Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới



Tôi Đã Đến Tận

"Chân Trời Góc Bể"








Đ ất nước Trung Hoa rộng lớn với bao danh lam thắng cảnh nổi tiếng luôn luôn là niềm mong ước được chiêm ngưỡng của mọi người cũng như của riêng tôi. Nào kỳ quan Vạn lí trường thành, nào khu mộ Thập tam lăng độc nhất vô nhị, nào thành quách La Sa huyền ảo, nào Tử cấm thành và Di hoà viên tráng lệ, nào Phố Đông, nào Hồng Kông, nào Ma Cao, nào Thâm Quyến, nào công trình Đập Tam Hiệp-nhà máy thủy điện lớn nhất thế giới mới hoàn thành chưa lâu ... Còn nhiều, nhiều lắm. Chỗ nào cũng muốn đến xem. Năm ngoái tôi đã có dịp đi Quế Lâm, nơi phong cảnh kỳ thú bậc nhất tỉnh Quảng Tây. Năm nay, nhân có một hội bạn bè tổ chức tour du lịch với giá khá "mềm", tôi quyết định phiêu du qua đảo Hải Nam, một hòn đảo mà khi vẽ bản đồ nước Việt thì hầu như bao giờ cũng thấy đi kèm, vừa gần lại vừa xa, vừa như quen lại vừa xa lạ.

Đoàn chúng tôi khởi hành vào khoảng giữa tiết xuân phân và tiết thanh minh. Dịp này Hà Nội luôn ẩm ướt, trời không rét cũng không nóng nhưng luôn nhớp nháp. Vì phải đi vòng qua Nam Ninh chắc là còn lạnh, nên việc chuẩn bị trang phục trở nên phức tạp, vừa phải có áo mỏng để mặc ở Hải Nam, lại phải có áo dày để đề phòng khi qua Nam Ninh. Đoàn có ba chục người, đều vào lứa tuổi "đầu sáu", nghĩa là đều các cụ về hưu, sức khoẻ luôn đổi thay theo ... thời tiết!

Đến Hữu Nghị Quan, một anh bạn trẻ người Trung Quốc tươi cười chào đón chúng tôi: "Xin chào các anh các chị. Em họ Hà, các anh chị có thể gọi em là Tiểu Hà ..." Đang nói bỗng anh ta ngừng lại và xin lỗi rối rít: "Cháu xin lỗi các bác các cô là đã gọi "anh chị", cháu chỉ đáng tuổi con, tuổi cháu. Bây giờ cháu xin được đổi cách xưng hô". Cả đoàn đều bật cười và đồng thanh đề nghị cậu ta cứ gọi "anh chị" và xưng “em” cho trẻ trung, thân mật. Một chuyện nhỏ vậy thôi nhưng rõ ràng người hướng dẫn du lịch này tỏ ra hiểu biết về phong tục tập quán của người Việt. Anh ta chỉ học tiếng Việt tại trường Dân tộc tỉnh Quảng Tây mà nói năng gần như người Việt. Sự mở đầu đã tỏ ra hiệu quả, hứa hẹn một chuyến đi vui vẻ và cởi mở. Đúng vậy, suốt chuyến đi anh ta kể rất nhiều chuyện vui, nhiều điều thú vị, dùng rất nhiều câu ca dao, tục ngữ cả của Trung Quốc, cả của Việt Nam, điều mà ngay nhiều hướng dẫn viên người Việt không làm được. Có một người hướng dẫn như vậy thật là an tâm và tin chắc sẽ thu lượm được nhiều điều bổ ích.

Con đường cao tốc từ Hữu Nghị Quan tới Nam Ninh với sáu làn xe phẳng lì, thẳng tắp đã làm cho quảng đường chừng 240 km (trong đó đường mới là 170 km), năm trước phải mất trên bốn giờ thì nay chỉ đi mất già hai tiếng rưỡi. Một điều hơi khác lạ là trong khi bên ta lái xe luôn căng thẳng vì bị hạn chế tốc độ ở mức “rùa bò” thì ở đây lại khuyến khích tăng tốc tối đa. Một lần, người lái xe chỉ cho xe chạy ở tốc độ khoảng 80, 90 km/giờ thì bỗng xuất hiện một xe cảnh sát lao vút lên và ra hiệu cho lái xe tăng tốc. Khi xe chúng tôi đạt tốc độ trên 110km/giờ  xe cảnh sát mới tắt tín hiệu. Một lần khác, các “cụ” nhà ta cần xả bớt “bầu tâm sự”, cứ nằng nặc đòi lái xe dừng lại bên dốc núi, lập tức lại có xe cảnh sát phóng tới nhắc nhở. Thì ra, cũng như ở các nước văn minh, trên đường cao tốc không được phép dừng xe tuỳ tiện, dù dừng bên lề và đường rất vắng. Đó là bài học đầu tiên để các “cụ” biết giữ gìn trong cách ăn uống lúc đi đường xa.

Chúng tôi ở lại Nam Ninh gần một ngày. Lại đi thăm Thanh Tú Sơn, thắng cảnh của đất Nam Ninh, thăm Viện Đông dược, xem biễu diễn nghệ thuật của người Choang như chuyến đi Quế Lâm năm trước. Xe lướt qua Khu triển lảm Trung Quốc-Asean đồ sộ và rất ấn tượng, qua khu đô thị mới với những ngôi nhà cao vút. Sau bữa cơm trưa ngày thứ hai, chúng tôi lên đường đi Bắc Hải. Hầu hết chiều dài đoạn đường này là một phần trên con đường cao tốc xuyên qua 6 tỉnh, được coi là con đường cao tốc dài nhất Trung Quốc với chiều dài trên 2000 km, rộng 6 làn xe. Quảng Tây là tỉnh nghèo nhưng lại là nơi đầu tiên khởi xướng xây dựng con đường này, để rồi từ đó phát triển dần sang các tỉnh khác. Con đường đã đóng góp rất lớn vào sự tăng tốc phát triển của toàn tỉnh. Vì có mấy chục cây số đi trên đường cấp 2 nên với khoảng cách 220 km xe chúng tôi phải mất hơn ba giờ mới tới Bắc Hải.

Chúng tôi ăn vội ăn vàng để kịp ra bến cảng. Cảng khách Bắc Hải cũng chỉ sơ sài, cũ kỹ. Chúng tôi hơi thất vọng khi thấy con tàu đưa mình qua Hải Khẩu chỉ là một chiếc phà đường biển, vừa chở xe, vừa chở người, mốc meo và già lão. Rất may là trời yên biển lặng. Suốt 11 giờ lênh đênh trên biển với khoảng cách chừng 300 km ai mà không lo nếu như gió mùa hay áp thấp ào ào kéo đến? Một giấc ngủ chập chờn trong ca bin kín mít, nóng bức giữa mùa xuân! Chừng 5 giờ sáng hôm sau đã thấy dãi bờ cong như một cánh cung với hàng đèn cao áp màu vàng cam mờ đục trong sương của thành phố Hải Khẩu. Đến 6 giờ con tàu cập bến. Hải Khẩu như còn lơ mơ ngũ nhưng bến tàu đã trở nên nhộn nhịp. Vài ngôi nhà cao tầng thấp thoáng trong màn sương bạc, không thấy ánh đèn. Một nữ hướng dẫn viên của Du lịch Hải Nam, họ Lý, đón đoàn. Từ thời điểm này cô gái thay thế vị trí của Tiểu Hà, còn Tiểu Hà trở thành phiên dịch. Tuy vậy trong thực tế Tiểu Hà vẫn kiêm nhiệm cả hai việc. Tiểu Hà còn tỏ ra hiểu biết Hải Nam nhiều hơn cô gái địa phương.

Xe đi về phía nam thành phố. Nhiều con đường mới mở, nhiều toà nhà mới xây. Rất hiện đại nhưng so với Nam Ninh nó có vẽ hơi ... “nhà quê”. Xe cộ không nhiều như ở Nam Ninh. Hải Khẩu là thành phố lớn nhất đảo với chừng 1,4 triệu dân, kể cả ngoại thành. Đây là thủ phủ của tỉnh Hải Nam, một tỉnh có gần 8 triệu dân với diện tích toàn đảo 34000km2, xấp xỉ 1 phần 9 diện tích nước ta. Chúng tôi ăn sáng xong là rời thành phố. Hải Khẩu không có điểm du lịch, chỉ là hải cảng, là trung tâm hành chính và thương mại của đảo, vì thế chúng tôi không lưu lại. Một con đường cao tốc men theo bờ biển quay một vòng hình ô van quanh đảo, từ đỉnh cực bắc là Hải Khẩu đến điểm cực nam là thành phố du lịch Tam Á. Đảo Hải Nam như một mái nhà mà giữa đảo là dãy núi Ngũ Chỉ Sơn (núi năm ngón tay) cao 1800 mét. Các dòng sông bắt nguồn từ đây chảy về hai phía đông tây. Tuy có những con đường ngang dọc nhưng mạch giao thông chính của đảo là con đường cao tốc hình ô van này. Con đường cao tốc đi qua những vùng đất hoang dại mọc đầy những cây nước mặn, những xóm làng thưa thớt. Tuy vậy cái đập vào mắt chúng tôi là cau, là dừa. Hải Nam được gọi là đảo Dừa, nơi duy nhất có dừa trên đất nước Trung Hoa. Cảnh vật khác xa lục địa và không khác gì Việt Nam. Trên đảo cũng có trồng hồ tiêu, ca cao, cà phê và cao su. Khách du lịch khá đông, hầu hết là khách lục địa. Người ta đến Hải Nam như đi du lịch nước ngoài, như đến một nước vùng nhiệt đới. Anh chưa biết vị mát ngọt của trái dừa thì hảy một lần đến nếm. Giới thiệu về đảo Dừa, Tiểu Hà kể cho chúng tôi nghe một chuyện vui:

Người trung Hoa lục địa ai cũng mong được đến Hải Nam để uống nước dừa. Vì thế họ truyền tụng nhau câu chuyện uống nước dừa tươi. Chuyện rằng, có ba ông khách từ phía Bắc lục địa Trung Hoa tới du lịch đảo Dừa. Họ được nghe kể là nước dừa tươi ngon lắm nên háo hức qua đây nếm thứ nước kỳ diệu này. Mới đặt chân tới đảo là họ vội vàng rủ nhau đi uống nước dừa tươi. Ba ông khách ghé vào một quán nước nằm ngay dưới rặng dừa mát rượi. Cô gái trẻ thoăn thoắt bổ ba quả dừa cho ba ông. Uống xong, cả ba ông đều thắc mắc là tại sao người ta nói nước dừa ngọt và mát lắm mà dừa này không được vậy. Cô gái trả lời là nếu uống nước dừa vừa hái từ trên cây thì ngọt hơn nhiều. Ba ông khách liền đề nghị cô gái leo cây hái dừa bán cho các ông. Cô gái ra giá phải 10 tệ một quả thì mới hái (trong khi bình thường chỉ có 2 tệ). Họ đồng ý và cô gái thoăn thoắt trèo lên cây. Ba ông khách nhìn theo cô gái, chăm chú như đang ... xem xiếc. Quả là dừa tươi ngon thật. Khách vừa uống vừa khen tấm tắc và khi ra về không quên hẹn hôm sau trở lại uống dừa tươi. Buổi tối cô gái về khoe với mẹ:

 -Mẹ ơi, hôm nay con bán ba quả dừa được tới ba chục tệ.

-Chết, sao con bán đắt thế. Lần sau ai dám đến uống nữa!

-Không, con vẫn bán 2 tệ một quả như mọi ngày. Nhưng hôm nay ba ông khách đòi mua dừa hái trên cây nên đồng ý trả giá cao.

-Thế con trèo lên hái à? Con mặc váy mà dám trèo lên cây, để người ta nhìn thấy hết “nội y”của con còn gì? Sao con dại thế!

Cô gái hối hận vô cùng. Cô quyết định hôm sau sẽ lừa lại khách. Khi ba ông khách trở lại mua dừa tươi, cô thách giá tới 20 tệ một quả. Ba ông đều vui vẻ chấp nhận. Trước khi trèo lên cây, cô chạy vội vào nhà trong chốc lát. Lần này ba ông khách càng tỏ ra thích thú xem cô gái biểu diển hái dừa trên cây, không bỏ sót một chi tiết nào. Những quả dừa tươi hôm nay có vẻ còn ngọt hơn cả hôm qua!

Buổi tối, cô gái khoe với mẹ: -Hôm nay con đã lừa được ba ông khách mẹ ạ. Các ông ấy không thể nhìn thấy “nội y” của con như hôm qua, mà lại phải trả giá cao gấp đôi! Mẹ thấy con có giỏi không nào?

-Ừ, con gái mẹ giỏi lắm. Thế con làm cách nào?

-Dễ thôi mà mẹ. Trước khi trèo cây con đã chạy vào nhà cởi hết “nội y” giấu biến đi! Làm gì còn “nội y” để họ nhìn hở mẹ ?!

 Dừa đúng là đặc sản của đảo, đi đâu cũng thấy dừa. Và còn cà phê, ca cao, hồ tiêu; các thứ quả nhiệt đới như vãi, như xoài, thanh long, chuối, dứa...

Xe tạm tách khỏi đường cao tốc, rẽ vào thị trấn Quỳnh Hải để xem tượng “Nữ Hồng Quân”. Chương trình du lịch quy định thế. Chúng tôi chỉ ngồi trên xe phóng vút qua bức tượng. Tôi vội vàng bấm máy. Khi xem lại bức ảnh trên màn hình máy ảnh tôi mới quan sát được bức tượng này. Không rõ là xi măng hay đá. Một bức tượng bình thường. Nó chỉ có ý nghĩa lịch sử về thời cách mạng giải phóng Hải Nam. Vậy mà vẫn trở thành điểm tham quan du lịch. Bên rìa thị trấn là sông Vạn Tuyền, nước đang mùa cạn. Du khách được chào mời đi thuyền ngắm cảnh trên sông nhưng chúng tôi từ chối vì giá khá cao mà cũng không có vẻ gì thú vị. Theo con đường hẹp như đường tỉnh lộ bên ta, mất ngót nửa giờ là chúng tôi tới thị trấn Hưng Long. Đây là nơi tập trung nhiều điểm tham quan. Trước hết, đoàn ghé vào thăm cơ sở trồng và chế biến cà phê. Với du khách Việt Nam thì chẳng có gì mới lạ. Với khách Trung Quốc thì họ rất thích thú vì trong nội địa, cà phê rất hiếm, được coi như mặt hàng xa xỉ. Nhưng chúng tôi thật sự hào hứng khi xem quy trình chế biến và nếm các sản phẩm chế biến từ cà phê. Nào cà phê đen hoà tan, cà phê “ba trong một”, cà phê dừa, cà phê ca cao và các loại bánh kẹo có chứa cà phê. Du khách nội địa Trung Quốc thì thi nhau mua cà phê, còn du khách Việt Nam chỉ nếm xem hương vị là chính. Nếu mua cà phê ở đây thì hoá ra “chở củi về rừng”!

Rời cơ sở sản xuất cà phê chúng tôi đến thăm “Vườn Lê, vườn Mèo”. Đây là một làng du lịch văn hoá. Người Lê vốn là một dân tộc Lạc Việt đã di cư qua đây từ hàng nghìn năm trước, trông họ vẫn còn phảng phất nét người Việt cổ. Còn người Mèo là dân bản xứ. Đây là hai trong số 56 dân tộc trong toàn nước Trung Hoa (Nước Việt ta có 54 dân tộc anh em). Cổng vào vườn có một hình đầu trâu với cặp sừng rất lớn, là biểu tượng của vườn. Khu vườn rộng vài héc ta, có suối nước, có cây um tùm, đặc trưng miền nhiệt đới. Trong vườn có gian trưng bày dụng cụ nghề nông và sinh hoạt truyền thống, có gian cồng chiêng trống mõ mà du khách chỉ cần bỏ ra 1 tệ là có thể dùng dùi gỏ thoả thích. Tuy là các cụ “bô lão” nhưng không ai nỡ từ chối trò chơi con trẻ này. Đoàn thiếu nữ ăn mặc đồ dân tộc lộng lẫy đón đoàn. Khi các cô gái trẻ thấy có cảm tình với ai (tất nhiên là nam giới) thì sờ lên tai họ. Nếu người khách sờ lại tai cô gái, nghĩa là đồng ý, lập tức một “lễ cưới” theo phong tục dân tộc được tổ chức tại chỗ. Rất tiếc là đoàn chúng tôi không có cụ nào sờ lại tai các cô gái, mặc dầu nhiều cụ được các cô sờ tai đầy ... thân mật. Nếu “lễ cưới” được tổ chức thì “chú rễ” không phải lo chi phí, nhưng phải “boa” cho “cô dâu” không dưới 50 tệ. Cũng như nhiều nơi khác trên thế giới, du khách có thể chụp ảnh với các cô gái trong trang phục dân tộc xinh tươi mà mình thấy thích, nhưng phải trả tiền. Chúng tôi vào một khu sân khấu biễu diễn nghệ thuật dân tộc. Xung quanh sân khấu được bao bọc bởi chừng năm mươi ki ốt bán hàng lưu niệm. Trong khi chờ xem biễu diễn, du khách không biết làm gì ngoài đi xem hàng, mặc cả. Sân khấu “vườn Mèo” được biểu diển gồm 4 tiết mục múa, trong đó có múa sạp gần na ná múa sạp bên ta. Các nghệ sĩ là thanh niên trong làng với bắp chân chắc nịch và đôi tay rắn đanh như ... gỗ. Kết thúc ở sân khấu “vườn Mèo” du khách lại chuyển sang sân khấu “vườn Lê” ở phía sau. Lại chờ đợi, lại đi ... mặc cả. Đấy chính là ý đồ, là mục đích của khu du lịch, câu du khách mua hàng. Chương trình biểu diễn của “vườn Lê” chỉ có 2 điệu múa. Vẫn là các “nghệ sĩ” vừa biểu diễn bên “vườn Mèo”, chỉ đổi thay trang phục.

Rời “vườn Mèo, vườn Lê” xe đưa chúng tôi qua thăm khu vườn nhiệt đới. Đây là một trung tâm nghiên cứu của tỉnh đảo Hải Nam. Khu vườn khá rộng, chừng 6 héc ta. Có rất nhiều loại cây trồng ở đây, từ chè, cà phê, cacao, các loại lan quý dùng để điều chế nước hoa và hàng trăm giống cây khác. Rất nhiều đoàn khách Trung Quốc chen chúc giữa khu vườn. Các hướng dẫn viên dùng loa pin giải thích cho đoàn mình, gây nên một thứ âm thanh hổn độn nên chúng tôi không thể nghe Tiểu Hà nói gì. Kết thúc là thưởng thức các loại trà do cơ sở này sản xuất. Khách Trung Quốc tỏ ra thích thú nhưng khách Việt Nam có vẻ dửng dưng vì nó khác với vị chè Thái Nguyên quen thuộc.

Buổi tối chúng tôi nghỉ lại trong một khu khách sạn cao cấp (spa resort) ngay thị trấn Hưng Long. Nơi đây nổi tiếng vì có suối nước nóng chửa bệnh, có dịch vụ “cá rĩa da” thuộc loại của độc trên thế giới. Du khách nằm ngâm trong bể nước khoáng, một đàn cá nhỏ đến rĩa những chổ da chết trên cơ thể. Dịch vụ này rất đắt nên không thấy ai trong đoàn đăng ký tham gia. Một nửa đoàn đi xem biểu diễn nghệ thuật cổ truyền Trung Hoa và pê đê Thái. Chúng tôi đi bách bộ quanh khách sạn rồi về ngũ sớm vì đã qua một ngày tất bật.

Ở Hưng Long thực phẩm có vẻ đắt đỏ. Tuy nhiên, có lẽ nơi đây mới phát triển du lịch nên việc phục vụ khách có nhiều khiếm khuyết. Khách cần một đôi đũa, nhân viên mang đến một nắm, vất lên bàn; hỏi tờ giấy lau cũng vậy. Đặc biệt là bát đĩa rất nhiều cái sứt mẻ vẫn được đem cho khách dùng. Một ông khách khó tính phàn nàn việc này, Tiểu Hà có giải thích: Các anh các chị thông cảm cho, khác với người Việt, người Trung Quốc quan niệm là vật dụng còn dùng đựng thức ăn được thì vẫn dùng bình thường. Bát đũa càng sứt mẻ càng chứng tỏ khách ăn nhiều, nghĩa là quán hàng rất đông khách. Không phải là họ không tôn trọng khách, mà chỉ vì chưa quen với việc phục vụ khách du lịch nước ngoài mà thôi. Riêng tôi, tôi nghĩ rằng người Trung Quốc thực sự đúng khi họ biết tận dụng các đồ dùng thiết yếu, mặc dù các vật dụng này rất sẳn và cũng rất rẻ. Trong khi đó, người Việt chúng ta tuy còn nghèo lại hay lảng phí!

Sáng sớm hôm sau, theo “con đường Trường Sơn” gập ghềnh nhỏ hẹp, vượt qua một con đèo không cao lắm, trên Ngũ Chỉ Sơn, mất chừng hai mươi cây số, chúng tôi ra đường cao tốc để về Tam Á. Đoạn đường tiếp này dân cư có vẻ đông đúp. Những vườn dừa, vườn cau và đặc biệt là những vườn vải đang mùa đơm hoa kết trái. Hầu hết cây vải đều nhỏ và thấp, cao hơn bụi sim chút ít, không như các vườn vải ở Chí Linh, Lục Ngạn. Cách Tam Á chừng mươi cây số, đoàn ghé thăm xí nghiệp kính thạch anh. Ngoài kính đeo mắt ra còn có nhiều đồ trang sức như nhẫn, hoa tai, dây chuyền mặt đá. Các quý bà phụ nữ trong đoàn thi nhau chọn nào vòng xuyến mã nảo, nào hoa tai đá mầu xanh, màu tím... Tôi đã có dịp vào công ty kính thạch anh Quế Lâm nên thấy hàng ở đây khá đắt. Một đặc điểm nổi bật là hầu hết các cửa hàng ở Quảng Tây cũng như Hải Nam đều nói thách rất khiếp. Khi còn ở Quảng Tây, Tiểu Hà có khuyên chúng tôi là khi mua hàng nên thận trọng, có thể bắt đầu mặc cả từ ... một phần năm giá thách!

Đã khá trưa, xe tới thành phố Tam Á, nơi tổ chức các cuộc thi hoa hậu thế giới mà cô Phương, cô Huyền đã từng tham dự, nơi mà khán giả xem truyền hình Việt Nam hầu như đều quen biết. Chưa có thì giờ để ngắm thành phố. Xe đưa đoàn đến thẳng nhà hàng ăn, nằm ở một góc ngoại vi. Nhà hàng nằm giữa một khu phố với những ngôi nhà trên dưới hai chục tầng lầu, mầu sơn còn mới. Thức ăn ở đây có vẻ đắt đỏ và không có gì đặc sắc. Ăn xong chúng tôi lại cấp tốc ra bãi biển Đại Đông Hải. Nghe chữ “đại” tưởng là to lớn lắm, nhưng bãi này chỉ xấp xỉ Bãi 3 ở biển Đồ Sơn. Một số người mua vé đi xem đáy biển, nhiều người chỉ ngồi hóng gió còn một số ít ra tắm. Bãi tắm có độ dốc khá cao nên được khoanh vùng và có người trông coi rất cẩn thận. Hai giờ sau, xe lại đưa chúng tôi đi thăm Vịnh Á Long, một bãi tắm được du khách ưa thích, nơi được chọn làm bối cảnh cho các thí sinh dự thi hoa hậu thế giới đến chụp hình trong trang phục áo tắm. Đoàn chỉ dành 20 phút cho mọi người chụp ảnh rồi di chuyển sang “Chân trời góc bể”. Đây có lẻ là nơi hấp dẫn nhất ở đảo Hải Nam. Người Trung Quốc rất trân trọng những địa danh mang dấu ấn lịch sử hoặc sự tích về các danh nhân. Ngày xưa, nhà thơ và là hoạ sĩ danh tiếng Tô Đông Pha (thời Tống) bị điều đến Tam Á (thực chất là đi đày) làm quan trấn thủ. Khi ông tới mỏm tận cùng phía nam của đảo, nơi mà xưa kia người Trung Hoa coi là điểm tận cùng của nước họ, nơi có mấy tảng đá trơ vơ trên mặt sóng, xung quanh là trời nước bao la mờ mịt, ông đã thốt lên rằng: “Thế là ta đã đến tận chân trời góc bể!”. Câu nói của ông đã làm cho vùng đất trở thành điểm du lịch hấp dẫn. Ai cũng muốn một lần đặt chân đến “Chân trời góc bể”, nơi đã từng ghi dấu Tô tiên sinh. Có hàng trăm chiếc xuồng cao tốc đợi bên bờ, sẳn sàng chở du khách ra thăm “Chân trời góc bể”, cách bờ chỉ vài ba trăm mét. Cứ hai hoặc ba người lên một chiếc xuồng. Xuồng lao đi như tên bắn, rồi từ từ chạy chậm một vòng qua hai tảng đá để du khách chụp ảnh trước khi trở lại bờ. Tại điểm du lịch này chúng tôi còn được xem biểu diển cá sấu, hải cẩu, cá heo, các loại cá biển nuôi trong mấy chục bể kính và các loại chim. Nếu khách cầm tiền trên tay thì lập tức một chú vẹt xanh bay đến cặp tiền vào mõ mang vào buồng cho chủ. Điều đặc biệt là con chim chỉ nhận những đồng tiền từ 5 tệ trở lên, nhỏ hơn thì không thèm nhận! Người cho tiền thấy ngượng đành rút ra đồng tệ có mệnh giá cao hơn!  

Trời đã sắp hoàng hôn, chúng tôi rời bãi biển. Nhìn cảnh vật tôi chợt nghĩ tới thân phận Tô tiên sinh, một bậc tài danh mà lận đận. Thời nào cũng vậy, ở đâu cũng vậy "Chữ tài liền với chữ tai một vần!" Thuở ông đến, nơi đây chỉ là một bãi biển hoang vu buồn thảm!

Tối hôm ấy chúng tôi về khách sạn giữa trung tâm thành phố. Thành phố đã lên đèn, lộng lẫy và tấp nập. Tam Á là thành phố du lịch nên hoạt động ban đêm khá nhộn nhịp. Mặc dù qua một ngày chạy như ngựa vía, rất mệt mỏi nhưng tôi vẫn muốn đi bách bộ một vòng quanh khách sạn cho biết bộ mặt Tam Á dưới ánh đèn nhấp nháy. Nhiều gian hàng sáng trưng, hầu hết là bán hàng lưu niệm, hàng ăn uống. Một cửa hàng massager cách khách sạn không xa, với chục cô gái ăn mặc như trên bãi tắm ngồi vắt vẻo hớ hênh, cười đùa, chờ khách. Vài tốp thanh niên nam nữ đèo nhau xe máy đến vũ trường. Tiếng nhạc xập xình vọng ra làm chân khách bộ hành trở nên ngứa ngáy, muốn nhảy tưng tưng! 

Chúng tôi ăn sáng tại một nhà hàng ven biển. Ăn vội ăn vàng cho xong, tôi tranh thủ ra bãi biển chụp hình. Bải biển này (tôi quên không hỏi tên) có cái gì đó rất giống bãi biển Nha Trang. Trên quảng trường ven bãi biển, một sân khấu khá lớn đang được tháo dỡ. Chắc tối hôm trước có chương trình ca nhạc ngoài trời. Xung quanh, các cụ cao tuổi đang bình thản tập Thái cực quyền và nhiều bạn trẻ đang chạy nhảy. Tiểu Hà có nói rằng, ở Trung Quốc người ta có thể tập thể dục mọi lúc mọi nơi. Nhưng trên bãi biển không thấy ai bơi, có lẽ nước còn lạnh quá chăng. Rời thành phố du lịch xinh xắn, ngồi trên xe tôi cố chụp những gì lướt qua trước mắt. Khi đi qua toà nhà có hình bông hoa trắng muốt, nơi tổ chức chung kết các cuộc thi hoa hậu thế giới, xe không được phép dừng nên tôi không làm sao chụp được một bức hình ưng ý. Thật tiếc! Thành phố có vẻ như đang cấp tập xây dựng với nhiều tòa nhà cao tầng vươn lên, nham nhở sắt thép xi măng. Một nét nổi bật là ở khu vực phía bắc xuất hiện khá nhiều người mang trang phục Hồi giáo. Vài ngôi đền có hình trăng lưỡi liềm với ngọn tháp “củ hành” nằm rải rác. Nhiều phụ nữ bán hàng trùm khăn gần kín mặt ... Thì ra ở đây có dân tộc Hồi và có nhiều người theo đạo Islam. Người Trung Quốc bây giờ không xây nghĩa địa vì có quy định tất cả đều được hoả táng, riêng ở đây, bên rìa thành phố có những ngôi mộ đắp đất hình nón, theo phong tục của người Hồi.

Rời Tam Á, chúng tôi đi mất gần 2 tiếng là tới thành phố Vạn Ninh ăn trưa. Ăn cơm xong cả đoàn liền đi thăm Đông Sơn Lĩnh, một trong những ngọn núi thiêng của Trung Quốc. Nghe nói người Trung Hoa ai cũng muốn được một lần hành hương đến ngọn núi thiêng này, vì thế dưới chân núi dòng người, dòng xe chật ních. Ngọn núi cao 180 mét, chỉ nhỉnh hơn một ngọn đồi. Lưng chừng núi có một ngôi chùa thiêng với pho tượng Phật đồ sộ. Tôi không vào chùa nhưng nghe nói hầu hết các chùa ở bên này đều bán vé vào cửa. Trên đỉnh núi, dưới tán cây rừng là mấy tảng đá to, trở nên nổi tiếng vì đã được đoàn làm phim “Hồng lâu mộng” chọn làm nơi quay cảnh Lâm Đại Ngọc và Giã Bảo Ngọc ngồi tình tự. Nam thanh nữ tú ai cũng muốn được chụp hình lưu niệm nơi đây. Đường cáp treo với hàng trăm ca bin lúc nào cũng kín khách. Từ trên ca bin có thể nhìn thấy nhửng quần thể đá nhiều hình nhiều vẻ. Xa xa là biển và lấp ló thành phố Vạn Ninh.

Rời Đông Sơn Lĩnh, xe đi chừng một tiếng là tới xí nghiệp chế biến dừa. Thôi thì đủ loại chế phẩm từ dừa như sữa dừa, cà phê dừa, cacao dừa, bánh kẹo dừa các loại được chế biến nơi đây. Việt Nam mình chắc chắn có nhiều dừa hơn Hải Nam nhưng rõ ràng là sản phẩm từ dừa còn rất hạn chế. Ra đi từ một đất nước có nhiều dừa mà các du khách Việt Nam hầu như không ai là không mua một vài túi sữa dừa các loại, vừa ngon vừa lạ!

Chừng 5 giờ 30 chiều là chúng tôi về tới Hải Khẩu. Lại ăn vội ăn vàng cho kịp lên tầu vượt biển. Rất may, gió vẫn yên, sóng vẫn lặng trong suốt chuyến đi về. Trước khi rời tàu, nhận ra chúng tôi là người Việt, có một nhóm gồm ba phụ nữ đến bắt chuyện. Thì ra họ là những người Việt đã từng bị lừa bán sang đây gần mười năm trước. Người trẻ nhất trong số họ kể rằng vì nhà quá nghèo nên khi có người rủ đi Móng Cái làm việc, cô không suy tính gì. Khi ấy cô mới 16 tuổi. Cô bị đẩy đi mà không biết đi về đâu. Thế rồi cô bị đưa đến Hải Nam, làm vợ của một người đàn ông hơn cô hai chục tuổi. Ngôn ngữ bất đồng, cô làm mọi việc thông qua ám hiệu. Cô nói là cô còn may hơn các chị khác nhiều vì đa số phải lấy ông già hay người tàn tật. Bây giờ cô đã có 2 con, cô không thể bỏ chúng mà về nước được. Biết vậy nên chồng cô đã đồng ý cho cô về thăm quê. Cô gái người tỉnh Thái Bình. Cô nói, riêng ở ngôi làng mà cô đang sống, nằm hẻo lánh bên sườn Ngũ Chỉ Sơn, đã có tới gần chục cô dâu Việt. Một chị khác chừng ngoài bốn mươi tuổi (tôi không dám chắc khi đoán tuổi những người phụ nữ khắc khổ này), quê ở Hưng Yên, mặt buồn rười rượi, hỏi gì cũng lắc đầu không nói. Cô gái trẻ nói là chị ấy rất khổ, ông chồng già bệnh tật ốm đau đã chết, bây giờ vẫn phải lo nuôi con và phục vụ cả nhà chồng. Chị ấy trốn về thăm quê nhưng sẻ trở lại vì không thể bỏ con! Chị thứ ba tôi chưa kịp hỏi. Thuyền đã cập bến nên tôi không thể nói chuyện thêm. Một nỗi buồn bỗng đâu ập đến, trùm lên cả hồn tôi! Tôi không biết nói gì để chia sẻ nỗi bất hạnh, buồn đau của họ! Báo chí đã nói về họ rất nhiều, nhưng đây là lần đầu tiên tôi gặp.

Lên bờ, chúng tôi chính thức đi thăm Bắc Hải. Bắc Hải là thành phố cảng của tỉnh Quảng Tây. Hơn chục năm về trước, Bắc Hải phát triển rầm rộ với hy vọng trở thành một thành phố theo mô hình Thâm Quyến. Nhiều cao ốc dựng lên. Nhiều khu biệt thự được đầu tư xây cất dồn dập. Thế rồi điều kỳ diệu đã không xẩy ra. Nợ nần chồng chất không có lối thoát, nhiều ông chủ đã phải nhảy lầu tự tử! Một khu biệt thự chừng 300 căn không ai nhòm ngó, nay đành phải cho thuê làm chuồng heo, chuồng gà! Một bài học đắt giá của người Quảng Tây. Một “tấm gương” cho người Việt chúng ta soi vào để thích nghi với thời kinh tế thị trường. Bắc Hải thường tự hào về bãi biển Ngân Than với nền cát trắng tinh như bạc mà có lần một vị lảnh đạo cao cấp Trung Quốc đến thăm đã gọi là “thiên hạ đệ nhất than”. Nhưng khi chúng tôi đến thăm thì cát ở đây chỉ trắng hơn cát ... sông Hồng! Lý do là nhiều năm trước người ta xây một con đập chắn sóng. Sóng biển đã không gột rữa được cho nền cát nên cát cứ đen dần. Con đập đã bị phá nhưng chưa biết bao giờ mới có lại “ngân than” (bãi cát trắng)! Phải chăng là sự vội vàng, nôn nóng hay kiểu làm việc "duy ý chí" đã làm cho Bắc Hải phải trả giá? Bắc Hải còn có niềm tự hào là quê hương của ngọc trai quý nhất Trung Quốc. Ta đã từng nghe câu thành ngữ: “Châu về Hợp Phố”. Hợp Phố là một huyện ngoại thành của thành phố Bắc Hải. Chuyện kể rằng ngày xưa Hoàng đế Trung Hoa rất “mê” ngọc trai Hợp Phố. Một lần, một vị quan nọ được lệnh đem viên ngọc quý về kinh dâng vua. Sợ đi đường bị cướp, ông ta chích bắp chân mình rồi đặt viên ngọc vào đó và khâu lại. Ngọc trai được giữ trong môi trường như vậy sẽ càng trong, càng sáng. Thế rồi ông quan vẫn bị cướp và bị giết. Một thời gian sau, không rõ bằng cách nào đó mà viên ngọc quý lại trở về nơi nó đã ra đi, nghĩa là “châu về Hợp Phố”. Chuyện thật giã thế nào ta không bàn tới. Chỉ biết rằng nói đến ngọc trai Trung Quốc thì trước hết phải là ngọc trai Hợp Phố và nói đến Hợp Phố là nói đến ngọc trai. Nghe đâu viên ngọc trai lớn nhất và đẹp nhất thế giới với định giá hàng triệu đô la (nhưng không bao giờ được bán) hiện ở trong viện bảo tàng nước Thổ Nhĩ kỳ, là ngọc trai Hợp Phố. Ngay ở trụ sở công ty ngọc trai Bắc Hải hiện có một viên ngọc to hơn viên bi ve chút xíu cũng có giá trên một triệu tệ, nghĩa là trên hai tỷ đồng tiền Việt. Trước khi bước chân vào quầy bán hàng của công ty, không ai nghĩ tới mua ngọc, vậy mà khi trở ra nhiều người đã mang theo hộp to hộp nhỏ. Người dè dặt nhất cũng mua vài lọ thuốc nhỏ mắt được điều chế từ ngọc trai. Đó là đặc điểm chung của khách du lịch mà những cám dỗ bất ngờ nhiều khi khó cưỡng. Bản thân người viết bài này cũng tắc lưỡi mua một đôi bông tai ngọc trai nho nhỏ đem về ... nịnh vợ.

Đầu buổi chiều đoàn về tới Nam Ninh. Từ lúc này, các du khách tự do đi mua sắm, tiêu nốt những đồng tệ cuối cùng để ngày mai về nước, kết thúc một chuyến đi 7 ngày trọn vẹn.

Thế là chúng tôi đã tới thăm đảo Hải Nam, một hòn đão vừa quen vừa lạ, vừa gần lại vừa xa. Chúng tôi đã tới “Chân trời góc bể”, đã tận mắt thấy “Châu về Hợp Phố”. Một chuyến đi khá vất vả, mệt nhọc, có chỗ hay, có chỗ chưa hay, có nhiều niềm vui và cũng vương vất nỗi buồn ... Nhưng chuyến đi thật vô cùng thú vị và đầy bổ ích.



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 02.02.2018.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004