Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới







Khi Người Ta Đói!









C ó kẻ từng mỉa mai về người viết sự đói, người đói, rằng tầm nhìn không thoát khỏi miếng ăn! Đúng rồi, nếu người ta no, thì miếng ăn quá khẩu thành tàn; còn nếu đói, như các cụ nói, đói rã họng ra ấy à...

Chủ nhật vừa rồi tôi đi uống bia với mấy anh bạn ở quán bia Bò Tùng Xẻo, trên đường Thái Hà. Anh bạn béo tốt, béo tốt tới mức, anh em trong cơ quan gọi đùa: Dũng Di Lặc và cậu ta là cái thước đo mức tăng trưởng của nền kinh tế nước nhà mấy năm qua. Vốn là người sành ăn, hễ đi nhậu, anh em đều tín nhiệm cậu ta khoản “đi chợ”. Tôi lần đầu tiên tới quán bia đó, còn bọn họ là khách quen. Quán đang đông, sau cú trăm phần trăm vại bia hơi Hà Nội, mới thấy anh bạn béo nhà ta gọi đồ nhậu.

- Cho đĩa ... rau bí xào!

Bữa đó tôi là chủ chi, nên hơi áy náy, nhắc bạn, xem gọi thêm vài ba món gì nữa. Ông bạn bảo từ từ thôi, cậu ta khề khà nhắc chủ quán: chọn rau non, tước kỹ, rồi xào nhiều tỏi vào. Nghĩa là chỉ đĩa rau thôi, ông béo hành nhà hàng đủ thứ. Chưa hết, cậu chàng còn nhấn rõ, làm đĩa năm nghìn. Sau hai, ba lần dô dô trăm phần trăm, vẫn chưa thấy ông bạn kêu thêm món gì, mà lại gọi cậu nhân viên tới, huơ huơ đũa, trỏ miếng bã rau trên bàn, hất hàm hỏi:
    - Này! Rau chăn nuôi hay sao, mà ăn phải nhả bã ra thế này?
    Để cho cậu chàng chạy bàn phân trần một lúc, anh bạn béo mới tiếp:

- Cho đĩa thịt trâu xào cần! Mười nghìn.

Tôi hơi ngạc nhiên, lấy đâu ra thứ oái oăm đó, hay tay này tếu táo. Lại tiếng cậu ta cao vống lên:

- Xem nào, có đúng thịt trâu không!

Đầu bếp phải giương miếng thịt trâu sát mặt cho cậu chàng kiểm tra. Hoá ra quán đây có thịt trâu. Đĩa thịt 10 nghìn, còn xem có đúng không, mà tiếng ông bạn tôi đâu nhỏ, chắc không ít khách bia bàn khác phải nhòm sang. Sau tiết mục kiểm tra thịt, ông bạn Dũng Di Lặc oang oang tiếp:

- Miếng ăn là miếng nhục! Nhưng miếng nhục nó lại là miếng thịt! Giống thịt trâu nó đậm hơn thịt bò, quán này có thịt trâu, không biết mà gọi thịt bò, nó thế bằng trâu, trâu mà tưởng bò, bò lại tưởng trâu... nó đã chém, lại còn cười mình con vịt! Nên cái gì bây giờ cũng ngó phải xem, giả giả thật thật. Thôi nào, rước các chú chuẩn bị xơi món thịt trâu xào nào. H..à h...à! Nghe tiếng mời giễu của bạn, tôi chợt nhớ tới từ “rước” trong bữa được mời cơm khách cách đây vài chục năm rồi.

Ấy là mùa hè năm 1969, khi Giôn Xơn đang ngưng cuộc bắn phá miền Bắc lần thứ nhất, tôi được chuyến ra thăm chơi Thủ đô. Lần đầu tiên tôi biết Hà Nội. Bầu đàn chúng tôi khá đông, ông cậu ruột, ba đứa em họ và tôi, tất cả năm người. Quá hiểu và thông cảm với hoàn cảnh người nhà ở Thủ đô, sau chiến tranh khó khăn, nên dù là khách, ông cậu tôi vẫn tự túc mọi thứ phục vụ cho sự ăn uống của đoàn.

Trong bốn đứa, cậu em họ hơn tôi một tuổi, lớn nhất, được giao nhiệm vụ nặng nề, vác bó củi. Bó củi sắp tầy tặn, chằng bó cẩn thận, nặng không dưới ba mươi cân. Cậu thứ hai bằng tuổi, nhưng vóc dáng đậm hơn tôi, được phân công vác bao tượng gạo chẵn mười lăm bơ, loại ống cân chín lạng. Đó vừa là lương thực của đoàn trong chuyến viếng thăm Thủ đô, vừa là quà nhà quê đem đi biếu. Còn tôi, đội quả dưa hấu. Không phải quả dưa mang đi làm đồ giải khát dọc đường, nó là món quà cho một người họ hàng danh giá bên ngoại của ông cậu tôi.
   Sau chặng chen lấn ô tô khách từ quê tôi - Ninh Giang lên thị xã Hải Dương, chúng tôi lại tiếp chầu nữa rồng rắn, xô đẩy xếp hàng mua vé, rồi tranh cướp nhau lên tàu hoả. Khoảng sáu, bảy giờ tối, tàu đến ga Hàng Cỏ, thầy trò tôi lếch thếch tìm đến người nhà ở ngã tư Khâm Thiên, khu 2A bây giờ.

Dù cả ngày vất vả, hai ba giờ sáng xếp hàng tranh vé ô tô và khoảng bảy tiếng đồng hồ ngồi tàu hỏa, trên quãng đường vỏn vẹn tám mươi bảy cây số, tôi vẫn mê mẩn Thủ đô. Một đứa trẻ nhà quê lần đầu ra tỉnh, thật cái gì cũng lạ, cũng ngỡ ngàng. Có lẽ mải hếch mắt ngắm nhà, ngắm xe, ngắm tàu điện, lại loạng quạng vì đèn đường, tôi vấp rễ cây, ngã lăn cu chiêng, quả dưa hấu - món quà mang đi biếu, đang đội trên đầu - lăn lông lốc và vỡ toác. Tôi không rõ ông cậu mắng mỏ, quát tháo những gì, chỉ nhớ đại ý rằng, lúc ấy ông cáu lắm. Thôi thế là món quà nhà quê có ý đồ đem đi biếu, bị vỡ mất rồi!

Chuyến đi thật nhiều kỷ niệm và là kho chuyện cho tôi kể với đám bạn bè quê: Hồ Gươm to rộng bằng trăm cái ao đình làng mình nhá; mà không bèo, nước xanh biêng biếc cơ; xì, cây gạo làng mình chưa thấm tháp vào đâu, vườn Bách Thảo cây to mười mấy người ôm mới xuể; ôi kem lạnh toát, thì kem là kem, chứ còn là gì nữa, thế mới lạ, lạnh mà lại bốc khói nhé, tao vừa mút, vừa phải xuýt xoa cho đỡ buốt răng; quầy bán xi rô Hà Nội chỗ nào cũng có, ngọt lắm, ngọt lắm, không nhạt thếch như xi rô trên thị trấn;... Phải đến cả tháng trời tôi tự hào kể với đám bạn vậy, những đứa chưa một lần rờ chân lên phố huyện, chứ nói gì tới Thủ đô, chúng cứ tròn xoe mắt nghe. Có một chuyện mà tôi không kể, thực ra mới đầu về quê tôi đã kể, sau mấy cậu em họ nhắc nhở, bảo ông cậu tôi dặn, đừng kể chuyện ấy nữa - đó là bữa được mời cơm.

Hà Nội vui quá, người đông quá, phố xá tấp nập, tưng bừng. Mấy hôm thăm chơi, mà tôi thấy thời gian đi vèo vèo. Rồi bọn trẻ được ông cậu thông báo, chiều mai có người họ hàng bên vợ nhà cậu tôi mời cơm. Mấy hôm thăm thú Thủ đô, chúng tôi ở một nhà người họ hàng, tự nấu ăn lấy, củi gạo đã mang sẵn từ quê lên rồi. Lâu nay ở quê nghe nhiều về người Hà Nội: “Chẳng thơm cũng thể hoa nhài, dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An”. Ôi, cái gì người Hà Nội cũng đẹp cũng hay, người Hà Nội lịch sự lắm, người Hà Nội nấu ăn ngon ngon lắm, cỗ bàn Hà Nội to, to lắm! Biết tin mai được mời cơm, tuy không nói ra, song chắc chắn trong thâm tâm mấy đứa trẻ chúng tôi, ai nấy đều khấp khởi, sẽ được bữa thoả thuê, cỗ bàn Hà Nội mà, thịnh soạn, thịt cá ê hề, cứ thoả sức mà ăn nhá!
     Trước và trong chuyến đi, điều thường xuyên chúng tôi được nhắc nhở, khi công khai, lúc thầm thì, kể cả dùng ám hiệu nhắc nhở về vấn đề ăn uống. Bài học “Phải, không” có rất nhiều điều: phải ăn uống từ tốn; phải mời trước khi ăn; không nhai nuốt nhồm nhoàm; không tự tiện múc gắp! Nội dung bài học nhắc đi giảng lại đến mức, tôi đâm thuộc lòng. Dù vậy vẫn sợ hớ hênh, hay quên, thi thoảng còn đem ra ôn tập, lẩm nhẩm đọc thành lời: không gắp, không nhai, không... Tức là phải lịch sự như người Hà Nội. Nếu không lịch sự được cái gì, thì chí ít gắng mà giữ cái sự ăn uống. Vâng, giấy rách phải giữ lấy lề, cái lề nhà quê. Trong lúc ở quê dạy dỗ các lễ nghi “Phải, không” kia, ông cậu tôi cao hứng, làm luôn một tràng, chẳng rõ nói với lũ tý nhau chúng tôi, hay nói với ai:
   - Người nhà quê vẫn bảo, lời chào cao hơn mâm cỗ cơ. Đúng quá! Đâu phải đói, mà cũng đâu phải người nhà quê sĩ diện.

Người mời cơm đoàn chúng tôi ở một phố tôi không còn nhớ rõ, hình như nhà ở quãng Cửa Nam. Ngoài cậu cháu chúng tôi, gồm năm người và vợ chồng chủ nhà (ông bà không con cái), còn có người em ruột của ông ta. Nhà ông này thì tôi biết, bởi cậu cháu tôi một lần tới thăm. Gọi là nhà, nhưng thực ra đấy chỉ là hỏm chân cầu thang. Trước đây ngôi nhà là của ông ta, sau gia đình đi xây dựng kinh tế mới, nơi rừng thiêng nước độc, dân Hà Nội không quen cày cuốc, quyết tâm chưa cao, đã không chịu đựng nổi chốn chim kêu vượn hú, đành quay về lại Thủ đô. Lúc quay về nhà của ông, phân cho người khác ở mất rồi, gia đình tám khẩu đành tạm trú nơi chân cầu thang của chính ngôi nhà mình ngày trước.

Trở lại chuyện bữa cơm mời khách, tất cả chủ khách gồm tám người. Phải nói rằng bát đĩa đẹp, mâm đồng sáng loáng, không nhôm nhoam mâm gỗ sứt mẻ kiểu làng tôi. Tôi chỉ hơi thất vọng, cơm mời khách sao sơ sài thế! Hay người ta để cho thức ăn nóng, chưa bày biện ra. Đến khi chủ khách đã quây quần hết, tôi mới hết thấp thỏm hy vọng, sẽ còn nhiều món nữa.

Trên mâm có đĩa rau sống, cái đĩa rất to và đẹp, diềm đĩa lượn sóng, phía trên lồng bồng mấy nhánh hành chẻ tỉa như nhành hoa, rau muống chẻ cuộn lại tròn vo vo, xen vào đó là những nhánh rau xanh nhỏ, trông từa tựa rau húng quê tôi, nhưng cuống màu lại tia tía, lá thì nhỏ săn hơn. Trong bữa ăn tôi mới biết húng Láng, một đặc sản của Hà Nội, ông chủ nhà cứ luôn miệng giới thiệu, còn cậu tôi thì xuýt xoa khen rằng thơm ngon thế!

Bày kế đĩa rau sống là món rau muống xào, cũng đựng trong cái đĩa to tương xứng với cái đĩa rau sống. Món rau muống xào không có gì đặc biệt so với rau muống xào quê tôi, ngoại trừ nó điểm hoa trắng bằng những mảnh tỏi đập dập, cay xộc mũi. Tiếp nữa là hai cái đĩa nhỏ, lòng đĩa to hơn miệng cái bát ăn cơm - đĩa trứng tráng và đĩa đậu rán. Thứ sang và lạ mắt nhất với tôi là bát ô tô có con chim bồ câu nằm ngập mình trong làn nước váng mỡ và được đặt trang trọng giữa mâm. Bồ câu thì tôi không lạ, chỉ lạ là dưới làn nước váng mỡ và đùng đục ấy, thấy những hạt tròn tròn trăng trắng. Sau này tôi được giải thích, ấy là món chim ninh hạt sen, thứ đó ăn vào đại bổ và dễ ngủ lắm!

Đếm ngắm các món, tôi nghĩ bụng, hoá ra cỗ Hà Nội cũng không sang và to tát gì, thậm chí còn kém cỗ giỗ hay cỗ Tết quê tôi. Chắc là bởi vì người Hà Nội ăn uống thanh cảnh, như lâu nay người nhà quê chúng tôi thường đàm luận.
    Anh em tôi khoanh chân ngồi theo sự sắp xếp ngầm của ông cậu. Tôi nhớ, quy trình từ động tác soạn đũa, chia bát, đến rót rượu và “rước nhau xơi” kéo dài chừng mươi phút. Đợi quá lâu tôi đành ngắm nghía con chim câu ninh trong cái bát ô tô sứ đẹp. Tự dưng lúc đó nước bọt trong miệng tôi cứ tứa ra. Vì ngắm nghía món chim ninh kỹ quá, cậu em họ lớn hơn tôi đã huých nhẹ một nhát vào mạng sườn tôi. Ấy là tín hiệu nhắc nhở, không được nhìn như vậy nữa, cả không được tứa nước bọt nữa!
    Dù dềnh dàng bao nhiêu, bữa cơm thết khách cũng đến lúc phải bắt đầu, người ta mời nhau đến đây ăn, có phải đến xem cơm đâu, tôi nghĩ bụng vậy. Người lớn thì nhắm rượu, còn chúng tôi “xơi cơm”, đấy là từ ngữ nói như ông bà chủ dùng, vì từ đầu bữa ông bà chủ toàn dùng từ: “Rước ông xơi!” và cậu tôi đáp lời ngay: “Ông cứ để em dùng tự nhiên...” Tuy gạo mậu dịch, thổi khô, không thơm như gạo quê, mà mùi hôi xộc lên, vậy mà chỉ cơm không - chúng tôi được học tập trước rồi, không tự nhiên múc gắp - tôi vẫn cảm thấy ngon, ngon thế. Mà có muốn ăn, muốn gắp, thì gắp thức gì đây? Món chim ninh tất nhiên là không được rồi; đĩa đậu rán cũng vậy, nó nhỏ xíu, xếp lát cỡ chục miếng...

- Ngon, bà chị nấu ngon quá!

Tiếng ông cậu tôi khen. Chẳng rõ cậu tôi khen món nào thế nhỉ. Không thể là rau sống và rau xào được. Cơm ở quê, ngày nào chúng tôi chẳng ăn rau muống, cả một rổ rau muống đầy tú hụ ấy.

Hay là ông khen món trứng tráng? Tôi được bà chủ gắp cho một miếng. Đĩa trứng trông thì vàng ngậy và dày cộp, nhưng bở bùng bục. Tôi lại nghĩ có lẽ do trứng gà ung, sau mới hay, người ta cho nhiều bột mỳ vào độn. Hay là món chim? Ông cậu đã dùng đâu, làm sao biết được nó ngon nghẻ thế nào. Sau những lời rước nhau xơi trịnh trọng, thời gian khoảng được nửa tuần rượu, ông chủ nhà hướng đôi đũa về phía bát chim ninh:

- Rước ông xơi! Kìa các cháu gắp ăn đi!

Ông chủ chưa kịp dứt câu, đã thấy tiếng ông cậu tôi đỡ lời:
     - Dạ vâng, ông cứ để em dùng tự nhiên!

Câu tiếp lời hơi to và rõ của ông cậu, tôi biết đấy là sự cảnh báo ngầm của ông, chúng mày đừng có mà sa đà, tưởng người ta mời là gắp đấy nhá! Vâng, thưa cậu chúng cháu nhớ chứ! Giấy rách phải giữ lấy lề! Tôi vừa thầm nghĩ vậy thì ông chủ ra đũa. Phải đến lúc này tôi mới thấy con chim được ninh nấu kỹ càng lắm. Ông chủ dùng đôi đũa đụng nhẹ một cái, thân hình con chim đã rời ra làm đôi. Ông dùng đũa gắp và cả cái muôi đỡ nửa con chim lên. Đồng loạt như ông cậu tôi, động tác của các em tôi là giật lùi, giật lùi cái bát của mình lại một chút. Theo lý trí, cái bát của tôi cũng được điều khiển lùi lùi lại.
    Quả thật, tuy lùi lùi cái bát, nhưng đầu óc tôi lại cầu mong: Bác ơi, bác gắp cho cháu nhá! Kìa, cháu ngồi sát bác cơ mà! Và suýt nữa thì thứ tình cảm thầm kín trong tôi buột ra thành lời và cả xui khiến đôi tay tôi làm cái việc đưa bát của mình vươn ra. Thật may sao, phần lý trí trong tôi đã thắng. Nửa con chim sẽ về cái bát của ai? Bởi ai cũng rụt bát cả lại cơ mà! Chắc nó đành trở về vị trí xuất phát ban đầu thôi!

Không, tôi thấy đôi đũa và cái muôi của ông chủ thu lại phía mình và rồi, nửa con chim rơi tọt vào cái bát của ông. Không khí bữa ăn hình như lặng đi, ngoại trừ đâu đó tiếng xương gãy, kêu rắc r...ắ...c!

Thời gian trôi đi dăm, ba phút, cả chủ lẫn khách chả thấy ai mời rước nhau xơi, nhau dùng gì nữa. Chắc mọi người - lũ nhỏ chúng tôi ăn cơm, thì thưởng thức cơm; còn ông chủ thì thưởng thức món chim ninh; mấy người lớn kia nhắm rượu, thì thưởng thức rượu. Lát sau tôi mới thấy lại tiếng ông chủ, trước đó ông rót tuần rượu thứ hai vào các chén, tất nhiên lần này không phải câu ông rước xách gì ai đâu, mà là đề tài mới, nội dung chuyện thăm thú Hà Nội của chúng tôi: “Thế các cháu đi được những đâu rồi?” “Ồ, phải ra hồ Gươm!” “À, ra rồi a!” “ Thế thì nên đưa tiếp các cháu ra Bách Thảo!” “Đền Quan Thánh đẹp lắm nhá! Nghe bảo bức tượng đồng đen nặng đến mấy tấn cơ. Tôi là người Hà Nội, mà đã đến được đâu.” “Thế nào, kem Hà Nội các cháu ăn có thấy ngon không?”

Sau những nội dung thăm hỏi và giới thiệu các điểm hấp dẫn cần tới thăm nom, tôi lại thấy ông chủ “Rước ông xơi” và điệp khúc của ông cậu tôi đáp lại “Ông cứ để em dùng tự nhiên!” Kìa, đôi đũa của ông chủ nhà đang hướng xuống bát chim ninh kìa. Lần này, đôi đũa ấy không dềnh dàng như trước, cũng không thấy ông nói câu “rước xách” nữa, chỉ thấy cái bát của ông đã đón đợi sẵn và nửa con chim còn lại rơi gọn vào bát của ông.

Tại sao bao nhiêu năm rồi tôi không quên bữa cơm khách đó và vẫn còn hình dung, con chim bồ câu ninh nhừ là, rất béo và ngậy nữa?



VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004