa hiện nay tọa lạc tại thôn Nam phường Nhật Tân. Người làng kể rằng chùa nay xưa có hướng Tây Nam, một thời gian dài bị lãng quên, đến cuối triều vua Bảo Đại (1944) người ta mới xây dựng lại theo quy mô hiện nay. Chùa Tào Sách là ngôi chùa điển hình của tư tưởng tôn thờ Tam giáo và thờ cúng tổ tiên. Vào chùa, chiêm ngưỡng các tượng pháp bày trên chùa ta thấy chính điện là nơì thờ Tam Bảo:

+ Bên trái thượng điện tôn thờ Khổng Tử.

+ Bên phải thượng điện là nơi tôn thờ Đạo giáo.

+ Đặc biệt phía bên phải nhà bái đường có nơi thờ cúng tổ tiên của những người có công khai phá lập nên làng Nhật Tân.

Làng Nhật Tân rộng, cho nên xưa ở mỗi thôn có một cổng:

+ Trước ở thôn Tây có một cổng làng xây kiểu “thượng gia hạ môn” trên có tuần đinh đóng, dưới là cổng ra vào. Mở cổng ra, có một con đường gạch xây nghiêng chạy thẳng trong thôn, gạch xây đường làng chính là gạch nộp cheo của các đám cưới trong thôn.

+ ở thôn Nam xưa có một cổng gạch, xây to, trên nóc cổng có hai chữ nho Hoa Đình

+ ở thôn Đông cũng có một cổng ở ngõ xóm Tràng tiền ngày xưa.

Tiếc rằng trong cuộc kháng chiến chống Pháp năm 1947-1949 các cổng làng đã bị Pháp phá bỏ nên bây giờ làng Nhật Tân không còn cổng làng nào nữa.

Kể chuyện các cụ lang ngày xưa, ông Vũ Đình Nho là con trai trưởng cụ Vũ Đình Mão kể rằng: Thời xưa ở Nhật Tân có cụ lang Tân, cụ lang Tân sinh ra cụ lang Vũ Đình Mão tiếp tục làm nghề thuốc Bắc, cụ lang Vũ Đình Mão truyền nghề cho con trai trưởng là Vũ Đình Nho, nay ông Nho đã về chợ Bưởi làm nghề thuốc Bắc, mở hiệu Tràng Thái đường, tiếp tục sự nghiệp của cụ lang Thanh với đôi câu đối chỉ đạo :

Trường thọ hồi xuân năng bổ chính

Thái đường y liệu hữu thu công

Ngoài cụ lang Vũ đình Mão, ở Nhật Tân còn có cụ Trần quang Bật, cụ Đỗ Văn Chanh cũng là người biết làm thuốc. Có một đièu lạ rằng tìm hiểu ở Nhật Tân, chúng tôi không ghi chép được câu ca, câu chuyện dân gian nào ngoài những câu chuyện về tín ngưỡng, nên không có ghi chép gì thêm. Câu chuyện về làng Nhật Tân không ai biết, nhưng người yêu thơ lại nhớ câu thơ của Vũ Đình Liên mỗi khi Tết về, hoa đào nở:

Mỗi năm hoa đào nở

Lại thấy ông đồ già

Bầy mực tàu giấy đỏ

Bên phố đông người qua.

Cũng có những tâm trạng âu lo, buồn bã khi mà tìm đến nhà người yêu quý đã không thấy bóng hình quen thuộc, mà chỉ thấy những cánh hoa đào năm xưa như Nguyễn Du đã viết:

Trước sau nào thấy bóng người

Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông.


Chơi hoa Tết, người thành phố đôi khi gập lúc trái mùa, lên vườn đào Nhật Tân nhìn cảnh đào xác xơ vì nắng có người đã xót xa kêu lên, đồng cảm vời người trồng đào:

Năm nay nắng ấm hoa nở nhiều

Trồng đào thu lãi chẳng bao nhiêu

Cái nghiệp “đào hoa” thường lỡ bước

Mấy ai dứt bỏ được nghề yêu !!!



. . Cập nhật theo nguyên bản của tác giả từ HàNội ngày 09.02.2018.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004