Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới







GIÓ LẠNH CUỐI ĐÔNG





H oan nắm chéo chăn giật thật mạnh:

-Dậy, dậy, bà già!... Trưa trờ trưa trật rồi, định ngủ đến khi nào?

Đang ngủ mệt, bà cụ giật mình mở mắt, ngóc đầu ngơ ngác nhìn, như chưa kịp hiểu chuyện gì.

-Già còn mê ăn mê ngủ như trẻ con! Lười biếng quen thân!

Hoan hậm hực, làu bàu. Đúng giọng lưỡi của cha mắng con hoặc ông mắng cháu. Nhưng chắc chắn bà cụ không thể là con cháu Hoan rồi. Thế thì đích thị hắn đang bực bõ vì nết ham ăn nhác làm của một đầy tớ, một vú già, hoặc một kẻ thụ ơn hắn và đang sống “tầm gửi” vào hắn đây!

Thử ngắm qua “kẻ tầm gửi” một tí nào: da mặt nhăn nheo, khô mốc nên thật khó đoán ra số tuổi, chỉ biết đó là một người già. Già và rất yếu nữa, chẳng yếu mà lại xanh lét, gầy nhẳng thế kia? Bà đang run lập cập, không hiểu vì trời lạnh hay vì bị “ông chủ” bắt quả tang đã “trưa trờ trưa trật” mà vẫn say sưa ngủ?

Bây giờ là cuối năm, gần đến Tết rồi, trời bỗng trở rét khác thường. Miền nhiệt đới vẫn quanh năm gay gắt ánh mặt trời đột nhiên mấy ngày nay họa hoằn mới thấy chút màu nắng nhàn nhạt. Nắng thiếu nên thừa hoàng hôn. Có ngày trời chỉ se se lạnh, lại có ngày bội dư giá rét như sáng nay, khiến người ta phải co ro, phải hít hà, phải bật ngâm nga câu thơ cảm thán của thi sĩ Nguyễn Bính “Cả đến ông Trời cũng đổi thay…”, rồi xuýt xoa đầy thích thú đón cái lạnh hiếm hoi bằng áo ấm khăn choàng với đủ màu sắc, kiểu dáng.

Hoan lại quát:

-Có nhanh lên không? Hôm nay rằm, khách viếng chùa đông. Còn ỳ ra nhìn gì?

Bà cụ lẳng lặng tuột khỏi tấm ván mỏng kê trên mấy cục gạch ống, lê từng bước ngắn đi tìm nước rửa mặt. Biết Hoan đang bực bội, bà cũng chẳng thể nhanh hơn. Cả đêm qua bà có ngủ được đâu, lăn qua trở lại mãi nên giờ người mệt mỏi rã rời, chẳng muốn động tay nhấc chân. Mỗi khi trời lạnh là bà bị chứng đau nhức hành hạ, từng đốt xương thớ thịt buốt như dao đâm kim chích.

Bà cụ nhìn ra bên ngoài thấy vẫn mờ mờ tối, còn sớm lắm, đâu đã “trưa trờ trưa trật” như Hoan nói? Gần xa im vắng chân người. Rét thế này, chẳng ai muốn rời bỏ chăn ấm gối êm mà mở cửa đi đâu.

Hoan lôi “đồ nghề” ra, thoăn thoắt thao tác đã quá nhàm chán mỗi sáng: đống vỏ tôm bốc mùi hôi thối đến lợm giọng, cuộn băng vải bẩn thỉu, chai nước đỏ tươi màu máu… Vốn liếng thế thôi mà mỗi ngày đem về cho hắn thu nhập bạc triệu. Còn mồng một hay rằm như hôm nay, tăng gấp mấy lần là bình thường. Nên hắn tận dụng từng phút, phải đi sớm vừa giữ được chỗ ngồi tốt, vừa không phí phạm bỏ sót một người nào. Hắn chẳng bao giờ chê vài đồng tiền lẻ, có “tích tiểu” mới “thành đại”, gom về con số chẳng hề khiêm tốn. Hoan lẩm bẩm một mình như thế. Hắn siết dải băng vải chặt quá làm bà cụ nhăn nhó kêu lên:

-Đau quá!… Quấn lỏng tay một chút đi…

Hoan lại trừng mắt:

-Bà im đi, đừng có lải nhải! Quấn lỏng tay để đống vỏ tôm xổ ra cho mọi người nhìn thấy hả?

Mỗi lần Hoan nổi giận là bà cụ lại sợ sệt cụp mắt xuống, không dám cả thở mạnh. Nhưng chân bị bó chặt quá đau chịu không nổi, bà đánh liều nài nỉ trong tiếng mũi sụt sịt:

-Đau quá… Mẹ xin con…

Mẹ? Con?…” Ô kìa, bà cụ không phải đầy tớ, không phải vú em, cũng không phải kẻ ăn bám mà là mẹ Hoan đấy ư? Hay đau quá nên bà lú lẫn, mê hoảng rồi? A ha, thế thì bảo đảm bà sắp được dạy dỗ cho vài cái tát lệch mặt để chừa tội “phạm thượng”! Nhưng phúc đức chưa? Có phải vì hôm nay là ngày rằm cần phát lòng từ bi nên Hoan không tát cái nào, như ai đó vừa tưởng tượng chăng? Hắn chỉ lườm lườm mắt, hạ gọn một câu:

-Đi!

Tình hình này, xem ra chính là mẹ con thật rồi!

Hoan lấy xe chở bà cụ đi… Đi đâu thì đừng ai sốt ruột rồi vội vã đoán mò mà… hố.

Ngoài đường rét căm căm, gió đang rít từng cơn. Dù mặc cái áo lạnh to sù, Hoan vẫn rùng mình xuýt xoa, thỉnh thoảng lại xòe bàn tay trước mặt mà thổi phù phù.

Trên người bà cụ chỉ có manh áo vải, nhiều chỗ rách te tua được bàn tay vụng về nào vá từng miếng rúm ró. Bà run bần bật, môi thâm tím, mười đầu ngón tay buôn buốt như bị chích kim. Bà chợt thèm ghê gớm một ly nước nóng, nóng đến bỏng lưỡi càng tốt. Mùi thơm đặc trưng từ một hiệu phở bay ra quyến rũ nhưng nước bọt bà như cũng đã khô sít lại, chẳng còn đâu mà ứa ra được nữa. Lâu lắm rồi, lâu đến không nhớ nổi, bà chẳng còn dịp nào thưởng thức món ăn đã lừng danh toàn cầu ấy.

Hoan cho bà cụ xuống một góc đường. Thì ra bà đi chùa lễ Phật ngày rằm. Nhưng sao hắn lại thả xa xa thế này, để bà tốn công khập khiễng lò dò mãi mới lết vào đến cổng chùa?

Lúc này chùa còn vắng Phật tử, lác đác chỉ độ hơn chục người thôi, tương đương hàng ngũ những người ăn mày đang kề vai sát cánh trấn giữ hai bên cổng chùa, quyết không để lọt bất cứ khách thập phương nào, kiểu “túm lầm còn hơn bỏ sót”.

Bà cụ nhập vào “đội quân Cái Bang” ấy. Bà ngồi xuống, đặt ngửa chiếc nón lá rách bươm trên đất, rồi duỗi dài cái chân tật nguyền ra trước như thể vừa muốn khiêu khích vừa để dọa dẫm bá tánh thập phương. Lũ ruồi từ bốn phương tám hướng lập tức vo vo táp lại, bu lấy chỗ chân sưng vù, máu tươi thấm cả ra ngoài lớp băng, bốc lên một mùi còn kinh hơn… chuột chết.

Bà cụ chẳng cần nhăn nhó hay sướt mướt kể lể thì nhìn đủ thê thảm lắm rồi, nên hầu như ai ai qua cổng cũng mau chóng thả xuống nón tờ giấy bạc, khiến “đồng nghiệp” của bà trơ mắt ngồi quanh không giấu được ít nhiều ganh tị.

Đội “Cái Bang” này góp đủ mặt trẻ, già, nam, nữ và trưng bày ra đủ loại tật bệnh. Già nhất chính là bà cụ, nhỏ nhất là thằng bé dăm tháng tuổi đang ngủ mê mệt trong lòng mẹ. Nó không mặc gì, trên ngực chỉ được đắp cho cái khăn rất cũ, rất bẩn, khoe trọn phần mông đùi lồ lộ nhiều vết thâm tím, khó phân biệt do trời rét hay do bị đòn? Do rét thì hợp lý hơn, chứ làm gì có kẻ nào thú tính đến nỗi hành xử dã man với đứa bé dăm tháng tuổi như thế?

Bá tánh chứng kiến cảnh thương tâm ấy, sẽ vừa khóc sụt sùi vừa cho tiền hậu hĩ hơn chăng? Ồ không! Họ chỉ thì thầm nhắc nhau: Bọn chuyên thuê trẻ em bế đi ăn mày đấy, chẳng phải mẹ con thật đâu. Phải, nghe cũng hợp lý! Vì làm gì có mẹ nào tham vài đồng tiền lẻ mà phơi truồng con mình dưới trời rét thế kia?

Mỗi lần nhìn thằng bé ấy là bà cụ bất nhẫn, xót thương mà không mở miệng được. Thì chính bà cũng đang lừa mọi người bằng ống chân thương tích giả tạo đấy thôi.

Bà nhớ lại chuyện xưa: khi xin con nuôi về, nó cũng chỉ dăm tháng tuổi như đứa bé kia, cũng oặt oẹo, gầy còm, từng mẩu xương vêu vao nhô lên trên làn da xanh mét. Nó là con một người mẹ đơn thân và quá nghèo, vì quá nghèo không nuôi con nổi phải rứt ruột cho đi.

Ngày ấy, thấy hai cháu lấy nhau ngoài chục năm vẫn không chửa đẻ, một người cô góp ý nên xin con nuôi, biết đâu gặp phúc phận lại sinh được bình thường. Người cô quả quyết rằng đã có nhiều trường hợp như thế rồi. Hai ông bà không tin lắm chuyện “phúc phận”, nhưng ý tưởng xin con nuôi cũng… hay. Trong nhà có tiếng trẻ bi bô sẽ ấm áp, gắn kết hơn nhiều.

Thế nhưng “lắm thầy nhiều ma”, cũng không ít người ngăn cản. Họ đưa ra vài dẫn chứng thuyết phục ở đâu đó, để bảo: “Con nuôi bạc lắm, phản phúc lắm” khiến hai ông bà đắn đo chần chừ khá lâu mới quyết định. Rồi ông chặc lưỡi biện giải:

-Phản hay không do mình. Mình hết lòng thương yêu nó thì sao nó bạc bẽo được?

Ông bà có “hết lòng” không? Chắc chắn là có, chẳng ai nghi ngờ điều đó. Thằng bé yếu quá nên rất dễ bệnh mà đã bệnh thì nhanh trở nặng, tháng nào cũng nằm nhà thương ít là một tuần. Mẹ nuôi vất vả biết bao, tận tụy và nâng niu, lắm phen “đổ mồ hôi, sôi nước mắt” vì nó. Người lạ đố biết là con nuôi.

Đến giờ, mỗi khi nhớ lại những năm tháng ấy, bà cụ vẫn tuôn rơi dòng lệ tủi. Mà chớ để Hoan nhìn thấy, kẻo hắn sẽ đập bàn ầm ầm, giận dữ quát tháo bà: “Khóc lóc như nhà có… đám ma”, muốn “trù ẻo” hắn xui xẻo, không ngóc đầu lên được à?

Hoan muốn ngóc đầu lên tới đâu? Suốt ngày, hắn nhong nhỏng ăn chơi bằng tiền bà đem về chu cấp thừa thãi. Vì thừa thãi nên hắn vung vãi không tiếc tay, đúng là “vừa ăn vừa phá”.

Tính Hoan nóng, động tí là gầm gào. Hắn lại khỏe như vâm, bắp thịt cuồn cuộn. Ngày trước, mấy lần hắn bóp cổ ông bố đến lè lưỡi, suýt tắc thở. Bà mẹ già nua yếu ớt không sợ sao được? Chẳng dám cãi nửa câu, bà mang thân phận nữ tì hèn hạ luôn cúi đầu răm rắp chờ mệnh lệnh chủ nhân. Một trong những mệnh lệnh là ngày ngày bám trụ ở cổng chùa, góp nhặt chút lòng thương lẫn đồng tiền của thập phương thiên hạ.

Nhưng bà cụ chẳng hề oán trách, ngay cả khi bị Hoan bỏ đói bỏ rét, bà vẫn tìm lý do bào chữa cho hắn: Đã “hành nghề” này, phải rách rưới, gầy gò, bẩn thỉu thiên hạ mới đoái hoài bố thí. Chứ lành lặn, béo tốt thì ai thèm hạ cố cho?

Nhiều đêm, nhớ lại lời người chồng đã mất, bà cụ tự quy tội cho mình: có lẽ bà chưa “hết lòng thương” Hoan đủ để xứng đáng nhận lại tình thương của hắn. Nhất là mỗi khi hắn bạc miệng chì chiết bà sống bất nhân quá nên chẳng tích được đức cho hắn hưởng nhờ. Khiến bà đau đến thắt ruột, ước chết ngay cho xong!


* * *


-Ôi bà ơi, sao bà không vào bệnh viện chữa bệnh, hả bà?

Tiếng trong trẻo của một cô gái thình lình vang lên, cắt đứt dòng hồi tưởng của bà cụ. Ý chừng cô gái rất trẻ ấy vừa lễ Phật trong chánh điện xong. Lúc ra về, cô mủi lòng đứng lại hỏi han bà cụ ăn mày mà cô thấy rất đáng thương với ống chân đang ứa máu tươi, bốc mùi hôi thối, hút từng đàn ruồi nhặng vo vo. Cô đoán vết thương đã hoại tử rồi.

Bà cụ chỉ lắc đầu, khẽ nhếch môi như muốn cười để đáp lại một người tử tế. Môi bà nứt nẻ và thâm tím, người lẩy bẩy mỗi khi có cơn gió lùa qua.

Cô gái trẻ bùi ngùi thương cảm, cởi ngay cái áo len rất mới đang mặc, choàng lên vai bà:

-Cháu tặng bà mặc cho ấm. Dự báo thời tiết sẽ thêm vài cơn bão nữa, trời còn lạnh nhiều ngày đấy, bà ạ.

Bà cụ mắt rưng rưng, lí nhí mấy tiếng cám ơn sáo mòn. Chiếc áo ấm áp mau chóng đuổi cái lạnh buốt da ra xa. Bàn tay xương xẩu của bà run run sờ lên nếp áo, thật khẽ khàng, như sợ làm nó đau.

Cô gái vừa quay lưng đi, Hoan đã từ đâu xuất hiện. Hắn sấn sổ tiến đến lột phăng chiếc áo len khỏi người bà cụ, khẽ rít lên:

-Mặc cái áo đẹp này thì còn ai cho bà tiền nữa, hả?

Hắn cuộn nhỏ chiếc áo, kẹp vào nách, không quên vơ vội những tờ bạc trong nón nhồi vào hai túi quần, trước khi lừng lững bỏ đi. Mặc gió lạnh cuối Đông tiếp tục rít không ngừng. Mặc bà cụ cổ họng khát khô, bụng sôi réo vì đói.

Đứa trẻ cho thuê đang nằm mê mệt trong lòng người đàn bà bên cạnh, bất ngờ thức dậy, khóc khào khào chẳng khác tiếng mèo hen.

Bất giác, bà cụ lại xót xa nghĩ đến đứa con nuôi ngày trước. Sao thằng bé nhiều bệnh đến thế? Dù bà chẳng quản khó nhọc chăm bẵm tận tâm, kỹ lưỡng thì nó vẫn èo uột, mong manh. Tiếng nó khóc cũng khào khào như mèo hen, rất giống đứa trẻ kia.

Người cô nói đúng, xin nó về nuôi vài năm thì bà sinh được thật, lại là con trai. Hai ông bà mừng hơn đào được hũ vàng, thêm yêu quý đứa con nuôi như bảo bối, như… thần may mắn.

Tiếc rằng khi thằng bé 5 tuổi thì mẹ ruột nó tìm đến, lạy van khóc lóc xin nhận con về, rồi đưa đi đâu chẳng biết. Từ đấy, không lần nào bà cụ gặp lại nó nữa.


(23.12.2017)



.Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ SàiGòn ngày 29.12.2017.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004