Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới

Đình Quảng Bá (HàNội)





Quảng Bá



  T ên chính của làng xưa gọi là Quảng Bố, từ thế kỷ thứ VIII, khi đoàn nghĩa sĩ do Phùng Hưng dẫn đầu từ Đường Lâm tiến về vây thành Tông Bình ( Đô hộ phủ), đã đi qua Quảng Bố, dừng chân tại làng, rồi tuyển quân là người làng mà tiến đánh thành Đô hộ phủ (Tống Bình) làm cho quan đô hộ nhà Đường là Cao Chính Bình lo sợ mà chết, nghĩa quân chiếm lấy thành, tôn Phùng Hưng làm vua. Lần giở cuốn sử ca bằng chữ Nôm ở thế kỷ XVII thì tên gọi Đường Lâm đã xuất hiện từ thế kỷ VII-VIII gắn liền với sự tích lẫy lừng của vị anh hùng dân tộc Phùng Hưng:


Đường Lâm sinh có anh hùng

Bấy chừ một đạo quân Phùng nổi lên

Thiên Nam ngữ lục


Theo lời kể dân gian và sách Việt Điện U Linh viết thời Lý Trần thì Phùng Hưng quê ở Đường Lâm là người có sức khỏe phi thường, đánh được hổ, vật được trâu, em ông là Phùng Hải cũng có sức mang đá nặng ngàn cân hoặc cõng thuyền nặng nghìn hộc mà đi tới mười dặm. Do có sức khỏe thần dũng lại giỏi vật nên dân các ấp xa gần đều kính phục tôn Phùng Hưng là Đô Quân (vua của các đô vật) và tôn em ông là Đô Bảo (thủ lĩnh các đô vật), chính vì vậy mà khi anh em họ Phùng nổi dậy ở Đường Lâm để chống ách đô hộ của nhà Đường (7066-779) thì nhân dân khắp các trang ấp gần xa đều hưởng ứng. Nghĩa binh Phùng Hưng từ ấp Đường Lâm kéo về vây phủ thành Tống Bình (Hà nội bây giờ) viên quan Đô hộ là Cao Chính Bình đã sợ mất mật mà ốm chết....Phùng Hưng giữ quyền tự chủ được 7 năm thì chết (791),được nhân dân suy tôn là Bố Cái đại vương, hay là Bua Cái theo cách gọi của người Việt cổ. Sách Thiên Nam ngữ lục chép rằng:


Miếu tôn chính vị trọng thay

Xưng thụy tên rày Bố Cái đại vương

Đến nay thói tục triều phương

Gọi cha là Bố thói thường nên bia

Trích Xứ Đoài của Kiều Thu Hoạch


Ông Phan Kế Bính viết trong “Nam Hải dị nhân” khi viết về Phùng Hưng có đoạn “Khi ông Phùng Hưng mới mất, thường có hiển linh... Dân gian thấy lắm sự hiển linh mới lập miếu ở mé Tây phủ Đô hộ để thờ, dân có việc cầu đảo thường ứng nghiệm lắm ... Đến thời Ngô Quyền, khi có giặc Bắc sang xâm phạm, Ngô chủ nằm mơ thấy một ông cụ đầu bạc phơ, mũ áo chỉnh tề tự xưng là Phùng Hưng và nói rằng: “tôi xin mang thần binh phục sẵn ở chỗ hiểm yếu, ông nên tiến binh mà đánh giặc , đã có tôi giúp không cần phải lo”. Đến lúc Ngô chủ đánh nhau vởi Hoằng Thao ở sông Bạch Đằng quả nhiên nghe trên không có tiêng binh mã ầm ầm, Ngô chủ phá được quân Nam Hán trở về sai sửa sang đình miếu cho hoa mỹ rồi dùng lễ thái lao để tạ ơn. Từ bấy giờ trải qua các triều đại đều phong Ngài là: “Phu Hựu Chương Tín Sùng Nghĩa đại vương”. Từ đó, dân vùng này thờ Phùng Hưng và 6 bộ tướng ở đình làng, lại có tục kiêng chữ Bố, gọi Quảng Bố chệch âm thành Quảng Bá, cha mẹ gọi thành Bá Cới. Xã Quảng An trước đây thuộc huyện Từ Liêm, từ năm 1996 thành lập quận Tây Hồ thì xã Quảng An đổi thành phường Quảng An, trước khi trở thành một phường đời sống nhân dân có nhiều khó khăn. Sau khi lên phường, liên tục ở Quảng An có những cơn sốt đất, quy hoạch đất du lịch để xây biêt thự, xây khách sạn.đã tạo cho người dân các thôn Nghi Tàm, Tây Hồ, Quảng Bá từ người nông dân nghèo trở thành triệu phú . Kinh tế của phường Quảng an đã có một tỷ trọng nhất định trong Ngân sách của quận Tây Hồ.

Đất và người đã có nhiều thay đổi, nhưng lễ hội truyền thống vẫn được người dân trân trọng giữ gìn và tổ chức trọng thể. Năm 2002, tại hội thảo bảo tồn di sản văn hóa Thăng Long, tiểu ban di tích đình Quảng Bá đã báo cáo về “những biện pháp khai thác, huy động nguồn kinh phí tu bổ và tôn tạo di tích đình Quảng Bá”. Báo cáo nêu rõ: Đình Quảng Bá thờ vị anh hùng dân tộc Phùng Hưng, được xếp hạng DTLS -VH năm 1991. Đình được tu tạo từ năm 1936, trải qua hơn 60 năm qua các thời gian, hoàn cảnh đình bị xuống cấp nghiêm trọng, có nguy cơ sụp đổ. Trước nguy cơ đó, Ban Quản lý di tích đã họp bàn đề nghị với Nhà nước có kế hoạch bảo tồn di tích. Sau nhiều lần khảo sát của cán bộ Bảo tồn Bảo Tàng, Sở Văn hóa Thông tin Hà Nội có công văn đề nghị Bộ Văn Hóa cấp kinh phí tu bổ. Trong kinh phí dự toán, số vật liệu thay thế cho sửa chữa 3 gian đình là 600.000.000 đồng, thực tế được các cấp giúp kinh phí là 160.000.000 đồng, còn thiếu xa so với yêu cầu. Trước tinh hình như vậy, Ban Quản lý Di tích đã họp dân để huy động sự từ tâm của mọi gia đình. Khi hạ giải đình, thực tế khác xa với dự tính: Tất cả các chi tiết của đình Quảng Bá đều bị mọt, nếu sủa chữa thay thế thì kinh phí lên tới hàng tỷ đồng, mà đình thì đã dỡ rồi không thể để đình đã hạ giải nằm chờ tiền, Ban Quản lý lại một lần nữa họp dân ... thông qua cuộc họp dân, đã có nhiều gia đình đóng góp tiêu chuẩn trên 10.000.000 là tương đương với một cột đình ,được khắc vào bia đá ghi công mãi mãi, nhiều gia đình có đến 3 thế hệ cùng đóng góp xây đình, nên chỉ sau 150 ngày ngôi đình đã trở lại hình dáng ban đầu

Tại đình làng Quảng Bá bây giờ, tuy có đầu đao nơi bốn góc mái, nhưng đình ngày nay có hạn chế bởi các nhà to xây chung quanh. Tấm bia lập năm 1841 kể lại thân thế và sự nghiệp của Phùng Hưng và 6 vị bộ tương thân cận. Trước cửa đình,có đôi câu đối :


        Bắc khấu đế bình, Vạn cổ sơn hà khai quốc thống

        Nam bang phi mạo, triệu dân phụ mẫu ký dân bi

dịch là :

        Giặc Bắc dẹp yên, muôn thuở vững non sông, ghi công mở nước.

        Nước Nam vùng dậy, triệu người tôn ông là Cha Mẹ, bia tạc lòng dân.


Hàng năm hội làng tổ chức theo xuân thu nhị kỳ, nhưng thường tổ chức hội to vào ngày đầu xuân. Đầu xuân Kỷ Sửu (2009) làn mưa bụi nhẹ nhàng bay trong gió phủ một lớp mỏng trên mặt Hồ Tây và cây cảnh quanh hồ. Đôi khi làn gió xuân ấm thoảng bay, người ta trông thấy trên mặt hồ có những chiếc thuyền con, hoặc xa xa phía đường Thanh Niên có hàng cây phượng vĩ rụng hết lá, giơ những cành đen sẫm hứng nước để ươm mầm nẩy lộc. Từ tám giờ sáng, đoàn người rời đình Quảng Bá tiến ra chùa Hoàng Ân (cũng gọi là chùa Quảng Bá) lấy nước mưa tinh khiết về đình làm lễ mộc dục, đoàn rước đông đảo, tuy ngai thờ vẫn để trong hậu cung nhưng nghi thức rước bài vị đi theo rất tôn nghiêm. Mở đầu đoàn rước có đội múa sư tử và đội múa rồng. Sư tử đi đầu dẹp đường, còn rồng thì lượn quanh long đình. Để tăng thêm sự tôn nghiêm còn có một đoàn các vị trong đội tế nam, họ mặc áo tế, tay mang chấp kích, đi hộ vệ sau kiệu. Đoàn rước cứ thế đi qua các con đường làng nay đã trải bê tông, qua đình làng Tây Hồ, lên đường Xuân Diệu rồi xuống dốc ra ven hồ vào đình. Đi theo đoàn rước ngoài các cụ mặc y phục đẹp, còn có một đoàn quân cờ người. Đây là một thú chơi trí tuệ thanh tao, mà đội quân cờ người phường Quảng An thường tự hào mỗi khi có hội làng. Thi đấu cờ người thường là nơi đó phải là một làng giàu có, trí tuệ cao Để có thể phát triển, xây dựng nên đội quân “cờ người”, phường Quảng An phải chọn 16 quân Nam, 16 quân Nữ tượng trưng cho các quân cờ. Ban tuyển chọn rất khắt khe khi tuyển chọn từng ngôi vị, ví dụ khi tìm Tướng ông, Tướng bà phải là các vị đẹp lão, đạo cao đức trọng, các cụ mặc trang phục tướng, họ được ngồi ghế bành trong trận, có cờ tướng đeo sau lưng ,di chuyển có người phụ nâng ghế. Còn các quân khác thì theo chữ mà chọn người: Quân Sĩ dáng nho nhã, quân Xa, quân Pháo, quân Mã dáng vẻ chiến tướng, quân Tốt thường có dáng vẻ nghiêm chỉnh chỉ biết theo lệnh trên, các quân ấy đều mặc trang phục riêng biệt, quần áo đẹp, màu sắc rưc rỡ. Tại đình Quảng Bá, sau khi đã tế thần, người Hội chủ đánh cờ người gõ trống khẩu dẫn đội cờ ra nhận chỗ, đoàn quân đi một vòng quanh sân chào khán giả rồi ai nấy nghiêm chỉnh vào nhận chỗ của mình.Dàn quân xong, người ta dẫn ra hai vị kỳ thủ, đó là những ông cao cờ đã thắng trong cuộc đấu vòng bảng, nay vào chung kết, được cầm quân trổ tài trong ngày hội làng. Các ông đến chào vị tướng của mình rồi bốc thăm chọn nước đi, trống khẩu gõ “tong tong” giục giã, hai vị kỳ thủ đứng trên đài cao quan sát, cạnh mỗi vị đều có một người trợ lý cầm cờ hiệu. Quân Đỏ đi trước, ông Trúc chỉ tay ra hiệu, người trợ lý cầm cờ bước vào trận, đập nhẹ vào quân Pháo dẫn đi. Tiếng loa xướng lên: “Pháo hai bình năm”. Bên quân Trắng, ông Mai cũng ra quân, người trợ lý cầm cờ đến quân Mã dẫn lên. Tiếng loa hô tiếp “Mã tám tiến bẩy”. Lại có người ngoài sân hát đế theo :


Pháo đầu là nước hiểm nguy

Thế trận nghịch pháo tính suy thế nào ?


Thế cờ mỗi lúc một biến chuyển ,lúc đầu còn thăm dò, sau đã sang xe,sang pháo, quân của hai bên đã có nhiều kẻ bị chém . Những quân bị “ăn” lui về ngồi sau tướng của mình. Họ bị “chém” mà mặt vẫn vui,vì từ sáng tới giờ, quân cờ tướng đi theo đám rước từ chùa Hoàng ân về đình ,lại phẩi đứng dưới nắng nghiêm chỉnh trong hội cờ, nay được ra ngoài, ai mà không thích. Quân Đỏ đang dồn quân Trắng vào thế bí, Sĩ Tượng rối rít che chắn cho Tướng Bà trong khi Tốt đỏ có Mã dẫn đường cứ từng bước tiến sâu, người hiểu thế cờ hết lời thán phục ông Trúc cao cờ, một đám đông người nước ngoài ngụ cư tại Quảng An cũng xen vào chụp ảnh liên tục. Có lẽ họ tìm những nét đẹp của Hội làng, tìm hiểu cái thâm thúy của nghệ thuật chơi cờ người. Bên Đỏ đã thắng! Theo nhịp trống, quân sĩ đôi bên cùng bước vào trận thế,dàn quân làm lễ Thánh rồi quay ra cúi chào khán giả. Làng Quảng Bá xưa, nay đã thành Phường,thành Phố,nhà cao tầng,biệt thự xen nhau nhưng ngày Hội Xuân vẫn phấp phới lá cờ Thần thêu chữ “Quốc Thái Dân An”. Nghìn năm qua, mặt nước Hồ Tây lúc xô lúc lặng nhưng làm sao xóa được nếp sống, phong tục,hội hè đình đám của đất kinh kỳ. Tan hội, tôi nán lại gập cụ Nguyễn Duy Duyệt để hổi về các việc xưa của làng. Cụ nói: “Làng Quảng Bá này xưa là đất nghèo, chỉ có trồng quất, trồng hoa, có khi trồng cây không hợp thời vụ thế là bị đói. Đã đói lại còn ở mất vệ sinh, đau mắt lan tràn, khi có vinh dự được chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm, khuyến khích nhân dân đào giếng, từ đó Quảng An mới có nhiều đổi thay.

-Thưa cụ, câu chuyện cụ Hồ về Quảng An thế nào,xin cụ kể lại:

- Đó là ngày 14-8-1962, Bác Hồ về thăm nhân dân xóm Quảng Khánh, thấy học trò bị đau mắt nhiều, Bác không hài lòng. Ngày 29-9-1962 Bác Hồ lại về dự họp cùng nhân dân ở đình Quảng Bá, khuyến khích nhân dân đào giếng. Bác nói: “Bác dành tiền lương của Bác tặng nhân dân trong xã mua vật liệu để xây một giếng, còn việc đào thì nhân dân phải tự làm lấy”. Từ ngày Bác Hồ về, xã Quảng An đã có nhiều thay đổi, làng xóm khang trang sạch đẹp, trong nhân dân có câu ca dao rằng:

Bác về thăm xã Quảng An

Giếng khơi trong mát, xóm làng đổi thay

Bây giờ Phường Quảng An đã là một phường lớn của quận Tây Hồ, nhân dân đã xây dựng đài kỷ niệm Bác Hồ về thăm, để đời đời nhắc nhở với con cháu ơn nghĩa của Người.

Hỏi cụ về các ông lang, ông giáo ngày trước, cụ nói: Làng tôi trước kia có một ông giáo người phố Hang Quạt ngày ngày lên dạy các trò học chữ quốc ngữ.. Chưa có trương, làng tôi lấy văn chỉ làm nơi học cho các cháu, gọi là Trường Quảng Bá.

Về các ông lang, thầy thuốc ngày xưa cụ từ đình nói: “Ngày xưa, chúng tôi có ông lang Hàm, cụ lang Hồi, và cụ lang bà Ngô Thị Nậm, Sau năm 1954, các cụ thành lập tổ Đông y để chữa bệnh cho nhân dân”. Cụ Duyệt hóm hỉnh nói: “Cái đất Quảng bá mà Chủ tịch Hố chí Minh về thăm xưa kia nghèo nàn, bây giờ đã là làng to, Tây thuê nhà ở đây rất nhiều nên quất vàng không ai trồng mà đua nhau phá vườn để xây biệt thự cho Tây thuê. Mà Tây cũng chọn nhà lắm, nên có chủ nhà đã ăn quả đắng, xây nhà kiểu à ơi, bỏ đi hàng trăm triệu, sau phải thuê Kiến trúc sư vẽ nhà theo kiểu Tây, lúc đó mới có khách”..



. . Cập nhật theo nguyên bản của tác giả từ HàNội ngày 26.11.2017.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004