Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới

Chùa Vạn Ngọc Tứ Liên (HàNội)




Tứ Liên



  T rước năm 1996 Tứ Liên là 1 trong 21 xã thuộc huyện Từ Liêm, phía Bẵc giáp 2 xã Quảng An và Nhật Tân, phía Nam giáp phường Yên Phụ thuộc quận Ba Đình, phía Đông Nam (bên kia sông Hồng) giáp xã Ngọc Thụy thuộc huyện Gia Lâm. Phía đông bắc giáp xã Tầm Xá thuộc huyên Đông Anh.

Xã Tứ Liên gồm 4 thôn Nội, Ngoại, Vạn, Xuyên xưa thuộc tổng Phúc Lâm huyện Hoàn Long tỉnh Hà Đông sau khi cải cách ruộng đất năm 1957 hợp lại, nên có câu ca “xưa là Tứ Tổng nay là Tứ Liên”. Trước đây 4 thôn này là đất trang Xuyên Bảo, đến thời Trần thì tách làm bốn thôn với các tên gọi:

- Thôn Nội thời Trần gọi là Tam Bảo Trang Nội Châu

Thời Lê gọi là Tam Bảo Châu Nội Thôn

Thời Nguyễn đổi là Tam Ngọc Châu Nội Thôn, đến năm Duy Tân thứ 4 thì đổi gọi là Nội Châu Xã

- Thôn Ngoại thời Trần gọi là Tam Bảo Trang Ngoại Châu

Thời Lê gọi là Tam Bảo Châu Ngoại Thôn

Thời Nguyễn đổi là Tam Ngọc Châu Ngoại Thôn, đến năm Duy Tân thì đổi gọi là Ngoại Châu Xã

- Thôn Vạn Ngọc thời Trần gọi là Tam Bảo Trang Vạn Châu

Thời Lê gọi là Vạn Bảo Châu

Thời Nguyễn đổi gọi là Vạn Ngọc Châu, sau lại gọi là Tam Ngọc Châu

Thôn Vạn Ngọc Châu . Năm 1910 đổi gọi là Vạn Ngọc Xã.

-Thôn Xuyên bảo thời Trần gọi là Tam Bảo trang Xuyên Châu

Thời Lê gọi là Bảo Xuyên Châu

Thời vua Đồng Khánh (nhà Nguyễn) gọi là Phúc Xuyên Châu, sau đổi gọi là Ngọc Xuyên Châu, hay còn gọi là Tam Ngọc Châu Nội Thôn Ngọc

Xuyên Châu ,năm 1910 đổi gọi là Ngọc Xuyên xã tức Xuyên Bảo hiện nay


(Theo Bùi Thiết: Làng xã ngoại thành Hà Nội -xb 1986)


Những thôn trên thời Trần Lê thuộc huyện Từ Liêm, phủ Quốc Oai, đạo Sơn Tây, đến năm Minh Mệnh thời Nguyễn đổi thuộc tổng Minh Tảo huyên Từ Liêm phủ Quốc Oai tỉnh Hà Nội (1831). Năm Đồng Khánh 1887 lại đổi thuộc tổng Phúc Lâm huyện Thọ Xương phủ Hoài Đức Hà nội, năm 1893 đổi thuộc tổng Phuc Lâm huyên Vĩnh Thuận, năm 1915 thì đổi thuộc tổng Phúc Lâm huyện Hoàn Long tỉnh Hà Đông. Từ năm 1957 là xã Tứ Liên quân V ngoại thành Hà Nội. Khi tái lập huyện Từ Liêm năm 1961, xã Tứ Liên lại thuộc về huyện Từ Liêm. Năm 1996 thành lập quận Tây Hồ, xã Tứ Liên đổi thành phường Tứ Liên quận Tây Hồ.


* Thần tích địa phương.


Tứ Liên hiên nay là một phường gổm 4 thôn và mảnh đất Tam Lạc cổ hợp lại . Theo các cụ cao tuổi kể lại thì 4 thôn đều chung thờ 3 vị thành hoàng là thủy thần họ Nguyễn, riêng Tam Lạc cổ xưa vốn là nơi an trí các tù binh nước ngoài nên nhà vua không cho thờ theo dân bản xứ, mà cho phép thờ Tản Viên Sơn thánh, sau năm 1954 nươc to đất lở, người Tam lạc hòa nhập cùng dân Tứ Liên hoặc đi kinh tế Lâm Đồng, nên không ai nhắc đến Tam Lạc Sở .

Thời gian kháng chiến chống Pháp,Tứ Liên là con đường rút của trung đoàn Thủ đô, nên bị quân Pháp đốt phá làng xóm, đình chùa. Nay ở phường Tứ Liên kiểm kê lại chỉ còn các di tích:

- Cụm dân cư số 4 có đình Ngoại Châu. Nay gọi là đình Tứ Liên vì đình này còn tương đối hoàn chỉnh.

- Tổ 26 cụm 4 có chùa Vạn Ngọc. (chùa Ba Làng)

- Cụm dân cư số 5 có đình Nội Châu. Đình này ở giữa hai ngôi trường THCS và tiểu học, hiện nay đang được trùng tu xây lại.

- Cụm dân cư số 5 còn có đình Xuyên Bảo, cũng đã xuống cấp.

Hai di tích chùa Vạn Ngọc và đình Ngoại Châu đẫ được xếp hạng


* Thần tích Tứ Liên


Tại hai đình Nội Châu và Ngoại Châu hiện giữ bản thần tích có ghi chép như sau: Thần tích Nội Châu gồm bản chữ Hán (photo), bản phiên dịch của Hoàng Giáp có dấu và chữ ký xác nhận của Viện Hán Nôm (Bản chính lưu tại Viên Hán Nôm)

Nội dung bản Thần tích: Thần thôn Nội Châu công thần quốc triều Lý họ Việt Thường có công lao lớn, gia phong tước cho thần là Linh ứng, phong cho hai vị là đại vương, công thần chính bảng. Phụ lễ có quốc triều ngọc phả cổ lục.

Xa xưa trời Nam mở vận, cơ đồ của Thánh tổ hơn hai nghìn năm, Hùng Vương kiến quốc gọi là tổ của Bách Việt, rồi đến hậu duệ của Hùng Vương truyền đến Đông Hán - Ngô - Tống - Tề - Lương. Lúc ấy ở Việt Nam trải đến triều Lý Bý, được dân chúng suy tôn là đương nguyên, uy đức của vua thật sâu sắc, lớn lao, anh hùng cái thế, đức Nhân của ngài như trời, Chí của ngài như thần, cả nước đều tôn là bậc vua hiền. Lại nói thời ấy ở trang Đồng Lục tỉnh Khoái Châu đạo Sơn Nam có một gia đình họ Nguyễn, tên là Huy Chương, vợ là Bùi Thị Xuyến. Ông Chương làm nghề y, thái bà làm nghề nông tang, ngày ngày lấy đó làm kế sinh nhai, giữ thân. Lúc âý mùa hè nóng bức, bà Xuyến ra sông của bản trang tắm gội, bến sông đó tục gọi là bến sông Hồng, bà bỗng thấy ở bên bờ sông có 3 quả trứng : Một quả mầu xanh, hai quả mầu vàng, Bà cho là vật quý liền nhặt lấy mang về. Ông Chương thấy vậy cũng cho là vật kỳ lạ liền đem để ở đầu giường, được ba ngày thì ba quả trứng tự nhiên vỡ, nước chảy ra ngấm vào người bà, ông Chương lại cho là việc lạ. Từ khi “nước trứng rắn” ngấm vào, hai ông bà quấn quýt như đôi chim loan, chim phượng, tình nghĩa mặn nồng, tình cảm găn bó như keo sơn. Trải qua ba tháng, bà thấy trong người xốn xang, rồi có mang. Đến khi đủ chín tháng mười ngày, bà sinh ra một cái bọc, cái bọc đó nở ra hai người con trai, một người con gái, các con ông sinh vào giờ Tý ngày hai mươi tám tháng sáu năm Mậu Dần. Con trai thì diên mạo sáng sủa, hình dung quảng đại, con gáo thì môi son má phấn, mắt phượng mày ngài. Ba người đều khác người thường. Từ ngày bà sinh 3 người con, đến mấy tháng sau thì bà lâm bệnh rồi mất vào ngày mười tháng Chín, chôn cất bà ở xứ Đồng Cao thuộc bản trang. Việc tang đã xong, ông Chương cho là các con mới sinh còn quá nhỏ nên cần tìm người nhũ mẫu nuôi con. Một hôm bỗng thấy hai người dàn bà đến nói rằng: “Nghe tin phú ông muốn tìm nhũ mẫu để nuôi các con, chúng tôi tìm đến” Phú ông nghe vậy rất mừng bèn hỏi rõ họ tên, quê quán. Hai người đàn bà trả lời “Thần thiếp là người Châu Xuyên bảo huyện Từ liêm, tên là Phạm Thị Thanh và Trần Thị Tính, thấy phú ông tìm người mà đến ” Ông Chương hỏi kỹ hai người rồi cuối cùng đồng ý cho ở nhà, sai họ chăm lo săn sóc các con. Từ khi được hai nhũ mẫu nuôi dưỡng, các trẻ đều lớn lên nhanh chóng, ngày tháng qua đi, khi các con đến tuổi mười hai, ông Chương bèn cho con trai đi học, hai người nhũ mẫu về quê. Khi cả ba người con đến tuổi mười tám đều học rất thông minh, văn chương thấu suet, khi nói chuyện bàn luận vời bạn bè, không có ai là không kinh ngạc, coi trọng. Ông Chương nhân đó đặt tên cho các con: Con trai trưởng là Bảo, con trai thứ hai đặt tên là Mỹ, con gái thứ ba đặt tên là Phương. Cũng trong năm ấy, họa vô đơn chí, ông Nguyên Huy Chương bị bệnh mà mất vào ngày Hai mươi mốt tháng Mười Một, các con làm lễ an táng cha tại đất của bản trang gọi là xứ Đồng Son, chôn cất cha xong, hai con trai cho là trong nhà nghèo túng, không có kế gì để kiếm ăn, thường than khóc rằng: “Cha ta có thể chữa bệnh cứu mạng cho cả nghìn người, thế mà không chữa khỏi cái nghèo cho các con. Lại nghĩ xưa có câu ngạn ngữ rằng: “Con trai của lương y ăt chết vì bệnh” nay ta không chết vì bệnh mà chỉ khốn đốn vì nghèo mà thôi”. Than khóc xong, hai ông mở cửa ngà nhìn về phía Đông, thấy mặt trời hồng sáng, bèn tức cảnh đọc câu thơ rằng:


Rạng đông cây cỏ đón trời hồng

Huynh đệ ta gập cảnh ưu bần

Vận may lại được phong vân hội

Chắc chắn cá kia sẽ hóa rồng


Đọc thơ xong vừa đúng lúc địa phương bị thủy tai hỏa tai, thóc lúa bị thiệt hại rất nhiều, hai ông than “Ta đã nghèo túng như thế lại gập lúc thiên tai, biết lấy gì để tồn tại, chi băng bỏ đi nơi khác, dưới gầm trời này ở đâu mà không có gió xuân”. Thế rồi hai ông bỏ mặc gia tài, ký thác phần mộ cho làng xóm, rồi như một cánh buồm đi khắp bốn phương đất nước. Ba anh em dắt nhau đi, bỗng nhớ đến quê của nhũ mẫu bèn hỏi thăm đến trang Xuyên bảo huyện Từ liêm, đi hai ngày sau anh em tới nơi vào trong trang hỏi thăm nhũ mẫu nhưng họ đều đã qua đời nên không gập ai là người quen, lúc đó trong trang có một nhà hào phú họ Lê thấy mấy anh em diện mạo khôi ngô, phúc hậu bèn hỏi đầu đuôi câu chuyện, cuối cùng đồng ý cho ở lại, thế là cả ba anh em đều được họ Lê nuôi dưỡng, hai ông được tiếp tục đi học, còn cô em thì ra bãi sông làm dâu tằm kiếm kế sinh nhai.

Được một năm bà Phương bị thủy quái lôi đi mất tích, còn văn tài võ nghệ của hai người anh đều đã tinh thông hai ông được ra ở riêng, ông Bảo ở lại thôn cùng với họ Lê, còn ông Mỹ thì sang huyện Quảng Đức. Học hành đã nhiều, chợt năm ấy giặc Chiêm Thành kéo đến uy hiếp biên cương, thư báo nguy gửi về trong ngày ba bốn lần, Vua hỏi ý kiến các đình thần, ai nấy đều bó tay, nhà vua đành ban chiếu kêu gọi thiên hạ, người nào có tài hãy đến diên trì biểu diễn võ thuật, thí võ chọn tướng giỏi Hai ông lúc ấy nghe được lời truyền, bèn nói với nhau: “Công lao cha mẹ sinh thành dưỡng dục, ta không có gì báo đáp, nay Hoàng đế có hịch cầu tài, anh em ta nên đến triều ứng thí”. Nói xong hai người tạm biệt trang Xuyên Bảo đến kinh đô yết kiến Hoàng đế. Đầu tiên, nhà vua cùng triều đinh khảo họ về binh thư, văn chương và kế sách, hai người thể hiện tài năng ứng đối như nước chảy, nhà vua cho thi võ, cả hai đều có võ nghệ cao khiến nhà vua rất hài lòng bèn phong hai người làm tướng quân nói với hai người rằng: “Nay nước nhà bị xâm lăng, vậy ta lệnh cho hai tướng thay ta phụng mệnh vua đi dẹp giặc”.

Lúc ấy hai ông phụng mệnh xuất chinh, chiêu tập ba vạn tinh binh, người ngựa rợp trời, tiến về bản trang. Bảo công lấy 30 người bản trang làm gia thần, Mỹ công tuyển 80 người bản trang làm nội đao thần tướng, chia làm hai đạo thủy bộ cùng tiến quân. Hai bên bờ sông, hai đạo thủy bộ tiến quân kinh động đến cả trăm dặm. Uy của đạo quân làm rung chuyển cả Trời Đất, như lá khô trút xuống, thế đánh mạnh như chẻ tre, tiến thẳng đến doanh trại Chiêm Thành, đại phá một trận ở ngay bên sông, quân giặc tan tác chạy trốn. Hôm ấy giặc đã bình xong, hai ông tiến quân về đến trang Bình Lãng huyện Tam Đoái phủ Sơn Tây thì mặt trời đã xế bóng. Trời sắp tối, hai ông về nghỉ tại đồn binh, đến nửa đêm hôm ấy, bỗng thấy trời đất đen sì, mưa gió nổi lên, sấm chớp rung chuyển cả bầu trời, trong mưa gió bỗng có mọt đám mây vàng từ trên trời cao giáng thẳng xuống đồn binh nơi hai ông đang trú ngụ, trông như một giải lụa vàng, hai ông bước lên giải lụa rồi tự nhiên cung hóa, hôm đó là ngày Mười hai tháng Mười. Một lát sau, trời quang mây tạnh, nhân dân quanh vùng đến đồn binh xem thấy mối đã đùn lên thành mộ, sau này gọi là Đống Lăng Vua. Nhân dân gửi đơn về kinh đô, nhà vua vô cùng thương xót bậc công thần có công lao lớn đối với vua và đất nước, hết lòng trung nghĩa thờ vua, Hoàng đế bèn ra lệnh cho đình thần mang sắc chỉ về trang Xuyên Bảo truyền nhân dân lập miếu thờ, lại tặng tiền cho nhân dân Xuyên Bảo, miễn binh lương trong ba năm, lại bao phong mỹ tự cho thượng đẳng phúc thần, muôn đời được hưởng lộc nước, lễ nghi thịnh vượng mãi mãi.

Phong Đương cảnh thành hoàng Bảo Trung thượng đẳng phúc thần đại vương

Phong đương cảnh thành hoàng Minh Khiết thượng đẳng phúc thần đại vương

Chuẩn cho Trang Xuyên Bảo huyện Từ Liêm phủ Quốc Oai làm nơi thờ phụng

Ngày sinh, ngày hóa và mỹ tự các Ngài được liệt kê dưới đây: Tiền triều gọi là trang Thiên bảo, trải đến triều Trần lập thành trang Tam Bảo (Nội châu, Ngoại châu,Vạn châu, Xuyên châu) chính là đất của châu Tam bảo vậy.

- Ngày sinh nhật là ngày Hai mươi tám tháng Sáu: Lễ dùng cỗ chay gồm bánh chay, mỗi thứ ba mâm, tế lễ ca hát trong ba ngày.

- Ngày hóa là ngày Mười hai tháng Mười: Lễ dùng cỗ chay, mỗi mâm ba thứ bánh chay để tế lễ. Lại dùng lợn, xôi, rượu bày ở gian ngoài làm lễ, vào các dịp xuân thu -sinh nhật thì dùng tam sinh, ca hát tế lễ một ngày.

Phụng sao vào thượng tuần tháng Bẩy niên hiệu Tự đức năm Nhâm Tuất 1862, hương lão cùng các bậc trưởng thượng chức dịch và mọi người dân thôn Nội Châu Tam Bảo thành tâm phụng sao.


* Thần tích bà Phương Nương:


Từ sau khi đến nhà ông họ Lê, hai người anh được đi học, còn bà Phương ra bãi cát bên sông để trồng dâu, Hôm ấy đang buổi trưa bỗng thấy dưới sông sóng nước cuồn cuộn, nước sông tràn đầy, lại thấy rồng rắn nổi lên mặt nước, bà Phương kinh hãi bèn chạy đi, nhưng chạy không kip, rồng rắn bèn cuốn lấy thân bà rồi trôi theo dòng nước chảy, đưa bà về thủy phủ. Một lát sau hai người anh nghe tin em gái bị nạn liền chạy đến nhưng không kịp, chỉ thấy thi thể bà nhiều lần nổi lên ở giữa sông, trên trán có một cái chén ngọc để ngay ngắn. Hai ông thương khóc viếng bà, nhân dân cùng hai ông vớt thi thể bà lên, an táng ngay bên sông ngay tại nơi bà bị hụt xuống.Tại nơi đó, đất đá cung đùn lên đắp thanh ngôi mộ. Hôm đó là ngày Mười sáu tháng Ba, nơi lăng mộ đó, gọi là Mả Bà Chén, Từ đó trong trang nếu ai có điều gì cầu đảo kêu cầu, đến mộ bà cầu đảo thì rất linh ứng, do đấy dân lập miếu phụng thờ.

Vào năm Thiên Phục triều vua Lê Đại Hành, nha Tống sai bọn Quách Tiến đem quân xâm lược, Vua tự lãnh đại quân tiến đánh. Thủy quân do vua chỉ huy khi tiến qua lăng miếu bà Phương thì không sao tiến nổi, Nhà vua cho dừng lại, nghỉ chờ đi tiếp. Đêm ấy trong khi đang ngủ, vua bàng hoàng thấy một cô gái đứng bên giường tâu rằng: “Thiếp là con họ Nguyễn thuộc loài thủy tộc, thiên đình mệnh cho trấn giữ vùng này, bỗng gập hoàng đế xuất chinh, thiếp nguyện theo Ngài để âm phù phá giặc”. Sớm hôm sau vua triệu mời phụ lão quanh vùng đến hỏi, rồi truyền cho dân tiến hành trai lễ, lễ xong, thuyền vua khởi hành tiến quân nhanh như bay đến nơi quân Tống, trong lúc tiến đánh, quân Tống thấy phía quân mình có giao long rồng rắn nổi sóng phá rối, sợ hãi rút quân về nước, nhà vua thấy vậy ban chiếu khen ngợi sự anh linh của bà. Vua đi thuyền rồng về kinh đô, lệnh cho đình thần mang sắc chỉ tới linh miếu của bản trang, tặng cho dân ba trăm quan tiền làm hương hỏa thờ cúng. Lại truyền xây miếu đền để làm nơi lễ tạ, phong cho bà ý Hạnh phu nhân tôn công chúa. Sau này, ông anh thứ nhất và ông anh thứ hai hóa ở nơi khác cũng chuẩn cho trang Xuyên Bảo huyện Từ liêm làm nơi thờ chính. Hương khói phụng thờ mãi mãi. Ngày sinh, ngày hóa tên húy, tên tự của Bà được liệt kê dưới đây:

- Ngày sinh là ngày Hai mươi tám tháng Sáu.

- Ngày hóa là ngày Mười sáu tháng Ba.

- Miếu thờ của Bà tọa Bắc hướng Nam, trước mặt có lạch nước chảy về đông quả là nơi linh địa vậy.

- Nơi lăng hóa tục gọi là Mả Bà Chén chính là đất anh linh vậy

Kiêng húy chữ Phương, tên cha mẹ của thánh là Chương, Xuyến, và hai ông anh của thánh là Bảo và Mỹ.

Mùa xuân năm Hồng Phúc nguyên niên (1470) thần là Đại học sĩ

Đông các viện Hàn Lâm Nguyễn Bính phụng soạn

Mùa đông năm Vĩnh Hựu (1732) thần Quản giám bách thần tri điện

Hùng lĩnh thiếu khanh Nguyễn Hiền tuân theo bản chính phụng sao

Dịch xong ngày 15 tháng 7 năm Giáp Thân

30 - 8 - 2004

Hoàng Giáp, chuyên viên Viện Hán Nôm.

Bản thần tích này tôi chép từ ông thầy cúng Phạm Văn Lịch ở đình Nội Châu. Tại đình Ngoại châu, cụ Từ cũng cho tôi đoc một bản thần tích chép trên mộc bản sơn then chữ vàng do gia đinh ông bà Đinh Viết Tiến - Triệu Thị Lan cung tiến đình Ngoại Châu năm 2004. Có một chi tiết khác là trong thần tích của đình Ngoại Châu, chép vị thành hoàng thứ tư là Phu nhân thần vị, bà là Từ Hoa, con gái vua Lý Thần Tông, xin vua cha cho ra trang Ngoại Châu dạy dân trồng dâu nuôi tầm được dân hai làng Ngoại Châu và Tầm Tang trại (Nghi Tàm) thờ, làng Ngoại Châu thờ tại đình, ở Nghi Tàm thờ tại chùa Kim Liên. Tại hậu cung đình Ngoại Châu có bốn ngai thờ, không như hậu cung Nội Châu chỉ có ba ngai thờ. (Như vậy khi đối chiếu các câu chuyện thần tích của Tứ Liên, cần nhận rõ và tìm hiểu cho kỹ, rồi hãy viết nên trang sách, tránh sự nhầm lẫn đang tiếc của tác giả X khi viết “Lễ hội Tứ Liên” đã ghi sai, chép thêm chưa đúng.)


* Chùa Vạn Ngọc


Như chúng tôi đã viết, ngành văn hóa kiểm kê các di tích, ở Tứ Liên còn một ngôi chùa, đó là chùa Vạn Ngọc. Sách “Danh tích Tây Hồ” do UBND Quận Tây Hồ xuất bản năm 2000 đã viết: “Chùa Vạn Bảo (Vạn Ngọc) được xây dựng trên đất của châu Vạn Bảo huyện Từ Liêm phủ Quốc Oai nay thuộc làng Vạn Ngọc phường Tứ Liên quận Tây Hồ. Xưa chùa có tên là Linh Sơn, thời Lê chùa có tên là Linh Am tự, cũng có lúc chùa có tên là Kim Quang Tự. Chùa Vạn Ngọc là ngôi chùa được xây dựng từ rất sớm để thờ Phật, văn khắc trên cây hương đá Kinh Thiên dựng ở trước sân chùa ghi rõ “Ngày lành tháng 11 niên hiệu Vĩnh Khánh năm thứ ba (1731)” Ba kì văn khắc trên cột Kinh Thiên cho biết người khắc văn là đệ tử của dòng thiền Trúc Lâm.

Vào chùa, khách hành hương thường chú ý tới Phật Điên - nơi làm lễ bái Phật - tại chùa Vạn Ngọc, Phât Điên có các lớp tượng :

- Tượng tam thế tôn gồm ba vị Quá khứ - Hiên tại - Vị lai.

- Tượng Adiđa có tượng Quan thế âm bồ tát và Thế chí bồ tát ở hai bên.

- Tượng Nam hải Quan Âm hai bên có tương Phạm Thiên, Đế Thích.

- Tòa Cửu Long và tượng Thích ca sơ sinh, hai bên là tượng Nam Tào, Bắc Đẩu Tại chùa Vạn Ngọc, cây hương Kinh Thiên lập năm Vĩnh Knánh thứ 3 (1731)\ có ghi rõ bài minh: “Huyền nữ lưu viết - Bước theo gót Phật - Cung kính khắc đá - Đặt ở trước sân - Cột đá vuông tròn - Tượng trưng trời đất - Sừng sững non cao”. Chùa Vạn Ngọc đã được Nhà nước xếp hạng DTLS -VH ngày 28-9-1990.

Cụ Từ đình Ngoại Châu kể rằng: Đến năm 1993, sau nhiều lần khôi phục, chúng tôi tổ chức “Rước Thánh hoàn cung” đưa long ngai các ngài trở về đình cũ, năm đó là năm đám rước của làng được tổ chức to nhất đông nhất. Cả 4 làng Nội, Ngoại, Vạn, Xuyên và các địa phương bạn đều tham gia. Sau này, các ngôi đình Nội Châu, đình Ngọc Xuyên có khôi phục lại lễ hội, nhưng vẫn chưa đông vui bằng cái thuở năm 1993, vì đó là thời điểm chờ đợi đã lâu ngày mới được tổ chức đám rước Thành hoàng làng uy nghiêm đến thế. Tôi sang bên Nội Châu, hỏi ông “thầy” Phạm Văn Lịch, ông cũng cho biết: Lễ hội ngày nay ở Tứ Liên vẫn theo phong tục của các cụ ngày xưa, nhưng có sự chỉ đạo của UBND Phường :. Hàng năm lần lượt theo sự thỏa thuận của các bô lão, các đình cắt lượt nhau tổ chứ lễ hội theo thứ tự: Năm đầu là đình Nội, năm thứ hai là đình Ngoại, năm thứ ba là đình Xuyên. Đình Tam lạc, đình Vạn Ngọc đã bị cháy trong kháng chiến chống Pháp nay không còn vết tích nên không tính đến. Ngày hôm trước là tế mộc dục, ngày hôm sau thì đi rước nước ở sông Hồng về đình. Đoàn rước đi có cờ Tổ quốc đi đầu, sau đó là cờ hội, chỉ là lá cờ ngũ sắc vuông, không có chữ trên cờ đề thần vị của Thánh như các nơi. Đám rước có đội rồng, đội sư tử - nhà sư - các bà vãi cầm phướn - long đình - tổ xin tiền - đội dâng hương nữ của làng - Kiệu bát cống của Đức Thánh Cả - chấp hiệu - phụ kiệu - đội nhạc - đội tế nam - sênh tiền - kiệu bat cống thứ Hai là của đức thánh Hai vẫn có hình thứ như vậy cho đến kiệu Thánh Bà. Điều đặc biệt là kiệu Thánh Bà do 8 cô gái chưa chồng mang theo 8 dải lụa đào để rước kiệu. Đám rước đi từ đình làng đăng cai tế lễ ra đường 172 - ra bờ sông Hồng - quay về đường 172 - rẽ sang đường 124 ra đường Âu Cơ rồi về đình, đi như thế là đã đi một vòng quanh làng. Mỗi lần tổ chức lễ như vậy, chúng tôi mời các làng bên tham gia. Về tục kêt chạ, chúng toi đã về Đồng lực Khoái châu là nơi quê của Thánh, nhưng ở đấy họ không dám nhận lễ kết chạ.


* Những câu chuyện riêng của Tứ Liên


Tứ Liên tuy là một vùng đất bãi, nhưng với địa hình rộng, con người đến đây cư trú từ thời Tiền Lý nên tính tình rộng rãi, sống vời nhau thoáng đãng, mà điển hình là việc chia đất. Cụ Phan Hữu Sự ở Nội Châu kể chuyện: Vùng đất bãi Tứ Liên là nơi đất rộng, phù sa nay bồi mai lở, nhưng ai có sức thì đến mà khai phá, nên vùng dân chúng tôi các cụ từ bốn tổng Thượng, Hạ, Nội, Trung thuộc huyện Vĩnh Thuận đến khai phá đông lắm. Đến khi hình thành làng xã thì phải chia đất “thôn tôi thôn anh”, mà đất sông thì nay lở mai bồi nên chia theo bề ngang là chính. Chúng tôi nghĩ cách chia khác, đó là: Đất đai ở đây chúng tôi “chia đoạn và chia đạc”. Chia đoạn là đơn vị dùng khi đo chiều dài, còn chiều ngang thì dân quy định lấy chiều dài từ bên này Tứ Liên sang bên kia đất Xuân Canh, chia thành 16 đạc, mỗi đạc có chiều dài hiện hành là 144 mét. Với 16 đạc là số đo toàn bộ, chúng tôi chia đều cho 4 thôn làng Nội, Ngoại, Vạn, Xuyên bởi cách chia đất là “cắt khúc cá” chia đều cho mọi người nên ở Tứ Liên có tình trạng xen canh và xen cư . Tại sao lại làm như vậy? Chúng tôi xin giải thích rõ như sau: Khúc đầu cắt chia đều cho 4 làng, khúc giữa cũng cắt chia đều cho 4 làng, và khúc đuôi cũng cắt chia đều cho 4 làng. Như vậy không làng nào có phần hơn làng nào, mọi người sống xen cư với nhau, canh tác xen canh bên nhau, chia như thế thì làng nào cũng có chỗ đất tốt như nhau, không xảy ra tranh chấp. Muốn phân biệt các làng, người ta căn cứ vào nghề phụ của làng đó Mỗi làng mỗi nghề cụ thể như sau:

- Làng Nội Châu có nghề làm nhà . Họ không phải là thợ làm nhà gỗ, mà giỏi làm nhà tranh tre nứa lá. Người thợ Nội Châu chỉ cần con dao, cái đục là có thể làm nên một ngôi nhà tranh vững vàng và đẹp đẽ.

- Làng Ngoại Châu có nghề trồng dâu chăn tằm, trước đây không đâu làm được vụ tầm xuân, chỉ có Ngọai Châu làm được. Sau ngày CCRĐ, Nhà nước bỏ nghề dâu tằm, chuyển Ngoại Châu thành vùng Rau, cho nên mất nghề từ đó.

+ Làng Ngoại Châu có câu ca dao về nghề dâu tằm:

Trăng tròn phải đợi ngày rằm

Em hái dâu tằm chẳng đợi sớm trưa

Vụ chiêm cho chí vụ mùa

Nhanh tay em hái không thua chị nào

Tằm no kén chắc, tơ cao

Duyên em là đó, em nào thua ai.

- Làng Vạn Ngọc có nghề phụ là đóng thuyền. Họ vốn là làng vạn chài nên việc đóng thuyền làm rất chuyên nghiệp. Họ làm được thuyền tam bản đi ven sông, và thuyền chài lưới trên Hồ Tây. Nhiều nơi muốn đóng thuyền phải thuê thợ Vạn Ngọc đến làm.

- Làng Ngọc Xuyên có nghề kéo cưa xẻ gỗ.

Có một bài ca về 4 nghề phụ của Tứ Liên được lưu truyền trong dân:

Làng Xuyên có nghề kéo cưa -

Gỗ cây đã xẻ rất vừa lòng dân

Làng Ngoại thì rất chuyên cần

Nuôi tằm kéo kén góp phần phú gia

Làng Nội có nghề làm nhà

Tranh tre nứa lá đậm đà nên duyên

Làng Vạn có nghề đóng thuyền

Giao lưu thông thủy khắp miền gần xa

Trươc sau cùng một xã nhà

Xưa là Tứ Tổng nay là Tứ Liên

Đất đai và nghề nghiệp của Tứ Liên là thế, nhưng có về Tứ Liên khai thác chuyện xưa, mới hỏi ra ngày xưa ở Tứ Liên cũng là đất chuộng nhân tài. Thân tích Nội Châu còn ghi rằng hào trưởng họ Lê ở trang Xuyên Bảo thấy anh em họ Nguyễn là người có học mà bị lâm vào cảnh nghèo túng đã giơ tay hào hiệp nuôi cho ăn học thành tài, trở nên vị tướng giỏi giúp vua dẹp yên biên cương. Bây giờ khi hỏi chuyện cụ Phan Hữu Sự về các ông đồ nho, ông hương sư, thầy giáo sơ học ngày trước, các cụ còn kể: Ngày xưa, khi mà chữ Nho không dùng, thay thế bằng chữ quốc ngữ, nhưng ở Tứ Liên vẫn còn nhiều gia đình đón mời cac ông đồ nho về dạy con trẻ, để chúng thông hiểu đạo làm người mà thánh hiền đã dạy.Ta có thể kể ra :

- Nhà ông Bính (con cụ Liêu) đã nuôi cụ đồ trong nhà để dạy chữ cho con.

- Làng Vạn Ngọc có nhà bà Lan mời cụ đồ Thư về ngồi dạy trẻ.

- Làng Nội Châu có cụ Huyên vốn là người học trò nghèo ham hoc, sau này chữ viết đẹp nổi tiêng, được triều đình vời vào làm văn thư bằng sắc... Khi già, về nghỉ được tặng Hàn lâm, tấm gương cụ Hàn Huyên mãi là nguồn động viên người làng học tập. Đến thời kỳ học quốc ngữ theo chương trình “sơ học yếu lược” chính quyền có cả hệ thống các ông đốc học để kiểm tra việc dạy học cho trẻ em. Làng Ngoại Châu hồi đó chưa có trường, cụ Đốc Thư khi về kiểm tra thấy trẻ em không có trường học, đã đề nghị với chính quyền xây một trường học, lấy tên là “ école de Ngoại Châu “ Làng Ngoại Châu xây trường mời thầy giáo về dạy, thì bên làng Nội Châu các cụ cũng mời thầy giáo về. Dù chưa có trường làng, các cụ dùng Tảo mạc của đình Nội Châu làm nơi dạy học, thế là cả Nội ngoại châu đều có trường có lớp. Chương trình hồi đó dạy qua 3 lớp; Lớp Đồng ấu (enfantin) - Lớp Dự bị (Péparatoire) và Lớp Sơ đẳng (élémentaire). Những học sinh thi đỗ Sơ Đẳng Yếu Lược được làng trọng dụng làm các công việc trong làng, Nhưng theo lệ làng quy định thì họ phảỉ “khao” làng, số tiền khao là nộp làng100 $ (một trăm đồng bạc Đông Dương) để làng chi các công việc

Cụ Sự nhớ lại: Hồi ấy theo học trường Ngoại Châu có 17 người, theo học Trường Nội châu có 11 người. Cụ Phạm Duy Thực Hội trưởng Người Cao tuổi của Tứ Liên kể thêm; Các vị lang ngày xưa có cụ Ngô Văn Lẫm vừa dạy học vừa làm thuốc. Cụ này dạy 13 khóa liên tiếp nên có tiếng lắm, ngoài ra còn có hai cụ lang khác là cụ Phạm Duy Dũng, cụ Nguyễn Thị Lan là 3 cụ có tiếng ở Tứ Tổng. Trong số những người học sinh đầu tiên, sau này có GS-TS Trần Quán Anh, ông Trần Ngọc Dũng tiến sĩ Luật, ông Lê Quý Yến (con cụ Hàn Huyên) đều là những người học giỏi. Ông Đinh Văn Khải trưởng một dòng họ có truyền thống khuyến học cho biết thêm: Dòng họ Đinh có quy ước khen thưởng các cháu thi đỗ vào các trường Đại học, (Điều kiện đề ra là phải đỗ thủ khoa).

So sánh với tài liệu của ông Ngô Vi Liễn viết trong “Tên làng xã Bắc Kỳ và ngoại thành Hà Nội” thấy có sự chưa khớp:

- Ngoại Châu ngoại thôn hồi đó thuộc tổng Phúc Lâm huyện Hoàn Long tỉnh Hà Đông cú 317 dõn

- Nội Châu, Ngọc Xuyên, Vạn Ngọc cũng đều thuộc tổng Phúc Lâm

- Dân số năm 1928 tại các thôn như sau :

Nội Châu có 362 dân

Ngọc Xuyên có 380 dân

Tam Lạc có 157 dân

Trong sách điều tra của Ngô Vi Liễn chưa có tên Vạn Ngọc, đó là điều nghi vấn, nhưng khi hỏi các vị cao tuổi ờ Tứ Liên và xem trong văn bia chùa Vạn Ngọc thì tên làng Vạn Ngọc đã có từ xa xưa, đây có thể là sự thiếu sót của ông Ngô Vi Liễn chăng? Bãi Tứ Liên vào đêm 17-2-1947 đã ghi một dấu ấn quan trọng trong lịch sử kháng chiến của Trung Đoàn Thủ Đô “ đêm 17-2-1947 Trung đoàn Thủ đô đã chia thành nhiều bộ phận hành quân qua cột Đông hồ, vượt đê qua gầm cầu Long Biên, men theo dọc bờ sông phía nội thành, lội qua lạch sông cạn lên đầu bãi giữa, qua đó sang Tam Lạc. Sau đó từ chùa Tầm xá, trung đoàn ra bến đò Dâu sang Đông Anh. Khi phát hiện việc rút lui của Trung đoàn Thủ đô, quân Pháp lập tức truy kích, đã chạm súng với đội tự vệ Hồng Hà do Nguyễn Ngọc Nại chỉ huy. Mặc dù quân Pháp đã dùng đến máy bay oanh tạc trận địa nhưng đơn vị Hồng Hà chiến đấu kiên cường nên toàn thể Trung đoàn Thủ đô đã rút gọn, an toàn sang bên kia sông, toàn thể Đội tự vệ Hồng Hà đã anh dũng hy sinh.”

Ông Nguyễn Ngọc Nại quê xã Ngọc Thụy huyện Gia Lâm là tiểu đội trưởng liên lạc Đội du kích Hồng Hà thuộc đơn vị Tự vệ Tứ Tổng (nay là Phường Tứ Liên quận Tây Hồ) đã chỉ huy trận đánh cản địch để Trung đoàn Thủ đô rút khỏi Thủ đô đêm 17 rạng ngày 18-2-1947. Trong trận đánh ở bãi Giữa, ông và toàn đội (9 đội viên) đã hy sinh, sau khi đánh địch đến quả lựu đạn cuối cùng, Ông Nguyễn Ngọc Nại được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang, từ tháng 1- 1998 tên ông được Thành phố đặt cho đặt tên cho con đường từ phố Hoàng Văn Thái đến phố Vương Thừa Vũ , dài 680 m.



. . Cập nhật theo nguyên bản của tác giả từ HàNội ngày 14.12.2017.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004