Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới







Lời Nguyền









L àng tôi ven sông Đuống. Nếu tính đường chim bay, làng cách Bờ Hồ dăm cây số. Đứng trên đê là nhìn thấy mấy khách sạn liên doanh sừng sững mới xây. Tuy gần thành phố, nhưng quê tôi ít ảnh hưởng cuộc sống thị thành, nếp quê vẫn giữ. Phải chăng nét quê sâu đậm, mà đình làng còn giữ được. Hồi chiến tranh Tây không đốt, sau hòa bình, làng cũng không phá. Nay người làng tự hào lắm, quê mình đình cổ, to nhất vùng, Thành hoàng là thượng đẳng thần, còn sắc mấy đời Vua phong...

Chẳng phải đến khi dân làng tự hào, ngày bé tôi đã yêu quý ngôi đình, có nhiều kỷ niệm về nó. Dịp nghỉ hè, tuần trăng, chúng tôi sinh hoạt thiếu niên, nhi đồng, trống gõ lùng tùng suốt đêm. Mấy bận tôi ngủ quên, mẹ ra tận nơi tìm. Còn câu chuyện lời nguyền - chiếc đinh đóng trên cột đình ông nội kể, nhiều lần vào đình tôi tò mò ngó xem nó ở đâu. Sau này lớn, xa nhà, mỗi dịp về quê, tôi đều tranh thủ ghé qua, thư thả thì chiều muộn xuống, thả bộ mấy vòng quanh sân đình, ngắm dáng cong cong đình đao, hay lớp lớp ngói cổ rêu phong. Những lúc ấy, tôi thường suy ngẫm về cuộc đời, về thời gian, về cái ân tình, sự cố hữu của dân quê... Và rất lạ, tôi liên tưởng mái đình kia phủ dày quá khứ, mỗi viên ngói như một giọt thời gian trôi. Đến khi đình chuyển thành nhà kho hợp tác xã, ít khi tôi tới nữa. Chợt lúc nào đó nhớ về quê nhà, mái đình cổ kính lại thấp thoáng trong tôi, cả câu chuyện lời nguyền hư hư, thực thực...

Làng quê, nơi ăm ắp những phong tục, cổ lệ, người ta sống trong khuôn mẫu lệ tục. Tục lệ là thứ nhiều khi ruồng rẫy, dồn đẩy dân quê đến chỗ lìa bỏ nơi chôn nhau cắt rốn, song cũng lại chính là nó, gắn hút họ với mảnh đất quê làng.

Các cụ làng tôi truyền rằng: Xưa, đã lâu lắm rồi, chẳng còn nhớ năm nào, thầy địa lý Tả Ao qua làng. Cảm động trước tấm lòng dân làng, thầy chỉ cho chỗ đất quý dựng đình. Theo thầy, ấy là kiểu đất: hổ trục quần dương. Tả hữu có thần Bạch Hổ, thần Thanh Long - hai gò đất cánh đồng chầu hai bên đình. Hậu trẩm là gò đất cao sau đình. Thầy lại mách dân làng, phá bờ cho thông thuông chuỗi ao hồ trước mặt và khơi con ngòi ra sông dòng Đuống, long mạch sẽ khai thông, giữ được vượng khí. Về gò Cái Cờ, ngay đầu làng, chính hướng cửa đình, thầy Tả Ao dặn, phải hết sức giữ gìn. Đấy là tiền án không cho tà thần, hung khí xâm phạm tới chính đường. Nhớ lời thầy, dân làng tôi xem trọng gò Cái Cờ lắm. Cây cối trên gò um tùm. Trừ việc hương đăng ngôi miếu cổ, chẳng mấy ai dám lai vãng đến, kể cả đám trẻ trâu.

Thế mà năm đó có chuyện. Ngày ấy không rõ ai tố giác trước quan viên, có kẻ giấu diếm táng cốt cha ông vào gò Cái Cờ, nhà nào táng thì kẻ tố không chỉ rõ. Quan viên được triệu tập gấp ra đình. Hay tin, các cụ xôn xao. Người lo xúc phạm chốn tôn nghiêm, chuyến này khốn. Thảo nào trong làng, dịch gà lợn rộ lên, bao kẻ đau bụng, đau mắt. Số quan viên khác nói lo cho dân làng, nhưng thực bụng, họ sợ kẻ táng mả ông mả cha kia, chúng sẽ phát. Mọi bận, phàm đã việc làng, thế nào quan viên cũng ngả dăm mâm ra đánh chén, vậy mà lần ấy, diễn ra chóng vánh, cụ tiên chỉ quyết ngay. Việc phải nhanh, kẻo lỡ động, chúng biết, chuyển đi, thì lấy gì làm bằng.

Ngay chiều đó ông lý ốp đám lực điền, đích thân cụ tiên chỉ cùng nhiều quan viên giám sát. Trai đinh săm soi thuốn chọc khắp gò, thứ cần tìm đã thấy. Một gã trai đinh thuốn thấy kịch, đúng kiểu gặp gỗ. Người ta xúm vào đào bới. Cỗ quách vàng tâm mái cong mai rùa lộ ra. Bật nắp tấm thiên, hất gạch đậy tiểu, các cụ sững sờ, bộ cốt “vàng” ươm, đầy ăm ắp. Không thể tưởng tượng nổi! Quan viên tức giận, cụ rủa xả đòi quẳng nó ra sông, cụ hầm hầm giật mai, đòi đập nát. Riêng cụ tiên chỉ chỉ cười nửa miệng, tuy sắc mặt có tai tái. Chờ mọi người nói cho hả hê, cụ mới lành lạnh phán, đưa về làng. Quan viên nhìn nhau chưa rõ ý.

Cỗ quách bị điệu sềnh sệch về sân đình. Theo lệnh cụ tiên chỉ, trai đinh lôi ra đoạn chão, thòng lọng cỗ quách lại, trói gô vào gốc si. Lúc đó là chập choạng tối, ông Lý vẫn sai mõ đi rao khắp ngõ, dân đinh phải đến tập trung ngay. Tối xuống, sân đình đuốc đốt như đình liệu. Người ta điểm xem chi giáp nào thiếu vắng ai. Đám đông xì xầm: thiếu cánh cháu con ông lý cựu. Lý trưởng trình với cụ tiên chỉ, mà giọng oang oang, như cốt nói với dân làng:

- Bẩm cụ! Cánh con cháu nhà Lý Cựu... ốm, vắng mặt ạ!

Được phép cụ tiên chỉ, ông lý thông báo việc tầy đình vừa xảy ra. Dân làng hồi hộp nín thở nghe. Thật là tin sét đánh. Ồn ào càng ồn ào hơn, khi cụ tiên chỉ phán: tất cả dân đinh nhổ nước bọt, táng một vồ, rồi bước qua cỗ quách. Đột ngột lặng im, có tiếng lao xao, kẻ tán đồng, người ghê sợ, thất đức quá. Ông lý phải quát át đi. Nghi thức rùng rợn diễn ra. Từng người từng người một tiến đến. Có gã ráng sức nện vồ đến mức, chiếc vồ nảy lên, xương cốt bắn cả ra ngoài. Đa phần dân đinh gượng gạo, làm chiếu lệ, nhất là phe cánh nhà Lý Cựu.

Tới quá nửa đêm, lúc này bộ cốt nhừ tử cùng mảnh vỡ tiểu sành lộn bậy trong cỗ quách. Tưởng việc đã xong, chỉ còn việc lôi ra sông mà đổ, dân làng lại nghe cụ tiên chỉ sai khiến. Loáng cái, có tay tuần đinh mang chiếc đinh sắt tướng tới, khúm núm dâng lên cụ tiên chỉ.

- Trên có thần linh chứng giám, dưới có dân làng - tiếng cụ sắc lạnh, đêm khuya giữa sân đình nghe mà rờn rợn, dân làng như đứng sát vào nhau hơn - Cái đinh này sẽ đóng lên cột đình. Hẹn cho ba bữa, con cháu họ hàng tên láo xược kia, chúng bay được phép nhổ, nhổ bằng tay. Bằng không, còn ở cái làng này, truyền rằng, con cháu bay, đời đời kiếp kiếp không mọc mũi sủi tăm...

Chúng bay ở đây là ám chỉ nhà ông Lý Cựu, là con cháu, vây cánh nhà Lý Cựu. Bộ cốt kia, lúc này mười phần chắc bảy tám là bộ cốt bố ông Lý Cựu. Còn ai vào đây nữa! Biết vậy, nhưng vô bằng, làng bắt vạ sao được.

Thời Lý Cựu còn đương chức, phe cánh ông mạnh nhất làng. Vật đổi sao dời, ông chỉ tính sai nước cờ, nên tranh trượt triện đồng lý trưởng. Sau này làng đình đám, ông vẫn ra dự, nhưng ngồi chiếu các ông cựu. Tuy vây cánh chẳng còn bằng trước, nhà ông vẫn giàu có nhất làng. Giàu tới mức, ngày bố mất, ông chả vẫn tự hào trước hàng tổng, đưa ma bố ra đồng, rước xách đâu thèm nhờ vả qua đất tư điền nhà ai, từ nhà đến nơi hạ huyệt mấy cánh đồng, toàn đất ruộng nhà ông. Bố mất đã dăm năm, chưa thấy Lý Cựu sang cát. Dân làng biết, không phải nhà ông thiếu tiền, mà đang chọn đất để mồ để mả. Một dạo dân làng kháo nhau, nhà Lý Cựu đón thày Tàu kia về xem đất. Chỉ lạ, mãi vẫn không thấy động tĩnh gì. Đến khi chuyện vỡ ra, mọi người mới hay...

Sau vụ hành hình bộ cốt, cửa đình mở suốt ba đêm. Có người rình xem kẻ nào mò vào. Rình đâu để bắt. Trước có thù oán với nhà Lý Cựu, nay được dịp nhìn cho bõ tức; rình vì tò mò, hay rình chỉ để mà rình thôi. Nào ai thấy gì đâu! Sân đình tối om om, hoặc người rình chán nản, không đợi nổi. Chỉ biết, qua đêm thứ nhất, đêm thứ hai, sáng sớm quan viên lũ lượt kéo ra xem, chiếc đinh vẫn trơ trơ. Chẳng phải tinh mắt lắm, mới nhìn thấy những vệt sâm sẫm xung quanh chiếc cột và cả dưới sàn gỗ. Qua đêm thứ ba, các vệt ấy không chỉ sẫm màu, mà còn có chỗ nhơm nhớp đỏ. Đã rõ, đấy là máu. Có kẻ cố sức nhổ. Đinh dài, cắm sâu vào cột lim, nhổ bằng tay sao được!

Câu chuyện nhà Lý Cựu mời thày Tàu, giờ dân làng kháo nhau, mỗi người một phách, không rõ thực hư thế nào. Người thì kể: nhà Lý Cựu mời, thày phán được ngôi đất tại gò Cái Cờ, táng mả bố ở đó còn phát, nhưng vì không hậu đãi, nên thày phản, mới ra nông nỗi này. Có người lại bảo, ông Lý đón phải thày Tàu rởm, mắc mưu phe cánh trong làng vốn có thù oán cũ... Chuyện nhiều lắm. Nhưng thôi, kén đất kén cát, mả phát đâu chưa biết, đã bị quật lên rồi. Kháo mãi, rồi câu chuyện cũng nhạt - còn phải làm ăn chứ, việc nhà người, góp bàn được lợi lộc gì. Chỉ những kẻ nhớ dai thù sâu vẫn nhắc, rồi thì xem...

Thế mà chuyện có thật. Vài năm sau, tự dưng Lý Cựu đang khoẻ mạnh, lăn đùng ra ốm, ốm nặng. Được dịp, ông Lý ốm chưa chết, có kẻ kháo như chết rồi. Trùng hợp sao, Lý Cựu chết cũng nhanh, chết chưa kịp chia tài sản hay lập di chúc. Thế là xảy ra tranh chấp giữa các bà, bà cả, bà hai, bà ba và đàn con trai gần chục đứa. Việc phức tạp phải đưa lên cửa quan kiện tụng, xác ông Lý cứ quàn lại. Lúc ấy vợ con còn đầu óc đâu làm ma. Rồi tài sản chưa phân, phí tổn tang ma ai là người gánh chịu? Vụ kiện cáo đó quan xử giằng dai, lâu qúa. Tranh chấp xử chưa xong, lại xảy tiếp luôn cái án mạng giữa đám con nhà Lý Cựu. Từ lúc ông Lý nằm xuống, đến khi ma ra được đồng, tròn ba tháng. Xong vụ kiện, dân làng đồn thổi, tài sản nhà Lý Cựu vơi quá nửa. Số còn lại phân chia, kẻ được hưởng thì đang bị tù đày, hay bị đâm chết mất rồi, đám con trai các bà lẽ trắng tay. Mấy mùa đình đám, dân làng thấy cánh con cháu nhà Lý Cựu vơi, vơi dần. Họ lặng lẽ rời làng, đến lúc không còn ai nữa.

Câu chuyện về lời nguyền cái đinh, lâu quá rồi, qua mỗi người, mỗi đời kể, lại thêm mắm muối, nên càng huyền hoặc, chả rõ đâu thực, đâu hư. Đến mức nhiều người nghĩ, chuyện ấy có thật chăng? Như vết đinh trên cột đình, đã ai chỉ ra được, nó ở chỗ nào?

Làng tôi bẵng đi mấy chục năm không mở hội. Gần đây, tục xưa được phục hồi. Hội làng năm nay câu chuyện thời sự ồn ào nhất: Trước hôm hội có chiếc xe con chạy về làng. Xe đỗ sân đình. Các cụ làng tôi tiếp ông khách lạ, sang trọng. Khách nhận mình vốn gốc gác ở làng, nay phiêu bạt nơi phương trời xa. Về thăm bản quán, ông còn có một nguyện vọng thành kính, xin dân làng rút lời nguyền cái đinh xưa. Ồ, thế ra lời nguyền là có thực! Mười mấy chiếc cột đình đen bóng, to vượt vòng tay, được các cụ trong làng và ông khách lạ săm soi. Không một dấu vết. Cho đến chiếc cột lim cuối cùng, tìm mãi vẫn không thấy. Chợt có người nhìn lên nơi cao cao, trên thân cột, hình như có vệt sẫm gợn gợn lên. Khách vừa chạm tay, những vảy tựa gỉ sắt lả tả rơi.

Trên gò má ông khách già lăn dài những giọt nước mắt!



VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004