Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới

Đình Làng Phú Gia




Đi Lên Kẻ Bạc Thác Xù



  C a dao địa phương có câu:

Thuyền qua ghềnh Bạc thác Xù

Ai đi đến đó gửi thư về nhà


Là kể về một đoạn sông nước hiểm nguy ngày xưa ở phía dưới cầu Thăng Long bây giờ, kéo dài từ đầu làng Thượng Thụy (Kẻ Bạc) đến hết làng Phú Xá (thác Xù) nay thuộc phường Phú Thượng quận Tây Hồ Hà Nội. Ngày xưa các làng đều có tên nôm và tên chữ, ở Phú Thượng cũng vậy, làng Thượng Thụy có tên nôm là Kẻ Bạc, làng Phú Gia có tên nôm là Kẻ Gạ, làng Phú Xá có tên nôm là Kẻ Xù. Ba làng hợp nhất thành xã Phú Thượng trước kia thuộc Phú Gia phủ Hoài Đức tỉnh Hà Đông. Năm 1944 thuộc “Đại lý đặc biệt Hà Nội”. Năm 1956 gọi là Phú Thượng quận V ngoại thành Hà Nội. Năm 1961 lập huyện Từ Liêm thì xã Phú Thượng thuộc về huyện ấy, đến năm 1996 thành lập quận Tây Hồ, xã đổi thành phường Phú Thượng thuộc quận Tây Hồ thành phố Hà Nội.

Làng Thượng Thụy (Kẻ Bạc) là xứ công giáo có địa thế phía bắc giáp sông Hồng, phía nam là cánh đồng làng, phía đông giáp Phú Gia còn phía tây giáp làng Nhật Tảo. Làng có 4 xóm gồm xóm Bãi, xóm Ngoài, xóm Trên, xóm Dưới. Cũng do địa thế ở dưới đường đê sông Hồng nên các ngõ còn có các dốc. Dân cư hiện nay có họ Hoàng (3 họ), họ Nguyễn (6 họ), họ Trần (3 họ), họ Đỗ (1 họ) và họ Đặng (2 họ). Người ta nói đến Kẻ Bạc là nói đến một vùng công giáo đã được nâng lên thành Giáo xứ có ảnh hưởng đến chung quanh. Theo cụ Đặng Ngọc Nhiên ở tổ 9 phường Phú Thượng, một giáo dân gốc kể rằng: Thượng Thụy tức là Kẻ Bạc chúng tôI có đạo rất sớm và đã trảI qua nhiều thăng trầm.

* Thời kỳ 1722 - 1835:

Vào khoảng năm 1722 đời vua Lê Dụ Tông làng Bạc đã theo đạo công giáo toàn tòng, hơn 100 năm sau đến đời vua Minh Mệnh nhà Nguyễn vào năm 1832 nhà vua ban chỉ dụ cấm đạo rất ngặt nghèo nên năm 1833 vùng Kẻ Bạc đã bỏ đạo, dỡ bỏ nhà thờ, chỉ còn vài người lén lút theo đạo mà thôi.

* Thời kỳ 1862 - 1879:

Vua Tự Đức nối ngôi vua Thiệu Trị, dưới áp lực của phương Tây (Pháp và Tây Ban Nha) năm 1862 nhà vua có chỉ dụ “tha đạo”, cả làng Thượng Thụy lại “cải lương hoàn giáo”. Từ đó ở Thượng Thụy (Kẻ Bạc) xây tháp chuông (1891), xây nhà thờ (1902) Nhà thờ Kẻ Bạc theo hình mẫu Việt Nam không theo kiểu Gôtich phương Tây, tên đấng bổn mạng là Đức Mẹ Vụ nhiễm Nguyên tội. Từ năm 1902 Kẻ Bạc được nâng lên hàng chính xứ.

Cụ Đặng Ngọc Nhiên giải thích với tôi về tên thánh của các nhà thờ, cụ nói: Bên lương các ông mỗi làng đều có một ngôi đình, tại ngôi đình đó có các vị Thành Hoàng bản thổ được thờ, dân thờ các vị Thành Hoàng để cầu mong các Ngài phù hộ cho dân làm ăn trong năm được mưa thuận gió hòa thì ở bên giáo chúng tôi cũng vậy, mỗi nhà thờ đều có một vị Thánh Quan thầy hay còn gọi là Đấng Bổn Mạng, đó cũng là các vị Thánh phù hộ cho chúng tôi. Mỗi đình bên lương có một vị Thành Hoàng có tên riêng biệt thì ở bên giáo chúng tôi mỗi nhà thờ đều có một vị Thánh Quan thầy riêng biệt, ngay như ở xứ Thượng Thụy đây, tuy nhà thờ xứ có Đấng Bổn Mạng là Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội nhưng tại các nhà thờ họ Phú Gia và Phú Thọ đều có tên Thánh các vị khác. Cụ nói chuyện với tôi đến đấy thì có tiếng chuông nhà thờ vang vọng, cụ xin phép dừng câu chuyện vào trong nhà làm lễ. Tôi cũng xin theo cụ vào trong nhà lặng lẽ quan sát. Thật lạ! Ban thờ của gia đình nhà cụ Nhiên là một bộ hương án sơn son thếp vàng, có câu đối, có ngai thờ bài vị tổ tiên chỉ thấy trên cao hơn cả là Thánh Giá thờ Chúa. Cụ Nhiên làm lễ xong, cùng tôi ra ngoài nhà khách ngồi nói chuyện tiếp, tôi mang những điều trông thấy hỏi cụ, cụ trả lời: Đó là một câu chuyện lịch sử ông ạ, trước đây Giáo hội Việt Nam phụ thuộc vào Hội truyền giáo Ba Lê, mà Hội này thì luôn luôn có xu hướng tách con chiên ra khỏi cái gốc dân tộc, nhưng các dân tộc ở phương Đông đều coi trọng cái gốc tổ tiên - gia đình cho nên sức mạnh của dân tộc lớn hơn giáo lý, việc truyền đạo vì thế kém đi. Từ năm 1960, Giáo Hội Việt Nam đã là một Tổng Tòa độc lập không phụ thuộc Hội truyền giáo Ba Lê nữa, năm 1980 Hội đồng Giám mục Việt Nam ra đời, cho phép con chiên “sống phúc âm trong lòng dân tộc”, các gia đình vẫn sống theo phong tục địa phương, có ban thờ tổ tiên nhưng cao hơn hết phải là ban thờ Chúa.

Trở lại câu chuyện các nhà thờ, cụ dẫn tôi ra nhà thờ Thượng Thụy chỉ dẫn về nhà thờ và trường học. Nhà thờ xứ đạo Thượng Thụy tôn thờ Đức Mẹ nên có tên Thánh là “Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội”, nhà thờ này hoàn toàn giống một kiểu kiến trúc Việt Nam đó là một căn nhà dài 8 gian. Tại đầu của nhà thờ có 5 ngọn tháp có thánh giá, Giáo dân theo 3 cửa dưới vòm tháp đi vào trong nhà thờ những cửa này khác với cửa vòm Việt Nam, đó là có nét gụ tich, cửa vòm cong thắt ở phía trên, sân nhà rộng lát gạch. Bên trái nhà thờ có một bệ đá cao 1,2m trên đặt tượng Đức Mẹ bằng đá trắng, Người đứng âu yếm bế Chúa Hài Đồng, dưới chân tượng là những cành hoa tươi của giáo dân kính dâng khi đến nhà thờ Chỳa làm lễ.

Cụ Ngọc Nhiên kể tiếp: Nhà thờ xứ Thượng Thụy có hai họ đạo đó là nhà thờ họ Phú Gia và nhà thờ họ Phú Thọ (chính ra nhà thờ này đặt tại Kẻ Xù Phú Xá, nhưng tại đây có bộ phận dân từ Thọ Xuân, Thanh Hóa đến định cư từ thế kỷ XVIII, khi những người Thọ Xuân ở đây mộ đạo Thiên Chúa họ lập nhà thờ, lấy tên ghép Phú Thọ ( Phỳ Xỏ + Thọ Xuân thành hai chữ Phú Thọ) tên thánh của mỗi nhà thờ tại đây có khác nhau. Nhà thờ họ Phú Gia có tên Thánh là “Đức Mẹ Là Mẹ Thiên Chúa”, còn tên Thánh của Nhà thờ Phú Thọ là “Thánh Giu Se Của Người Lao Động”. Như vậy xem xét các tên Thánh trong một xứ đạo qua các nhà thờ họ, ta thấy không có tính bao trùm, tuy nhiên về tổ chức quản lý nhà thờ thì na ná giống nhau, tại mỗi xứ đạo, giáo xứ có linh mục (cha xứ) trụ trì trông coi toàn diện, dưới linh mục có các ông chánh trương, phó trương, thư ký, thủ quỹ và các ông trùm các ông này hợp thành Hội Đồng Giáo Xứ, dưới các Họ Đạo có các ông bà quản giáo, trong giáo xứ có các hội đoàn gồm:

Hội Hậu binh Bao gồm các ông bà già

Hội Thánh An Na Bao gồm các bà già

Hội Trung binh Bao gồm nam nữ thanh niên

Hội nghĩa binh Tuyển chọn trong nam nữ thanh niên, thiếu niên.

Hội ca đoàn Phục vụ văn nghệ trong lễ hội của Nhà thờ

Mỗi hội lại có một ông, bà quản hội quản lý.

Tại sân nhà thờ có một ngôi trường học cấp tiểu học chỉ có 4 buồng, xây dựng từ năm 1941 có tên là “ÉCOLE ST JEAN BAPTISTE DE THượng thụy” cụ Nhiên giải thích: Ngôi trường này do một giáo dân có tên Thánh là St J. Baptiste góp công của xây dung, cho nên khi hoàn thành được phép mang tên Thánh của ông ta trước tên địa phương. Khi thành lập xứ đạo thì việc đầu tiên là xây trường học để dạy con em trong các giáo dân, sau đó là việc truyền đạo. Các trẻ em đến trường học chương trình sơ học yếu lược theo lớp, mỗi lớp có thầy giáo được phái từ Đại chủng viện tới, các chủng sinh học ở Đại chủng viện đều phảI đi thực tập dạy học hàng năm sau đó sau đó mới về chủng viện tiếp tục học triết, học mục vụ rồi mới đi thực tập phó tế, sau đó thi lên linh mục. Theo cụ Nguyễn Văn Thành chủ tịch Hội Người Cao tuổi ở địa phương kể tiếp thì học sinh ở Thượng Thụy trước đây học chữ quốc ngữ, từ ngày nhà thờ thuê cụ đồ Hữu đến dịch chữ Hán cho nhà thờ, có tổ chức thêm chương trình dạy chữ Hán. Ngày xưa ở làng Thượng Thụy dân nghèo lắm, cả làng có 647 người (tổng điều tra dân số năm 1927) nên việc đi học của các em rất khó khăn, việc ốm đau cũng không có hệ thống lương y lo việc. Sau này dân trí ngày càng hiểu rõ việc vệ sinh, việc học tập của con em trong làng xưa có cụ Chánh Thư, cụ Hộ Tạc, cụ Trần Văn Lạc là những cụ lang có uy tín.

Bây giờ làng Thượng Thụy đã là một làng đẹp, nhiều nhà xây cao, đường ngõ đều đã láng xi măng kiên cố. Tôi đến Thượng Thụy vào ngày chủ nhật nghe tiếng linh mục đang giảng đạo trong nhà thờ hàng xứ nên giáo dân đến đông. Trên đường làng, nhiều người tôi gập ai cũng ăn mặc đẹp, bên lương bên giáo sống vui vẻ đầm ấm bên nhau.


Phú Gia ( Kẻ Gạ)


Làng Phú Gia đã có nhiều lần đổi tên: Ban đầu tên làng là Già La, chữ Hán viết là Già La Hương sau đổi tên là An Dưỡng phường. Đến đời Trần vì có công trong việc sửa chữa bến Đông Bộ Đầu nhà vua cho đổi tên là Phú Gia, Phú Gia là một thôn làng lớn nhất trong ba thôn lập thành xã Phú Thượng

Đọc sách “Tên làng và địa lý hành chính Bắc Kỳ” của Ngô Vi Liễn viết năm 1928 thì làng Phú Gia lúc đó có 2527 người.

Hiện nay Phú Gia có địa lý như sau: Phía Bắc giáp sông Hồng, phía Nam giáp Xuân La, phia Đông giáp Phú Xá, phía Tây giáp Thượng Thụy (Kẻ Bạc)

Tiền cổ có 18 xóm, sau năm 1945 đổi còn 7 xóm và 23 ngõ đó là: Xóm 1 có 2 ngõ, xóm 2 có 4 ngõ, xóm 3 có 3 ngõ, xóm 4 có 4 ngõ, xóm 5 có 2 ngõ, xóm 6 có 5 ngõ, xóm 7 có 3 ngõ.

Các dòng họ trong thôn đến bây giờ có:

Họ Ông (Năm 1475 tại khoa thi ất Mùi năm thứ 6 đời Hồng Đức có một người trong họ là Ông Nghĩa Đạt thi đỗ Tiến sĩ cập Đệ nhất giáp ( Trạng nguyên), đến đời vua Tự Đức nhà vua bắt đổi họ Ông thành họ Công. Đến nay họ Công có các phân chi Công Nghĩa, Công Xuân và Công Văn).

Họ Bố: Đời Tự Đức bắt đổi thành họ Hy.

Họ Phùng, Đặng, Phan, Phạm, Chu, Hồ và Nguyễn gồm 9 phân chi.

Trong làng Phú Gia cũng có một nhà thờ họ đạo, tên vị thánh bổn mạng là: Đức Mẹ Là Mẹ Thiên Chúa. Vị trí nhà thờ có tại xóm 7 cũ (cụm 2), lễ quan thầy là ngày 8 tháng 9 đó là ngày Lễ Thánh Đức Bà Trinh Nữ Maria. Cũng như giáo dân bên xứ đạo Thượng Thụy, giáo dân ở Phú Gia có bàn thờ tổ tiên, phía trên cao hơn cả là ban thờ Chúa, sáng sáng họ cầu nguyện tại nhà riêng trước ban thờ Chúa và tổ tiên dòng họ. .

Phú Gia có nhiều di tích lịch sử nhưng quan trọng hơn cả là chùa Bà Già, ngày xưa có câu ca “Thứ nhất Bà Đá, thứ nhì Bà Đanh, thứ ba Bà Già” là kể về ba ngôi chùa mang tâm đức các bà lão mộ Phật đã làm nên.

Về ngôI chùa Bà Già, có một câu chuyện còn lưu truyền tại địa phương kể rằng: ở địa phương vốn có một câu chùa, gọi là chùa An Dưỡng phường nhưng lâu ngày chùa bị hư hại xuống cấp, có hai bà già từ nơi xa đến thấy vậy đã phát tâm mộ Phật bỏ tiền của riêng ra tu sửa và mở rộng thêm nơi cảnh Phật, tạo thêm tượng Phật, dựng lại gác chuông và đúc chuông. Sau khi hoàn thành, nhân dân trong thôn gọi là chùa Bà Già để ghi nhớ công quả của hai người đàn bà vô danh nhưng mộ đạo đã hưng công xây dựng nên chùa Bà Già. Hiện vật còn tại chùa là quả chuông đúc năm Chính Hòa thứ 16 (1665) cho thấy chùa Bà Già được xây dựng trước năm 1636, chứng cớ có thể đọc tại tấm bia “Bà Già tự tâ n tạo bi ký” với những câu minh:

“Thời mở vận tốt - Hòa khí khắp nơi - Bầu trời nước Việt - Làng Phú Gia ta - Tổ tiên bồi đắp - Nên chùa Bà Già - Bên trái sông lớn - Bên phải Cổ Loa - Trước là thành Phượng - Sau sông Nhĩ Hà - Đất thiêng chung đúc - Con người hiền hòa - Văn nổi cửa rồng - Võ nêu bảng hổ - Sỹ nông công cổ - Phú quý vinh hoa - Ham mê điều thiện - Tích đức làm nhà - Bố thí gần xa - Chùa chiền tu sửa - Cúng ruộng hương hỏa - Nền nhân bồi đắp - Phúc lộc hà sa - Con cháu vinh hiển - Tước lộc tăng gia -Công cao đức lớn - Mãi mãi không nhòa”.

Lập bia ngày lành thỏng tốt năm Dương Hũa thứ Hai


Theo sách “Làng xã ngoại thành Hà Nội ” của Bùi Thiết thì “Phú Gia tên nôm là Kẻ Gạ, theo thần tích làng Hải Bối đối ngạn với Phú Gia thì Phú Gia được thành lập từ thời nhà Mạc, do ông Phan Hữu Ngạn có công chiêu tập dân đến ở nơi này, ông Phan Hữu Ngạn chết ở Hải Bối nhưng lại có đền thờ tại đất Phú Gia với danh hiệu Khai nguyên Dịch giáo vương”.

Theo ông Công Quốc Hoàn, nguyên Phó Tổng biên tập báo Hà Nội Mới thì ngày xưa trên đất Phú Gia có nhiều chuyện về các ông lang, ông đồ nhưng chưa có dịp để kể cho tôi được biết. Nên về mục này xin cứ để một chỗ hẹn chờ vậy.


Phú Xá (Kẻ Xù)


Phú Xá là làng cuối trong hệ thống các làng thuộc phường Phú Thượng hiện nay có địa thế: Phía Bắc giáp sông Hồng, phía Nam giáp khu đô thị Nam Thăng Long, phía Đông giáp xã Nhật Tân, phía Tây giáp thôn Phú Gia

Phú Xá có 5 xóm:

Xóm 1 (xưa là xóm Đình) Xóm 2(xưa là xóm chùa)

Xóm 3 (xưa là xóm Mới) Xóm 4(xưa là xóm Nhà T)

Xóm 5 (xưa là xóm Hồng Phúc)

Lại có 6 ngõ tương ứng với với 5 xóm là các ngõ Đình, ngõ Chùa, ngõ Xóm Mới, ngõ Nhà Thờ và ngõ Dĩ.

Các họ dân cư sống trong thôn là: Họ Mai nay còn nhà thờ tổ, họ Nguyễn (có 4 phân chi), họ Phạm, họ Hoa, họ Vũ, họ Lê, họ Hoàng.

Ông Nguyễn Quốc Thiện chủ tịch UBMTTQ phường Phú Thượng là người đã thu nhập các tư liệu viết thành cuốn “Làng Phú Xá” Ông Thiện kể rằng: “khi đi sứ Trung Quốc trở về ông Nguyễn Kiều nhận được lệnh vào Nghệ An để trấn thủ. Ông đưa vợ là bà Đoàn thị Điểm cùng đi, hai vợ chồng đang trên đường tới nhiệm sở thì bà Đoàn Thị Điểm - bị cảm và từ trần, ông phải quay thuyền đưa bà về Thăng Long làm lễ, an táng bà trên đất Phú Xá.

Năm 49 tuổi cụ xin nhà vua cái kho (bằng gỗ tốt nhưng cắt sai quy cách) về cho làng Phú Xá làm đình. Đến năm cụ 50 tuổi thì đình làm xong, làng làm lễ khánh thành năm cụ 53 tuổi bị bệnh nặng qua đời. Theo truyền thuyết mà các cụ già kể lại rằng khi cụ Nguyễn Kiều hấp hối các cụ trong làng xin tôn cụ làm Đương cảnh thần hoàng - phúc thần của làng vì các công lớn: Là vị tiễn sĩ khai khoa của làng, là vị quan đương triều có nhiều tình nghĩa với xóm làng, đã xin gỗ về cho làng xây nên ngôi đình nhưng cụ không nhận mà nói rằng: “Nếu làng tìm người thờ làm Thành Hoàng để bảo vệ cho dân xin thờ hai vị môn sinh của tôi đã chết trong khi cứu người trên sóng dữ năm trước. Tôi tuy là tiến sỹ, có công xây đình, có công xây dựng làng xã nhưng so với hai vị ấy chưa xứng đáng”. Cho nên làng Phú Xá thờ hai vị thành hoàng theo lời cụ Nguyễn Kiều, còn cụ Nguyễn Kiều chỉ phụ thờ vào gian bên trái của đình.

Nhân ngày lễ của làng, tôi đã lên dự lễ và biết được như sau: Trước đây đình làng Phú Xá được xây nên từ năm 1721 địa điểm tại xóm (xưa gọi là Giáp Tây), ngôi đình lập trên đất thế quý, lưng dựa vào bờ đê sông Hồng, mặt tiền của đình hướng về phía Tây Nam, có một cái ao rộng 8 sào, hai bên tả hữu có Thanh Long Bạch Hổ đứng chầu vào. Ngôi đình này tồn tại từ năm 1721 đến năm 1957 thì bị dỡ đi di chuyển đồ thờ vào trong chùa Phúc Hoa. Người làng cải tạo ngôi nhà thờ tổ thành đình làng, trong thành bố trí các ban thờ như sau:

Gian giữa thờ hai vị đương cảnh Thành Hoàng và thủy thần Hà Bá (có việc lập ngai thờ Hà Bá vì rằng xóm Chài bị máy bay Mỹ ném bom trong chiến tranh, thuyền đình thờ Hà Bá bị vỡ, nên làng đưa ngai thờ cùng bài vị vào thờ tại đình làng).

Gian bên trái thờ cụ Nguyễn Kiều.

Gian bên phải thờ thượng đức Thánh Tăng.

Tư liệu Hán Nôm của làng về thần tích không còn, tôi hỏi các vị trong ban di tích Phú Xá được cụ từ đình Phùng Văn Mai kể rằng: Năm xưa, cụ tế chủ Nguyễn Gia Tý trước khi tạ thế chỉ chối lại “có một năm nước sông Hồng lên to, lũ lớn làm tổn hại đến dân làng, có hai người môn sinh của cụ Nguyễn Kiều đã tham gia cùng dân làng chống lũ cứu dân, dân thì cứu được nhưng cả hai môn sinh đều đã bị nước cuốn trôi”. Dân làng Phú Xá thương tiếc lập miếu thờ hai người ở bên sông, đến khi cụ Nguyến Kiều ốm nặng làng có ý muốn cụ làm Thành Hoàng nhưng cụ gạt đi và nói “người đáng thờ làm Thành Hoàng làng là hai vị nghĩa sỹ đã có đức cứu dân độ thế” từ đó làng theo di chúc của cụ Nguyễn Kiều tôn thờ hai vị nghĩa sỹ là Đương cảnh Thành Hoàng, còn ban thờ cụ Nguyễn Kiều đặt vào gian bên tay trái.

Trong tờ trình của các vị hào lý làng Phú Xá lập năm 1939 theo lệnh Đốc lý Hà Nội về việc “khai thần tích mà làng đang thờ” hiện còn lưu lại tại Viện Thông tin Khoa học - Xã hội đã khai về sự tích hai vị thần rằng: “Thờ các vị bằng ngai, mũ - không biết ngày sinh ngày hóa của các cụ là ngày nào, các Ngài không có tên - Làng có hai cỗ kiệu gọi là Kiệu Anh, Kiệu Em, khi làm lễ dân làng vẫn khấn lạy là Nhị vị Đại Vương rồi mới đến cụ Nguyễn Kiều”.

Với các tư liệu chính xác của quê hương, tác giả Nguyễn Quốc Thiện đã phê phán tác giả sách Hội làng Hà Nội đã viết sai rằng: “Nguyễn Kiều là Thành Hoàng của làng Phú Xá”(Xem trang 1077 sđđ).

Tìm hiểu về làng nghề được biết làng Xù có nghề làm thuyền nan phục vụ nhu cầu đi lại ven sông Hồng, thuyền được đan bằng tre, cật trát sơn ta trộn củ nâu phân bò theo kỹ thuật riêng của người làm thuyền Phú Xá.

Tại làng Phú Xá có hai lễ hội to đó là ngày hội làng 9-10 tháng Hai âm lịch và ngày hội dân gian của thanh thiếu niên “rước Thánh Tăng” nhân tết trung thu. Người làng kể rằng: “ Không biết từ bao giờ có một năm trên dòng lũ sông Hồng xuất hiện một pho tượng Thánh Tăng mang hình hài một cậu bé mặc áo bào ngự, trong tư thế ngồi trên ngai nên khi rước lên bờ không làm sao để tượng ngồi trên ngai khác mà đành để tượng nằm ngồi tùy ý chỏng trơ trên gác miếu ven đê. Nhưng đến ngày vui trung thu thì không những thanh niên làng Phú Xá mà có cả thanh niên các làng khác cùng vui rước Thánh Tăng, họ lấy một cái bàn gỗ để tượng lên, rồi hừng hực vừa rước vừa hò reo, có một điều lạ là trong ngày vui này thanh niên nam nữ có thể nói bậy, thậm chí xô đẩy chạm sát vào nhau mà không hề bị rơi tượng, không hề bị làng phạt, cũng như Thánh phạt. Đám rước Thánh Tăng cứ thế hò reo u oa ngoài cánh đồng, trong ánh sáng của đêm trung thu không đèn không đuốc, họ hát bất cứ câu gì hay xô đẩy đấm, dúi nhau vui vẻ lắm, không ai giận ai. Chơi đùa như vậy cho đến khi trăng lặn thì mang tượng trả về chỗ cũ, chờ vui đêm sau”:

Đức Thánh Tăng! Đức Thánh Tăng!!!

Đứa nào không nhung nha nhung nhăng

Đức Thánh Tăng bóp vú mẹ nó!

Đùa vui chớt nhả như vậy cho đến hết ngày 16 tháng 8 đã qua Tết Trung Thu khiêng tượng trả về nơi cũ, thanh niên trong làng lại nem nép nói năng không dám đùa pha tục tĩu e sợ Thánh Tăng trách phạt, sợ phạm lệ làng.

Phải chăng “rước Đức Thánh Tăng” là một “dị bản” của những kiểu hội hè tại các làng cổ của Việt Nam như hội Giã La ở Hà Đông cũ, hội rước nõ nường ở Thanh Sơn Phú Thọ với câu hát:

Ba mươi sáu cái nõ - nường

Cái để đầu giường cái gối đầu tay

Câu chuyện rước Thánh Tăng đến nay trong hoàn cảnh kinh tế xã hội đổi mới nên cũng nhạt dần, nhưng cụ thủ từ đình Phú Xá vẫn có điều băn khoăn tìm cho được chính cái ngai thờ mà năm xưa Ngàu đã ngự để đặt tượng thờ cho nghiêm chỉnh. Nhưng tìm ở đâu bây giờ???

Vào thế kỷ XVII, hay XVIII tại đất Phú Xá có một số người dân Thọ Xuân ở Thanh Hóa đến lập nghiệp, khi có đạo Thiên Chúa thì nhóm người này có người theo đạo và lập nên một họ đạo thuộc xứ đạo Thượng Thụy gọi là họ đạo Phú Thọ (Phú Xá và Thọ Xuân). Họ có một nhà thờ tại xóm 4 hiện nay mang tên Thánh bổn mạng là “Thánh Giu Se của người lao động” hay còn gọi là “Thánh Giu Se 1 tháng 5”.

Ông Đặng Ngọc Nhiên ở Thượng Thụy giải thích rằng nếu chỉ trông tên Thánh tại Nhà thờ mà nói rằng dân Phú Xá theo đạo Giu Se là sai vì đạo Thiên chúa chỉ có một vị Chúa là Chúa GiêSu mà thôi.



. . Cập nhật theo nguyên bản của tác giả từ HàNội ngày 11.01.2018.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004