Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới







GÓC LÀNG




5.


Thằng Dũng tiết lộ bí mật với tôi.

- Mai tao với mày đi chăn trâu, có thêm bạn gái.

- Đứa nào?

- Cái Thu nhà cô Xuân!

Tôi ngán ngẩm lắc đầu. Bầm tôi với mẹ cái Thu vừa đánh nhau chí mạng, giờ nhìn mặt nhau ngượng chết. Mà thằng khỉ kia, rủ rê nó đi ra rừng ra bụi làm gì? Nhà nó có trâu bò gì đâu mà chăn với dắt. Thằng kia cười nham nhở.

- Nó thích thì cho theo. Không biết nó mê mày hay tao đây? Nó bảo nhà hiếm củi lắm, muốn theo tụi mình kiếm củi. Tao bảo, đi với bọn tớ, cả hai thằng bẻ cho một lúc, gánh è cổ.

- Tối nay, rủ nó đi chơi. Các anh chị trong chi đoàn liên hoan tiễn chân tân binh đấy.

- Thích quá! Nhưng mày phải cùng tao đến đón nó nhá!

Ghét cái thằng ruột ngựa. Đã nói là người ta ngại, mẹ cái Thu còn ghét bầm tôi hơn ghét tà. Tôi mò mặt đến, bà ấy lót lá dắt tay ra sớm. Thằng Dũng quả quyết rằng mẹ cái Thu mau quên lắm, nó đã hỏi rồi.

Đợt này, ít thấy máy bay Mỹ bén mảng. Nghe tin tức từ đài phát thanh, thì chúng nó tập trung đánh phá khu vực miền Trung nhiều hơn. Nhưng ở trên vẫn tổ chức tuyển quân. Lần này làng tôi có hai anh, đều là con một, lại sát nhà nhau. Lạ thế! Cứ như hai người rủ nhau đi bộ đội ấy. Anh Hùng trán dô nhà dưới, là anh cả trong nhà, còn bốn cô vịt giời. Anh Ninh nhà trên đã có vợ, chưa có con. Hai anh nông dân gộc, mới học hết lớp bảy, nhưng cày bừa, cuốc xới giỏi. Đi rồi, thì gia đình cũng vắng vẻ, thiếu lao động chính. Nhưng ai cũng náo nức ra trận, đến bọn trẻ con chúng tôi cũng thấy trong người nôn nao.

Từ chiều, tôi và bọn thằng Dũng, cái Thu đã tập trung giúp các anh chị trong chi đoàn đi mượn bàn ghế. Bàn gỗ mít, gỗ xoan sơn véc ni, mỗi bộ sáu chiếc ghế ba nan cong đi kèm. Quê tôi, nhà nào cũng có một bộ như thế, có điều to nhỏ, dài ngắn khác nhau. Mỗi khi làng có đám cưới, đám tang, cánh thanh niên lại xúm vào đi mượn bàn ghế. Nhùng nhằng, đùa giỡn, có khi rơi gẫy chân ghế làm gia chủ phải đền. Dưới gầm bàn ghế, lấy phấn ghi tên chủ nhà cho khỏi lẫn. Thế nên nhà có đám, lực lượng thanh niên được ưu tiên ăn uống ba bữa liền. Bữa đầu là buổi đi mượn bàn ghế, bữa tiếp theo là tiệc chính, bữa thứ ba “thu dọn chiến trường”, khiêng trả bàn ghế.

Tối nay cần năm bộ bàn ghế, nên chỉ mượn mấy nhà gần kho hợp tác. Trên bức tường gạch đất, bám đầy bụi trấu, chúng tôi dùng chổi cọ quét thật sạch, rồi treo ảnh Bác Hồ dưới quốc kỳ. Hai bên là khẩu hiệu viết bằng phấn màu trên giấy đỏ, loại giấy để học sinh cắt thủ công, rộng sáu mươi, dài chín mươi xăng ti mét. Anh Lợi “họa sĩ” xóm kẻ chữ rất ngay ngắn, đẹp. Tờ giấy bên phải chữ vàng. “Tất cả cho tiền tuyến. Tất cả vì miền Nam yêu thương”. Tờ giấy bên trái chữ xanh. “Ra đi giữ trọn lời thề. Chưa hết giặc Mỹ chưa về quê hương”. Càng đọc càng thấy thôi thúc trong lòng. Tôi bảo thằng Dũng:

- Hai năm nữa, đủ tuổi. Tao với mày cũng đi nhá?

Nó mím chặt môi, gật đầu.

Bọn cái Phúc, cái Hoa từ đâu ló đầu ra, trên tay cầm một nắm hoa sim. Phúc nắm tai tôi.

- Ông tướng! Từ hôm nghỉ hè là mất mặt. Tưởng bố cưới vợ cho rồi?

Tôi mừng rỡ vì gặp hai đứa bạn học cùng nhóm. Nhà chúng nó bên phía núi Chò, hơi xa nên tôi lười đi chơi. Với lại, từ lúc nghỉ hè, cái Phúc đã lên Ỷ La giúp dì nó gói kẹo, nhiều lúc muốn gặp mà chịu. Tôi vuốt má cái Phúc.

- Bỏ làng đi mấy tháng trời. Tớ cưới vợ, biết đâu mà gửi thiếp mời!

- Cưới ai thế?

Vừa lúc cái Thu nhễ nhại mồ hôi bưng nồi nước vào, tôi chất chưởng chỉ vào nó.

- Vợ tớ đấy! Được không?

Cái Phúc bậm môi, hất bím tóc ra sau lưng, nguây nguẩy kéo cái Hoa bỏ đi.

Vì sợ máy bay phát hiện, mấy cây đèn dầu đều có chao bằng giấy che bên trên, ánh sáng soi lờ mờ những khuôn mặt ngồi dọc hai dãy bàn. Bố tôi cũng có mặt, ngồi bên cạnh bác Thọ đội trưởng. Chị Hồng bí thư chi đoàn em hèm, e hèm, mãi mới cất lời được:

- Kính thưa đồng chí Hoành, chính trị viên xã đội! Kính thưa đồng chí Thọ, đội trưởng sản xuất! Thưa tất cả các đồng chí! Giặc Mỹ đã leo thang ra miền Bắc, ném bom tàn phá quê hương. Bọn ngụy quyền tay sai đang ra sức đàn áp, bắn giết đồng bào miền Nam thân yêu. Hận thù sục sôi, thanh niên chúng ta sẵn sàng lên đường chiến đấu. Hôm nay, chi đoàn chúng ta vinh dự tiễn đưa hai đồng chí Phùng Quang Ninh và Tạ Quốc Hùng thay mặt cho thanh niên làng Nà Rậm lên đường đánh Mỹ. Chúc hai đồng chí chân cứng đá mềm, phát huy truyền thống quê hương, hoàn thành nhiệm vụ Đảng và quân đội giao cho. Ở hậu phương chúng tôi xin hứa. Sản xuất giỏi, chiến đấu hay. Quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

Bố tôi cũng lên phát biểu, nhưng không nói nhiều như chị Hồng. Tôi rất khoái nụ cười rộng, sảng khoái của bố:

- Thưa các đồng chí thanh niên! Cả nước đang sôi sục khí thế đánh Mỹ. Bộ đội ta đang rầm rập trên các nẻo đường Trường Sơn. Chúng tôi, lớp chiến sĩ chống Pháp, dù đã có tuổi và bận công tác địa phương, nhưng cũng rất muốn được khoác súng lên đường. Tiễn đưa hai đồng chí tân binh lên đường lần này, mong chi đoàn thanh niên lao động sản xuất thay cả phần người ra đi. Chúng ta cũng sẵn sàng, lúc nào Đảng gọi là lên đường. Tôi xin hát một bài để góp vui cho cuộc liên hoan.

Tôi ghé tai thằng Dũng.

- Lại Bao chiến sĩ oai hùng.

- Sao mày biết?

- Bài tủ của bố tao mà!

Bố tôi cũng vừa hắng giọng, rồi hai tay vung lên, tự đánh nhịp. “Bao chiến... sĩ oai hùng... Lạnh lùng vung gươm ra sa trường...”. Bọn chúng tôi ngồi dưới, đập tay lên bàn, gõ nhịp. Rầm! Rầm! Rầm! Rầm. “Quân xung phong... Nước non đang chờ. Mong thân trai, hồn non nước, khí thiêng... muôn đời”. Anh Hùng chùi nước mắt vì xúc động. Anh Ninh ngoác mồm ra cười.

- Cháu xin góp vui một bài ạ!

Cuối dãy bàn bên kia, trong ánh đèn dầu, thấp thoáng cái mặt bầu của cái Phúc. Nó đứng dậy trong tiếng vỗ tay rào rào, trên tay cầm một cành sim tím. Cái Phúc là quản ca lớp tôi, giọng hát nó khỏi chê. Đảm bảo các anh chị trong chi đoàn phải lác mắt. Nó đã cất giọng, giọng nữ trầm, lúc đầu nho nhỏ, rồi vút lên tha thiết. “Qua núi qua sông, qua đồng lúa chín. Quê hương anh đó tím đỏ đồi sim. Chân bước đi xa lòng còn để lại... Quê hương anh đó, ngỡ quê hương mình. Nguyễn Viết Xuân. Lời anh nói thiết tha, như ngọn gió vang xa, như tiếng ca giục giã, thôi thúc trong lòng ta... tiến quân trên đường dài”. Chúa thật! Chúng tôi mới được học tập gương chiến đấu dũng cảm của Anh hùng Nguyễn Viết Xuân, bộ đội cao xạ pháo, với câu nói bất hủ: “Hãy nhằm thẳng quân thù mà bắn!”, thế mà cái Phúc đã thuộc được bài hát, không hổ danh là quản ca lớp 7B. Cái Phúc dừng lời, tôi hét lên trong tiếng vỗ tay: “Hoan hô quản ca!”. Hình như bên ấy ném sang một cái liếc mắt nửa vui, nửa hờn trách. Đèn tù mù, nhưng tôi đã nhìn thấy, bằng cảm tính.

Thằng Dũng níu tay tôi, hốt hoảng:

- Làm thế nào bây giờ hả Bình?

- Cái gì?

- Cái Thu không chịu về một mình!

- Thì mày đưa nó về.

- Bố bảo tao cũng không dám. Nhỡ mẹ nó đón đường, đánh tao thì sao?

Tôi bực mình, ghét thằng thỏ đế. Nó nghĩ ra lắm trò, nhưng vào cuộc thì thụt vòi lại.

- Thôi được! Tao với mày cùng đưa nó về.

Từ nhà kho hợp tác về tới nhà cái Thu khá xa, lại toàn đường vắng. Bỏ nó về một mình thật không đành. Nhưng hai đứa bạn học là cái Phúc, cái Hoa còn loanh quanh chưa chịu rời bước, tôi cũng ngại. Tôi nói nhỏ với thằng Dũng, bảo nó đưa cái Thu ra đến gốc đa thì đứng chờ. Hai đứa vừa đi khuất, tôi lấy can đảm bước tới chỗ hai đứa bạn.

- Quản ca hát hay quá! Hôm nào dạy mình với nhá?

Cái Phúc chăm chú nhìn đuôi tóc dài trên tay, không nói gì. Cái Hoa bất ngờ xen vào.

- Cậu thì thiếu gì người dạy hát mà phải nhờ cái Phúc. Thế cưới vợ rồi, còn đi học nữa không? Sắp khai giảng rồi đấy.

Tôi ngán cái giọng chua loét của cái Hoa, nhưng vẫn phải trả lời:

- Đùa đấy mà! Tớ học xong, đi bộ đội về rồi mới cưới vợ.

Cái Phúc bỗng cười ngặt ngoẽo.

- Lúc ấy cho ở giá. Ở nhà, người ta ai cũng lo lấy chồng, chờ ông cho chết già à. Lo ôn bài đi, lêu lổng vừa thôi. Ngày hai mươi lăm tập trung tại trường để tu sửa hầm hào, lớp học đấy. Đã biết chưa?

Tôi buột miệng:

- Chưa!

Tuy vậy trong bụng tức anh ách. Nó làm như mẹ người ta ý. Bầm tôi còn chưa căn vặn tôi như nó. Tôi giơ tay.

- Chào! Tớ về đây. Hôm nào đi lao động, qua nhà hú một tiếng.

Giận dữ, tôi đá tung đám cỏ dưới chân, cắm đầu đi một mạch về nhà. Con vàng rít lên mừng rỡ ở cổng. Bà nội nằm trên chiếc võng đay, nói vọng ra.

- Ới cu mèo! Nhớ rửa chân rồi hãy đi ngủ nhá. Đêm nào cũng tha đất cát lên giường, bố mày chửi mãi mà không chừa.

Tôi ra giếng. Chiếc gàu mo cau õng ẹo lật qua, lật lại không chịu vào nước. Chết rồi! Còn thằng Dũng. Giờ tôi mới nhớ ra còn hai đứa chờ tôi ngoài gốc đa tám cội. Bây giờ mà đi nữa thì no đòn. Tiếng điếu cày roen roét trong nhà. Từ hôm giận bầm tôi, bố đập mất cái điếu bát, phải dùng điếu cày hút thuốc lào.Thôi kệ! Chúng nó lớn cả rồi. Thằng Dũng chờ lâu không thấy, khắc phải đưa cái Thu về. Tôi nằm xuống bên bố, mùi thuốc lào hôi khét lẫn vào giấc ngủ.

Tôi đang vắt vẻo trên cây ổi đào thì thằng Dũng mò đến. Nó nhót ngay lên cây, chọn một quả ổi ương, nhét vào mồm.

- Ổi đào nhà mày ngon, nhưng không bằng cây ổi mỡ nhà tao.

Công nhận thế. Cây ổi đào ruột đỏ, ngọt, nhưng lắm hột, ăn nhiều táo bón rặn rách lỗ đít. Cây ổi mỡ nhà thằng Dũng, quả nhỏ hơn, nhưng ít hột, ruột trắng và mềm. Góc sau vườn còn có cây ổi trâu, quả to bằng nắm tay. Loại này vỏ dày, hay bị bọ xít chích nổi mụn sần sùi, khi ăn phải cạp bỏ vỏ, lúc nào đói quá tôi mới đụng đến, còn toàn bỏ rụng đầy gốc. Thằng Dũng chẳng ý định trách móc tôi. Chờ mãi, tôi phải lên tiếng trước.

- Tối qua, bố tao bắt về sớm nên không ra gốc đa được. Mày có đưa nó về không?

- Xì! Mày nhát chẳng dám ra thì thôi, viện cớ. Chờ đến hơn chín giờ, tao phải đưa cái Thu về. May mà mẹ nó đi ngủ rồi.

Thằng Dũng nhằn ra miếng ổi xanh, nhổ toẹt. Nó cười thỏa mãn.

- Tao cứ tưởng mày nhường cái Thu, nên tán phét một hồi. Con này máu lắm.

Thằng Dũng ghé tai tôi, thì thầm:

- Tao hôn nó rồi!

Tôi suýt rơi từ trên cây xuống. Thằng này nói gì mà ghê thế. Thế là thế nào. Thằng Dũng cười khèng khẹc.

- Là ôm hôn nó chứ thế nào!

Rồi nó kể tỉ mẩn cho tôi nghe chuyện tối qua dưới gốc đa làng. Cái Thu lúc đầu định khóc vì lâu quá không thấy tôi ra. Thằng Dũng dọa, khóc nhiều ma nó ra là chết cả đám. Vừa lúc ấy, một tiếng vỗ phành phạch trên ngọn đa bung ra. Tôi thì biết tỏng là con vạc sành đi ăn đêm, nhưng chắc cái Thu sợ nên ôm cứng lấy thằng Dũng. Ngực cái Thu nóng và đầy đặn, ấp vào bộ ngực lép của thằng kia. Liều mạng, nó ôm lấy con bé. Cái Thu tấm tức khóc, đòi về.

- Chiều nay, nó theo bọn mình đi thả trâu. Mày núp kín một chỗ, tao làm lại cho mà xem.

Tự nhiên trong bụng tôi nóng bừng. Tôi cảm thấy ghét cái Thu vô cùng. Nhảy từ trên cây xuống đất, tôi bảo:

- Đi thôi!

Thằng Dũng ngơ ngác trên cây.

- Đi chăn trâu hả? Còn nắng lắm.

- Nắng cũng đi! Mày hẹn cái Thu ở đâu?

- Ở đồi Bắp Bò! Tao với mày bẻ cho nó ít củi. Vườn trẩu gần đấy rất nhiều cành khô.

Tôi hậm hực ngồi sau bụi sim lớn, ngóng về phía gốc trám cách khoảng chục bước chân. Thằng Dũng đuổi hai con trâu vào thung lũng có bãi dây mua đất, rồi đi đi lại lại quanh gốc trám, miệng huýt sảo inh ỏi. Dưới mương có tiếng cái Thu.

- Bình ơi! Dũng ơi!

Tí nữa thì tôi buột mồm, thưa. Nó gọi tên mình trước, tôi khoái chí nghĩ. Thằng Dũng lật đật chạy đi đón cái Thu. Không biết nó nói gì, mà vừa tới cái Thu đã nhìn quanh, hỏi:

- Đâu?

- Tí nữa nó mới đến!

Tôi biết hai đứa đang nhắc tới mình, liền bò xuống, chống hai tay dòm qua bụi sim. Cái Thu mặc chiếc áo gụ, cũ rồi nhưng may rất vừa. Trông nó thắt đáy lưng ong, hai bầu ngực rung rung trong lần áo bạc, nhìn đẹp chẳng kém gì chị Hồng bí thư chi đoàn. Thằng Dũng quần đùi hở hai ống chân khẳng khiu, đầy sẹo, đứng như bù nhìn rơm dựng cạnh tiên nữ. Thằng khỉ nhìn chòng chọc vào ngực cái Thu, miệng cợt nhả:

- Đêm qua, sợ ma không?

Cái Thu lắc đầu, bĩu môi:

- Ma cũng chẳng sợ bằng sợ người.

- Ngồi xuống đây tớ bảo.

Thằng khỉ kéo cái Thu ngồi xuống bãi cỏ, bất ngờ ôm choàng lấy nó. Cái Thu vùng ra, vung tay tát lia lịa vào mặt thằng Dũng:

- Thằng khốn nạn! Đêm qua tao đã không nói gì rồi, bây giờ lại giở thói du côn.

Nó co chân, đạp cho thằng Dũng lăn lông lốc. Tôi thấy thằng Dũng cố đạp hai cẳng vào giữa khoeo cái Thu, banh chân nó dạng ra. Nguy rồi. Tôi vùng dậy phóng tới, túm gáy thằng Dũng lôi dậy. Thằng khỉ phát khùng, vung tay đấm vào má tôi, đau điếng. Hả! Thằng này rồ rồi. Tôi to béo gấp đôi thằng Dũng, định không chấp, nhưng bị đòn đau thì giận quá mất khôn. Quật thằng khỉ đánh oạch một phát xuống cỏ, tôi tì đầu gối lên ngực nó, đấm vô hồi kỳ trận. Cái Thu cuống quýt kéo tay tôi ra, miệng kêu gào:

- Thôi! Đừng đánh nhau nữa! Bình ơi! Van cậu đấy, nó đổ máu mũi rồi kia kìa.

Tiếng máy bay bất ngờ rèn rẹt trên đầu. Tự nhiên cả ba đứa buông nhau ra, ngồi thụp xuống. Bầu trời mây xanh trong, hai chiếc máy bay phản lực như hai cái vỉ ruồi lấp lóa, to bằng bàn tay lao vun vút. Máy bay bắt đầu chúi xuống, bay vòng trở lại. Tiếng pháo phòng không vọng đến lục bục, cùng với những đám mây trắng nhỏ nổ bung xung quanh, đằng trước, đằng sau lũ máy bay. Chẳng chiếc nào trúng đạn cả. Bộ đội mình sao bắn dở thế nhỉ? Tiếng máy bay gào rú một hồi, khói đen cuồn cuộn bay lên sau núi Chò, chắc nó ném bom phía nhà máy phân lân. Không biết từ lúc nào, tôi kéo cái Thu vào trú dưới gốc cây cọ thấp, những cành cọ che lòa xòa trên đầu, tưởng như mái hầm chữ A ở trường. Cái Thu ngồi nép vào ngực tôi, thở hí hóp vì sợ. Nhìn quanh, không thấy thằng Dũng đâu. Chắc nó giận tôi, dắt trâu đi chỗ khác rồi. Bầu trời yên tĩnh trở lại, tôi nắm tay cái Thu, kéo đứng dậy.

- Thu đi kiếm củi phải không? Ra phía đồi trẩu, tớ trèo bẻ cho một gánh.

Nó ngoan ngoãn đi theo tôi, hai mắt đỏ hoe. Tôi bảo nó:

- Ngồi chờ tí nhá! Tớ đi tìm con trâu. Khéo nó vào nương sắn, say chỏng vó thì chết.

Tôi đang chạy, mắt chạm phải vật gì sáng lấp lánh đằng trước. Cầm lên xem, thấy là miếng vỏ gang mới vỡ, dài bằng ngón tay, lởm chởm cạnh sắc. Chắc là mảnh đạn pháo rơi xuống, vẫn còn nóng. Tôi rùng mình, lỡ mảnh pháo này xuyên qua mấy tầu lá cọ, rơi đúng đầu tôi hoặc đầu cái Thu, chắc là chết thảm giống thằng Thứ năm ngoái.

Gánh củi to tướng, nhưng nhẹ tênh vì toàn cành trẩu. Cái Thu cười hớn hở, hai má đỏ hồng lấm tấm mồ hôi. Phải nói là trông nó rất đẹp. Đẹp hơn cái Phúc nhiều. Nó co ro đặt gánh củi lên vai. Con bé này chắc được mẹ chiều, không quen gánh vác. Tôi nhấc gánh củi khỏi vai nó, đặt lên lưng trâu, mỗi đứa giữ một bên củi.

- Chuyện thằng Dũng, Bình đừng nói với ai nhá. Xấu hổ lắm. Bác Hữu mà hay, đánh nó chết.

Tôi ừ cho qua chuyện, chứ biết thừa chú Hữu hay bênh con, có khi còn nói: “Con gái không biết giữ thân, dại cho chết”. Đến lối rẽ về nhà ở gốc đa, cái Thu nhăn mặt gánh củi về. Tôi thấy thương nó. Nếu không có vụ bầm tôi và mẹ nó đánh ghen, tôi sẵn sàng gánh đỡ nó về nhà.


***


Lần đầu tiên trong đời tôi nhận được thư. Chú bưu tá leng keng chuông xe đạp ngoài cổng.

- Phạm Hòa Bình có thư nhá!

Bầm tôi chạy từ trong nhà ra, như ma đuổi.

- Thư hả chú? Thư ai?

- Nguyễn Thu Nguyệt, hòm thư 7986... Con gái chị à?

Bầm tôi lật sấp, lật ngửa lá thư, đánh vần từng chữ.

- Quái nhỉ! Thằng ranh này… mới bằng quả ớt mà đã có người yêu à?

Tôi chăn trâu về, ngồi ăn cơm mà nhìn thấy ánh mắt dò xét của bầm chiếu vào mặt. Tối, bầm kéo tôi xuống bếp:

- Cu! Mày khai thật với mẹ đi. Mày có người yêu từ bao giờ?

Tôi giật mình, lo lắng. Chẳng lẽ chuyện tôi và cái Thu ôm nhau dưới gốc cọ đã đến tai bầm. Chắc thằng Dũng trả thù đây. Tôi ấp úng:

- Ai bảo bầm thế?

- Mày không lo học hành, nứt mắt ra đã yêu đương. Nhà trường biết thì tống cổ về đi nhặt phân trâu.

- Con yêu bao giờ...

Bầm tôi dí lá thư vào mặt:

- Không yêu mà gái gửi thư về tận nhà?

Tôi phì cười, bầm chỉ rung cây dọa khỉ. Làm gì có chuyện đó. Chắc thư của bố chứ gì. Bầm tôi gắt lên, giục đọc đi, đọc đi, thằng đốn đời. Tôi cầm lá thư, bỗng nhảy cẫng lên vui mừng.

- A! Thư chị Nguyệt! Chị Nguyệt đi thanh niên xung phong viết thư về cho con. Chị Nguyệt con bác Hữu, bầm nhớ không?

Bầm tôi ngẩn người.

- Con bé có người yêu hy sinh ấy hả? Nó đi thanh niên xung phong bao giờ?

Bầm tôi có quan tâm đến việc làng nước bao giờ mà biết. Tôi xé thư, ngấu nghiến đọc. Bầm tôi vừa đun cám lợn, vừa lắng nghe:

Đèo Linh Cảm ngày... tháng... năm…

Em Bình thương và nhớ!

Thấm thoắt đã bốn tháng chị em mình xa nhau. Chị đi xa, nhớ quê hương, gia đình và nhớ cả em, người từng chứng kiến mối tình đầu của chị. Hôm nay, từ trận địa trực chiến trên đèo Linh Cảm xa xôi, tranh thủ lúc tạm yên tiếng máy bay, chị viết thư về thăm em. Lời đầu thư, cho chị gửi lời chúc sức khỏe gia đình và lời chào quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.

Chị vào thanh niên xung phong, được lệnh hành quân gấp vào chiến trường Khu bốn. Trong này chiến tranh phá hoại của địch ác liệt lắm em ạ, không như ngoài mình đâu. Đơn vị của chị được phân công đảm bảo giao thông nửa cây số đường đèo, chỉ nửa cây số thôi nhé, mà hứng chịu bao nhiêu bom đạn. Bọn địch quyết phá hỏng tuyến đường huyết mạch không cho xe vận tải của ta chở hàng vào chiến trường. Một ngày chúng đánh vài chục trận. Mỗi khi đường bị phá, đơn vị nhanh chóng khắc phục, mở đường cho xe đi vào. Những đêm bộ đội hành quân qua trạm, vui lắm em ạ. Hai bên hò hát, đối đáp ác liệt, hỏi thăm đồng hương, xin địa chỉ hòm thư... Mỗi khi nhìn thấy đoàn quân áo xanh, rợp lá ngụy trang rầm rập đi qua, chị tưởng tượng trong ấy có anh Hậu. Công việc không kể ngày đêm, bất cứ giờ giấc nào, có khi bỏ cả ăn để lấp hố bom, nhưng chị không hề nản, chị thấy đang từng ngày, từng ngày trả thù cho anh Hậu em ạ”.

Lá thư còn dài lắm, nhưng tôi bảo hết rồi, không đọc nữa. Chị Nguyệt viết thư rất cảm động, tôi muốn khóc nhưng có bầm bên cạnh nên không dám. Tôi tính ngày mai, sẽ đem cho thằng Dũng cùng đọc. Ồ, nhưng mà nó còn hận tôi vì trận đòn bênh cái Thu, chắc gì thèm gặp. Nếu không gặp thằng Dũng, tôi cho cái Thu xem vậy.



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ TâyNinh ngày 02.12.2017.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004