Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





NƯỚC CỐT TRẦU





Nhậu thịt trâu nướng xong, hắn pha cho tôi ấm trà rồi ngồi lặng lẽ nhai trầu.

- Có lẽ tôi về Phố Chợ ở ông ạ! Ở đó có người đang cần tôi. Trên này có ông thì vui, nhưng đi lại nhiều, bất tiện lắm! – Đột nhiên hắn ngừng nhai trầu rồi nói với tôi câu đó.

- Ông về phố chợ mà ở với ma à? Điên! - Tôi ngạc nhiên đến há hốc mồm khi nghe hắn nói.

- Chả điên đâu! Cô ấy bảo mấy lần rồi. Mấy lại, xuống đấy, tôi còn coi nhà rồi phụ cho cô ấy đi chợ.

Hóa ra hắn đã yêu một cô nàng Phố Chợ, hèn chi lâu nay có thịt trâu đãi tôi. Chắc mụ này kinh tế cũng khá giả lắm đây. Thế thì phải mừng cho hắn.

- Cô ta buôn bán ở chợ à? Bán hàng gì đấy?

- Thịt trâu!

Ôi, trời! Thế thì số hắn khổ rồi! Vớ phải mụ hàng xẻo thịt, lọc xương ở chợ, khác chi lấy đồ tể? Tôi đã từng chứng kiến mấy vụ các mụ hàng thịt đánh nhau. Những cánh tay xắn cao, búa dao lấp lóe, máu me toe toét. Mà làm sao hắn lại quen mụ bán thịt trâu rồi đem lòng yêu? Cái thằng đàn ông xưa nay nhát như thỏ đế, thấy phụ nữ chả dám mở miệng, chỉ chú tâm nhai trầu, vậy mà bây giờ lại có duyên. Mà lấy ai chứ sao lại lấy mụ bán thịt trâu?

Chuyện tình động trời mà hắn chỉ nói với tôi có thế. Tôi nhìn xuống chân bàn, chẳng biết hắn ngồi nhai trầu từ lúc nào mà cái âu nhựa đã gần đầy cái thứ nước màu nâu tươi sóng sánh.

- Làm sao mà ông lại quen mụ ta? Đã thành vợ chồng rồi à?

- Cứ cho là thế! Đi lại với nhau gần tháng nay rồi!

Thấy tôi cứ giương mắt lên mà nhìn, hắn biết, tôi đang muốn nghe kể về mối tình của hắn với cô nàng bán thịt trâu mà hiện giờ, trong mắt hắn, hoàng hậu xứ Ba Tư cũng không đẹp bằng. Hắn cúi nhìn cái âu đựng nước cốt trầu vẻ hài lòng rồi há miệng lấy cái cả trầu đã bẹp dí, đỏ lòm lòm, thong thả kể cho tôi nghe về tình sử của hắn với cô nàng bán thịt trâu ở Phố Chợ …


Đó là một buổi chiều mùa đông mưa phùn, rét mướt và ảm đạm. Hắn đi thăm một ông chú ruột đang ốm nặng. Hắn muốn mua biếu ông chú một món gì đó để bồi dưỡng. Biết mua gì đây? Tiền ít thì không thể mua hàng đắt, hàng xịn rồi. Trước đây, có lần hắn có nghe người ta nói, ốm nan mấy mà ăn cháo thịt trâu băm thì rất nhanh lại sức. Hắn đi qua mấy hàng thịt bò, tay luôn nắn vào cái bóp chỉ có mấy chục ngàn tiền vừa bán ớt chiều hốm trước, tìm đến hàng thịt trâu cuối chợ. Chiều sập xuống, thịt trong nong đã bán gần hết, chỉ còn lại mấy miếng bạc nhạc biến màu thâm sì, ruồi nhặng vo ve bay càng tô thêm cảnh thảm đạm của buổi chợ tàn trong bối cảnh trời đông xám xịt. Mọi thứ thịt, ế còn dễ coi, chứ thịt trâu ế cuối chợ, ai đã từng mua, không bút bào tả được cái mầu xám lại thâm lại xanh tái, lợt lạt, mà chỉ những ai nghèo túng, mới bập vào. Chả trách ngày xưa, các cụ ví môi của người độc ác, thâm hiểm thâm như miếng thịt trâu chết là phải. Hắn đứng gần hàng thịt, mắt đăm đăm ngó vào mấy miếng thịt trâu, miệng vẫn tóp tép nhai trầu. Mụ hàng thịt có đôi môi thâm sì chả kém miếng thịt trâu là mấy cũng nhìn hắn, lòng chứa chan hy vọng bán nốt chỗ thịt ế rồi dọn hàng. Có lẽ do cả ngày đứng bán hàng, mỏi chân mà trời mỗi lúc càng lạnh, nên thi thoảng mụ ta lại nhảy cẫng lên như lên đồng, khiến hắn vừa ngạc nhiên, vừa khó chịu. Hắn có con mắt khá tinh đời, nên khi nhìn vào mặt mụ ta, hắn biết, con người này lì lợm, không dễ gì bỏ cuộc, quyết tâm bán được giá, hết hàng mới dọn về.

Chắc chắn sẽ xẩy ra một cuộc “đối đầu lịch sử” giữa hai đối thủ đáng gờm này. Một bên nghèo kiết xác, cố dìm giá, một bên lì lợm, quyết tâm được giá mới bán chứ không chịu lép. Và đúng là cuộc mặc cả xuyên thế kỷ đã xẩy ra.

- Hai lăm ngàn, bán không?

- Hai lăm ngàn thì đi mà mua da trâu! Đây là thịt chứ không phải da, mở to mắt ra mà nhìn!

- Nhưng mà thịt bèo nhèo, lại ế? Chợ hết người rồi!

- Anh bảo ai ế? ( mụ hàng thịt tưởng hắn ám chỉ mình) Nhà anh ế thì có! Mà ế cũng có giá của ế. Chợ hết người thì bán cho ma chứ không bán cho cái loại đàn ông không quân tử, kèo nhèo!

Nghe mụ nói, hắn đã thấy nóng bừng tai. Mụ hàng thịt đã chạm vào lòng tự trọng bấy lây nay hắn cố tâm gìn giữ.

- Ba mươi ngàn bán không?

- Không! Vừa trả lời, mụ ta vừa nhảy tâng tâng như bị kiến đốt, khiến hắn càng tức máu.

Thường những người hiền hay cục. Xưa nay hắn đúng là hiền lành. Kể cả thời trẻ cũng thế. Hắn thấy mình bị xúc phạm, chỉ muốn dang tay vả cho mụ ta một cái cho chừa cái thói kiêu căng tí tởn ấy đi, nhưng thấy tay mụ cầm lăm lăm con dao bầu sắc lẹm, nên lại thôi. Nhưng cũng phải dạy cho mụ ta một bài học cho mà nhớ đời. Hắn không thèm nói thêm câu nào nữa cho phí lời, cúi gập người xuống nong thịt, móc cái bã trầu trong miệng ra, còn bao nhiêu nước cốt trầu đầy ứ trong miệng, hắn phồng má nhổ đánh toẹt một bải nước cốt trầu đỏ lòm lòm vào giữa miếng thịt trâu ôi rồi đi, bỏ mặc mụ bán thịt trâu la ôi ối, hai chân dậm bành bạch xuống nền đất chợ.

Hắn dạo sang hàng thịt bò, nhưng chưa dám hỏi giá. Hắn biết, thịt bò đắt hơn thịt trâu. Nhìn thấy hàng bánh tẻ, hắn đã định mua phứa mấy cái. Bánh tẻ ăn “lành bụng” mà lại có chất “ngũ cốc”, hắn tự bao biện cho mình. Trong khi hắn đang cúi xuống hàng để chọn bánh thì có tay ai đó giật giật phía sau. Hắn ngoảnh lại, thấy mụ hàng thịt trâu đang tỏn tẻn cười. Lúc đầu, hắn hơi hoảng hồn, tưởng mụ mang dao đến trị tội vì dám nhổ vào hàng thịt của mụ. Nhưng không. Trông mặt mụ hiền mà có duyên lắm. Mụ ghé vào tai hắn thì thầm: - Anh quay lại hàng em đi. Em biếu không miếng thịt trâu ấy đấy!

Hắn cười đắc ý: - Biết ngay mà! Ế chứ gì? Mụ nguýt hắn một cái rõ dài. Đàn bà khi đã lườm nguýt, mười cô thì chín cô đã xiêu lòng.

Hắn liền bỏ cô hàng bánh, đi theo mụ hàng thịt giống như mụ dắt một con trâu mộng. Bán rẻ thì mua, chứ không thèm xin xỏ. Đằng nào thì thịt trâu cũng bổ dưỡng hơn bánh tẻ - Hắn nghĩ bụng.

Hắn đến bên hàng thịt trâu. Mụ bán thịt giơ lên trước mặt hắn một miếng thịt còn tươi , hệt như miếng thịt trâu vừa mới mổ. Mụ thì thầm: - Ngạc nhiên chưa? Này, miếng thịt ban nãy anh định mua đấy! Nhờ anh nhổ nước cốt trầu vào, nó đã chuyển màu. Thật là như có phép tiên. Em đã nghĩ ra một kế hoạch rồi! Thật là trời giúp ta! Từ nay, anh cứ xuống chợ nhé! Miếng thịt nào ôi, anh cứ nhổ nước cốt trầu vào, bán được hàng, em trích phần trăm cho…

Hôm ấy hắn theo mụ bán hàng thịt trâu về nhà. Thì ra hoàn cảnh của mụ cũng sống cô đơn như hắn. Miếng thịt trâu nhợt nhạt, thâm sì nhờ hắn nhổ nước cốt trầu, ngấm vào trông tươi roi rói. Mụ bảo hắn thái ra giúp mụ rồi ướp gừng tỏi sào lên. Ôi chao! Ngọt ngào mà thơm ra phết. Không có mùi vị lạ. Chứng tỏ nước cốt trầu không để lại dư vị vị gì ảnh hưởng đến chất lượng miếng thịt. Hơn hẳn thứ hóa chất bảo quản độc hại gây ung thư mà lâu nay đài báo nói ra rả.

- Cái số của cô ấy cũng khổ ông ạ! – Hắn lấy cái bã trầu trong miệng giơ lên ngang tầm mắt xem có cần nhai thêm cho thật hết nước cốt không rồi lại tâm sự tiếp với tôi.

- Tôi ngủ lại, đêm nằm nghe chuyện mới thấy thương cho hoàn cảnh của cô ấy. Trước đây, chồng cô ta chuyên nghề giết trâu thuê. Lần ấy, gặp con trâu hung dữ, thằng chồng chủ quan, không giằng trói tử tế, chưa kịp quai búa lên thì con trâu đã xô gẫy hai cái cọc chắn, lao tới, húc tung lên, hất ngược ra đằng sau. Thằng chồng lồi mắt, rơi xuống đất đánh huỵch! Chết tươi luôn!

Tôi cũng góp chuyện.

- Các cụ bảo, cái nghề giết mổ gia súc, có nghiệp quả báo đấy ông ạ! Thì ông cứ suy cái vụ thằng Luyến Chó ở cổng Làng Thượng đó thì biết. Hắn giết thịt có đến vài trăm con chó. Khi hắn gần chết, cứ rú lên, mặt xanh mét, chân tay run lẩy bẩy. Hắn bảo, hắn trông thấy rõ ràng cả một đàn chó đi bằng hai chân sau, xếp thành hàng dài, đầu con nào cũng đội nón mê như người, chân trước cầm lăm lăm con dao, đòi lấy mạng hắn. Thế cái mụ ông yêu bây giờ có dính vào giết mổ trâu không?

Hắn xo vai lại như kinh hãi câu chuyện tôi vừa kể, bảo: Không ông ạ! Cô ấy chỉ lấy thịt trâu từ lò mổ rồi mang ra chợ bán lại kiếm lời thôi.

- Thế thì được! Tôi cứ ngỡ…

Thế mà hôm sau hắn xuống ở hẳn với mụ hàng thịt trâu ở Phố Chợ thật. Có hắn giúp sức, mụ đi đến các chợ mua rẻ thịt trâu ôi mang về rồi giao cho hắn “phù phép”. Phiên chợ nào, hàng thịt của vợ chồng hắn cũng hết veo.

Tôi có ghé qua nhà vợ hắn một hai lần. Lần nào hắn cũng đãi thịt trâu sào tỏi, nhưng chưa hôm nào tôi đụng cô vợ. Quầy hàng làm ăn nên, mụ cứ bám riết chợ. Thiên hạ càng quay lưng lại với thịt lợn đổ bột, chứa nhiều dư lượng chất kháng sinh độc hại, vợ chồng hắn, kinh tế càng phất lên. Hắn bảo, mấy lần nhân viên nhà nước đến hàng nhà hắn lấy mẫu mang đi xét nghiệm mà thịt nhà hắn vẫn được đóng dấu “ Đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm”.

Nghe hắn nói, tôi nghĩ đến cái thứ nước đỏ tươi sóng sánh ấy có lẽ có khả năng kháng khuẩn tốt cho nên mới làm tươi thịt và bảo quản được lâu đến thế. Hèn chi, xưa nay những người ăn trầu, mồm miệng thơm tho, chẳng viêm họng hay răng lợi bao giờ. Hắn bảo tôi đừng tiết lộ bí mật này cho ai biết. Lộ ra, thiên hạ tranh nhau làm, vợ chồng hắn hết đường sinh sống. Nhưng ngồi một lúc, hắn lại nói, vẻ tự tin.

- Nói vậy thôi, chứ có phải ai nhai trầu cũng có được cái thứ nước cốt đỏ tươi sóng sánh ấy đâu. Nếu dễ, tôi đã thuê mấy cô cậu sinh viên vừa tốt nghiệp đại học đang thất nghiệp rồi. Nhưng mà này! – Hắn ngồi gần sát tôi hơn rồi thì thào:

- Nghề gì thì cũng có bí quyết ông ạ! Ăn miếng trầu vào miệng, cũng phải có thứ tự, tức là quy trình chứ có dễ đâu? Đầu tiên là bỏ miếng cau vào trước, nhưng phải lấy bớt hạt, xong, nhai cho giập rồi mới bỏ trầu. Cái đó thì dễ rồi. Còn nước quẹt vôi. Vôi tôi cũng phải quánh mà phải để lâu vài tháng cho vôi thật chín, khi quệt, phải nhớ quệt vào lưng lá trầu mà phải ở gân lá thứ mấy, rồi lượng bao nhiêu là vừa đủ để miệng không bị bỏng vôi…

Đúng là do hắn ăn trầu từ ngày mẹ hắn còn sống nên mới rành ngón ăn trầu đến thế. Bà mẹ hắn ốm liệt giường đến gần chục năm trời nhưng không bữa nào hắn để mẹ thiếu trầu. Khi răng yếu không nhai được nữa thì nhờ con trai nhai giập miếng trầu ra rồi đưa vào miệng cho mẹ. Dĩ nhiên là bà phải bày cho hắn chi tiết, thành phần trong một miếng trầu như như thế nào để khi hắn nhai tạo thành cái thứ nước đỏ tươi đằm thắm trong miệng hắn bây giờ. Bảy tám năm nhai trầu cho mẹ như thế chi mà chả nghiện? Khi mẹ hắn qua đời, tưởng hắn thôi, không nhai trầu nữa, thế mà không. Hắn nhai trầu còn nhiều hơn trước. Phần thì hắn nhai cho đỡ nhớ mẹ, phần nhai bởi cái chất nước cốt trầu đã ngấm vào máu. Thành ra, đến lúc mẹ hắn ra đi, tài sản để lại cho con, đúng là chỉ có cái nghiệp nhai trầu!

Tôi ngồi quan sát động tác nhai trầu của hắn. Hắn nhai chậm chạp, không tỏ ra ngon hay không ngon, nhai như thể nhai cục đắng cuộc đời cho tan vụn ra để rồi nhổ đi. Các nhà khoa học nói, bộ phận nào trên cơ thể họat đồng nhiều thì bộ phận ấy phát triển. Nhìn khuôn mặt hắn rất ấn tượng. Hai cái xương quai hàm hắn bạnh ra như thể hai cái càng của cỗ máy gặt trên cánh đồng lúa chín. Hàm răng ấy của hắn mà nhai xương sụn thì phải biết! Cứ gọi là rau ráu, nát tan.

Chiều ba mươi tết hắn đến nhà tôi, miệng vẫn nhai trầu như mọi khi nhưng tay xách một cái túi cói nặng. Chưa vào đến nhà, hắn đã xởi lởi.

- Mấy chục năm trời chơi thân với ông mà tết đến có cái con mẹ gì biếu nhau đâu? Chung quy cũng chỉ vì kinh tế khó khăn, ông ạ! Có muốn tốt với nhau cũng chịu! Năm nay nhờ giời, thiên hạ bỏ thịt lợn vì sợ lợn ăn bột, lại bơm thuốc ngủ trước khi giết, nên chuyển sang trâu bò. Vợ chồng tôi cuối năm kiếm cũng khá. Tôi đến biếu vợ chồng ông cái giò trâu. Tôi vẫn biết ông ngày đêm cặm cụi viết văn, nhưng nói thật, ông đừng giận, cái nghề văn nó bạc bỏ mẹ. Cả tháng mới có truyện đăng báo, được triệu hơn triệu kém, nước non con khỉ gì? Thà ông chuyển sang nghề nhai trầu bán nước cốt cho tôi, có khi lại khá hơn. Ông mà có tâm, tôi truyền nghề cho.

Tôi cười trước câu nói nửa đùa nửa thật của hắn. Chẳng biết sao cái miệng tôi lúc đó tự nhiên méo xệch. Thời cuộc chả biết đâu mà lần. Từ xưa, mấy đời các cụ kỵ, có ai ngờ ở cái thời công nghiệp bốn chấm không, kết nối các công nghệ, tạo bước nhảy vọt toàn cầu, vậy mà lại có cái thằng đổi đời chỉ nhờ công nghệ hai hàm răng.

Nhưng đột nhiên trông mặt hắn chợt buồn. Hắn chuyển giọng: “Cái gì quá cũng hỏng ông ạ! Thấy buôn thịt trâu có lời, chẳng ngày nào mụ ấy để cho hàm răng của tôi được nghỉ. Nhai mãi thế này, e rằng cũng chả được mấy nỗi nữa. Hàm răng trên của tôi, có cái đã lung lay rồi!”

Tôi trêu hắn, giọng nửa đùa nửa thật: - Ra giêng, tôi với ông cùng canh ty. Thời buổi này phải biết kết nối các công nghệ. Ông pha chế tỷ lệ trầu cau vôi theo đúng công thức gia truyền rồi cho vào máy nghiền. Nghiền đến đâu, ông nhổ nước bọt đến đấy, như thế là không phải nhai, bảo vệ được hai hàm răng. Xong rồi ta cho vào máy ép lấy nước cốt…

Hắn phân vân: “ Không nhai thì lấy đâu ra nước bọt”?

- Ta hợp đồng với các trường phổ thông. Giờ ra chơi, để sẵn ở cửa lớp một cái chậu, trước khi ra khỏi lớp, bắt buộc mỗi học sinh phải nhổ một bải, mỗi ngày thu vài chục lít chứ không ít. Có tiền, các thầy cô ủng hộ ngay. Xưa nay làm ăn với các trường, ông thấy có ai kêu lỗ đâu? Ngay cả công ty bảo hiểm, hàng ngàn, hàng vạn học sinh đóng phí, vậy mà cả năm, giỏi lắm cũng chỉ có vài ba chục em ốm đau hay tai nạn. Thời buổi này, ăn nhau ở số đông. Rồi các xí nghiệp may. Mỗi bàn may, để ngay một âu nhựa…

Hắn thích chí, nhả vội cái bã trầu ra, cười ha hả: “Hay đấy! Nếu thành công, ta đưa quảng cáo. Bán cho các lò mổ, các quầy thực phẩm, bảo là chất bảo quản mới theo công nghệ sinh học. Tôi với ông phất lên chưa biết chừng.”

Vợ tôi đang hái rau ngoài vườn, nghe tiếng cười, biết hắn đến chơi và cũng đã nghe tôi kể về công việc và tình sử của hắn, hai tay xách theo buồng cau với lưng rá trầu mang vào, bảo biếu hắn. Hắn xua tay: “Bà chị để ra giêng. Hôm nay là phiên chợ cuối cùng rồi. Cái gì cần thì đã có đủ. Bà chị cứ giữ lấy trong nhà cho nó may mắn. Ngày cùng tháng tận, nên thu vào chứ đừng có mà cho đi. Dông đấy”!


12/ 2017



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ ThanhHóa ngày 29.01.2018.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004