Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới

tranh của họa sĩ Lương Tín Đức (VĩnhLong)






PHÍA BÊN KIA SÔNG





- Đồ chó, mày là thứ quái quỷ nào thế, không biết tao là chủ chái bếp này à. Con mèo trừng mắt điên tiết.

Đó là hôm tôi đến nhà này, như cô dâu mới về nhà chồng, chân ướt chân ráo, ngại va vấp. Vả lại, tôi tuy to con lớn xác hơn nó, nhưng tuổi đời còn non choẹt, răng cỏ chưa ra gì, đánh nhau không tiện. Tôi lảng xa miếng thịt nướng mà hắn đang chiếm giữ. Đi mà không đành. Ôi, cái mùi thịt nướng nó quyến rũ làm sao, tôi ngưỡng mộ hết biết. Tuy không ngọt bằng thịt sống tươi giòn, món mà tổ tiên tôi vẫn thừa kế nhưng thịt nướng rõ ràng là hợp vệ sinh hơn nhiều. Uống sôi, ăn chín không phải là câu châm ngôn thời thượng đấy sao. Sống với con người phải biết học cái hay, cái giỏi của họ, gần mực thì đen gần đèn thì sáng mà. Tôi vẫn loanh quanh quanh miếng thịt, nó tức khí :

- Sao mày lì thế, thằng chó kia, đi chỗ khác chơi.

- Tao chỉ ngửi thôi mà

- Ngửi cũng không được

Miệng nhai nhót nhép, tay giữ miếng mồi, trông nó cứ như sướng lắm. Tôi dụ khị :

- Mày nói gì, tao không nghe

- Đã bảo rồi, đi chỗ khác. Nó giơ tay múa chân.

Chỉ cần thế, nhanh như chớp tôi nhào vô nẫng miếng thịt, định chạy biến nhưng chậm hơn nó, hai cái tát vào mặt tôi đau điếng, toé lửa. Diễm phúc cho tôi khi đạt được điều mong muốn, còn nó chắc tiếc lắm râu vểnh lên, mắt sòng sọc nhìn vào quá khứ, thòm thèm. Nó gào lên chuỗi âm thanh rờn rợn, thứ âm thanh mà ông tổ nhà nó dùng để đối kháng với kẻ thù. Khi công việc nhai và nuốt được giải quyết xong, tôi vào bếp khoanh tròn, xí chỗ. Nó tức lắm, ngồi đối diện bên này bếp, rửa mặt vuốt râu.

Bếp quê chụm rơm tuy bụi bặm mà thích thật, trải rơm ra, nằm lên, cháy tới đâu mình lùi ra tới đó, sướng hơn nệm Kim Đan nhiều. Đang thiu thiu thì bà chủ gọi, Cốc Keng..Cốc Keng..mày đâu rồi, không thấy nó dạ, chắc bả gọi mình. Tôi vươn vai, vươn chân trong tư thế nằm nghiêng ra chiều mỏi mệt, đứng dậy phủi lại áo quần, ắc ắc vài tiếng thăm dò.

- Tội nghiệp cục cưng của tôi. Bà chủ ngọt ngào, bà mang tôi đặt vào cái thùng các tông có lót sẵn mớ vải cũ, bà ấn nhẹ đầu tôi xuống :

- Nằm im đó, tao lấy cơm cho ăn.

Bà mang đến cho tôi đĩa cơm thật ấn tượng, thịt xương các kiểu vừa nướng vừa kho vừa xào. Tôi hít hít làm ra vẻ không khoái cho lắm, bà dỗ dành, ăn đi ngoan nào…, nể tình tôi chén sạch sành sanh.

Còn nó, bà cho một tô xương cá tanh rình, nghĩ cũng tội, biết thế khi chiều tôi đã không trộm miếng ngon của nó. Tên nó là Miêu, một cái tên xấu xí như hàng ngàn cái tên mà người ta gọi chung cho những con mèo cưng của mình. Miêu là tiếng gọi chẳng cảm tình tí nào, giống kẻ trộm, kẻ lười, mũi dãi lúc nào cũng xều sợt, đỏ hon hỏn, õng a õng ẹo như trinh nữ lầu hoa không bằng.

Đêm nằm một mình tôi nhớ mẹ tôi lắm. Tôi nhớ mùa khô mẹ đi mò cá, mò cua, bắt về cho tôi con chuột đồng còn thoi thóp thở. Gia đình ông chủ nơi mẹ tôi ở chẳng giàu có gì, bữa ăn nào cũng rau là rau, trứng kho quẹt thường nhật. Hôm nào có cá thì mẹ được nhờ, còn không thì cơm trắng đã là sang rồi. Mấy đứa con ông chủ quý mẹ tôi lắm, đi đâu cũng dắt theo, nhờ thế mẹ tôi cũng kiếm được cái ăn ở ngoài đồng. Sát thủ khét tiếng một thời nay đành thất nghiệp, chim chuột rắn rít..không đủ cho con người nhai có đâu tới mẹ. Mẹ tôi gầy hơn tôi tưởng.

- Tiên sư cha đứa nào vãi ra giữa sân thế này.

Bà chủ nổi quạu. Chắc bà mắt nhắm mắt mở tương vào đống nợ nào đó chứ gì, bà trét ra nức nở cả nhà, hãi quá. Cốc Keng chứ chẳng ai, bà mang tôi ra chỗ bãi phân, dí mũi tôi vào đó và trót cho mấy roi quắn đít. Số là không phải vì lười mà tôi không đi ra xa, thức ăn lạ, dầu mỡ nhiều, cái bụng tôi thanh đạm đã quen không chịu được. Nếu tôi không nhanh chân thì đã tương ra cả quần chứ chẳng chơi. Ai biết cho tôi đã cắm đầu cắm cổ chạy thục mạng mới tới được giữa sân, chưa kịp dạng chân vểnh đuôi lên thì lộc đã bắn ra tung toé. Mẹ kiếp, thức ăn nhà giàu hãi thật, nó vừa rủ vừa doạ, vừa vào bao tử đã trôi ra tuồn tuột chẳng thèm đoái hoài tới ai.

Tôi chui vào ổ nằm thút thít, nó lêu lêu tôi :

- Gớm, ông kễnh ngu ngốc, nhục thật. Ăn xưa chừa nay thì đâu có sao, hổ lốn quá cũng có ngày ăn đòn vãi cứt.

Khinh, kệ cha nó, thứ đái không qua ngọn cỏ như mày là cái đếch gì, đừng bảo tao sao không tự với chả trọng. Ông mà nổi điên lên thì mày biết tay. Nghĩ lại cũng thẹn nhưng cùn rồi, mình đâu biết làm gì khác.

Thời gian trôi nhanh thật, mới đó mà tôi đã cao bằng đầu gối bà chủ, tôi với nó cũng đã thân thiện nhau lắm, không thèm giành ăn với nó nữa. Ai cũng bảo giống mèo có võ chẳng bao giờ bị thương tật gì đâu, tôi không nghĩ vậy, bởi nó đã mù ra đấy lại thêm bụng mang dạ chửa.

Tôi bây giờ biết lo cho nó hơn lo cho mình.

Số là, sau vườn nhà bên kia có đầu đạn M.79 chưa nổ, giống quái quỷ này kinh lắm, chưa đủ vòng xoay cứ lì mặt ra, im thin thít. Lớn hơn quả cau một chút, màu vàng óng ánh, thấy hay hay tôi mang về chơi, chán, đem cất vào gốc mít. Nghĩ mãi không tới cái khôn của thằng Mỹ, trái đạn có ai sơn màu vàng như họ đâu, để dễ phát hiện khi rơi vãi chăng, hay còn dụng ý gì khác.

Khổ cho kẻ đua đòi, con Miêu ấy mà, thấy người ta ăn khoai nó cũng vác mai đi đào, mà đào tích cực chăm chỉ hơn mới đoản. Hai tay ôm trái đạn tung lên hứng xuống, nhưng trái đạn nặng hơn nó tưởng nên mấy lần xuýt u đầu. Mệt, thả trái đạn lăn đâu thì lăn, nó nằm sát đất quan sát, đầu quay qua quay lại ra chiều hả hê lắm. Đôi khi nó tung người lên cao theo thế thần hổ truy hồn rồi bổ nhào xuống trái đạn như con chim ưng vồ mồi, tuyệt đẹp. Cho đến một ngày trái đạn nổ tung, may mà nó nằm khá xa mảnh không ghim vào người, nhưng sức ép mạnh như trời giáng ấy đập vào mặt nó bê bết máu. Thế là phước cho nhà nó lắm rồi, chứ không thì lục phủ ngũ tạng đã te be như manh chiếu rách. Mắt nó mù từ đó.

Bà chủ ôm nó chạy chữa khắp nơi nhưng chẳng được gì, nó được cưng thêm một chút xíu, ít bị đòn roi hơn thôi. Cái bếp tro bây giờ chua lét mùi phân của nó, suốt ngày nó quanh quẩn nơi đó, uể oải, lại sắp tới ngày sanh. Mới ngần ấy tuổi mà nó đã làm mẹ mấy lần, toàn những con xấu xí, bà chủ tống khứ đi sạch. Tính ra nó đã lên chức lâu bà rồi, hẳn già hơn tôi nhiều mà còn ham vui tình ái, bái thật. Ở không rửng mỡ đâm ra bầy hầy, chim chuột không bắt mà cứ nhè vào đàn gà con của hàng xóm, người ta cũng đã cài bẫy mà nó khôn lắm, chưa vỡ mặt. Bây giờ thì tịt rồi.

Chẳng ai chịu nổi mùi phóng uế của nó, bà chủ để sẵn cái roi trên nóc chạn, mỗi lần vào bếp bà trót cho nó vài roi. Nó cũng biết sợ, không dám tè bậy ra nữa. Nó sinh ra mấy đứa con kháu lắm, hai đứa tam thể, một đốm, một đen tuyền. Bà chủ cho chúng uống sữa Úc, ăn cháo dinh dưỡng, còn nó ngày ba suất thịt nhiều hơn cơm. Hôm nó sanh, bà chủ làm ổ cho nó đàng hoàng, như cái ổ cho tôi ngày trước. Nhiều đêm con bú rát quá, nó mò mẫm ra chỗ tôi nằm ngủ ngon lành, nó ngủ trong lòng tôi chớ đâu, làm như tôi là cái giường của nó không bằng.

Khi người ta bị tật nguyền, người ta có cách làm cho người khác gần gũi. Với bộ mặt nhàu nhĩ, nhịn nhục cam chịu, nó có vẻ đáng thương, nhưng đằng sau cái vẻ không tự nhiên ấy vẫn còn dáng dấp của sự chai lì, bất cần đời. Không biết tự bao giờ, tôi thành cha nuôi bất đắc dĩ cho lũ con nó. Chúng lẽo đẽo theo tôi suốt ngày, chưa bao giờ cho tôi có một phút nghỉ ngơi, nhiều lúc giận quá tôi chạy một mạch ra đồng kiếm chỗ nào đó ẩn mình, bỏ xa chúng nó. Nhưng chúng cũng đánh hơi đến được, đôi khi có đứa lọt tỏm xuống ruộng đầu tóc lấm lem, cha ơi cha hỡi nghe mà tội. Tôi chạy lại kéo cổ nó lên, rửa ráy cho nó sạch sẽ. Tôi tập chúng bắt chuột, tập chúng bơi nhưng chả đứa nào dám xuống nước, truyền cho chúng ngón cẩu quyền nổi tiếng nhưng chúng chẳng tiếp thu được gì. Chúng quen sử dụng đòn tay, tát theo kiểu mèo cào ấy mà, khi chẳng ăn ai chúng bèn tẩu vi thượng sách. Tôi còn chỉ cho chúng những loại thảo dược trị ngộ độc rất hay, chỉ cần ăn vài lá là ói độc ra hết. Chỉ cho chúng cách bảo vệ môi trường khi tiểu tiện, đại tiện. Phải chọn nơi chọn chỗ đàng hoàng, lấp kín đống nợ ấy để khỏi ô nhiễm, đừng có bầy hầy như lũ trâu bò bạ đâu vãi đấy. Phải kín đáo xấu che tốt khoe, chứ ai lại tồng ngồng giữa phố xá thế kia, vô học lắm.

Rồi, bà chủ cũng chỉ giữ lại hai chú mèo con đẹp nhất, tuy tôi có nhớ nhưng cũng đồng tình, đinh tai nhức óc lắm mỗi lần chúng giành gái, ầm ầm cứ như trời sập. Mà lạ, cái giống quái quỷ này trước khi làm tình phải đánh nhau chí choé mới chịu, vừa đánh vừa la, vừa làm tình vừa la, chẳng giống ai. Đó là con mèo đực, chẳng mấy khi có mặt ở nhà giống như mèo hoang vậy, chả ai biết nó ăn và ngơi ở đâu. Mẹ chúng, bây giờ không được bà chủ cưng chìu như trước nữa, miếng ăn cũng bèo, ba cái xương cá nục gặm mòn răng mà có được gì, nó ốm và già đi trông thấy. Lâu lâu, kiếm được con chuột đồng béo ngậy tôi mang về cho nó, nó chỉ xơi cái đầu.

- Sao mày không ăn hết đi.

- Bữa nay ngán, xơi cái đầu thôi là đủ trả thù cho tổ tiên tao rồi

- Nỡm, cả họ nhà mày thù dai thế.

Hay là nó nhường cho tôi, nó mới cần cái ăn chứ tôi cần đâu, chẳng lẽ mình phải thu dọn cái phần ngon này, bỏ thì cũng không được. Tôi tái sạch. Cũng một lần như thế, con chuột đồng tôi mang về còn to hơn nhiều, nó ăn ngon lành rồi tắt thở luôn. Trước khi chết nó xổ ra gần như nguyên vẹn cả con chuột, số nó hẻo thiệt, tôi nghĩ con chuột chắc đã vớ nhầm thuốc sâu trước khi làm vật tế thần cho nó. Người ta quẳng nó xuống sông, bảo chôn thì sẽ không nuôi được nữa. Tôi làm sao biết họ học kinh nghiệm này ở đâu, hơn nữa mình là cái thá gì mà chõ mõm vào. Bây giờ đứa con gái của nó là con mèo duy nhất còn lại trong nhà, em trai nó có cũng như không.

Đêm tôi ngủ hiên nhà, gió khuya lạnh lắm, tôi rúc đầu vào đôi tay mình, co quắp lại. Lim dim chứ chẳng ngủ đâu, một bên tai kê sát đất nghe ngóng, chiếc lá rơi cũng chẳng thoát nổi sự kiểm soát của tôi.“ Lòng ta là những hàng thành quách cũ, tự ngàn năm bỗng vẳng tiếng loa xưa “, buồn sao. Tôi thường ra bờ sông ngắm những con đò mỏng như chiếc lá đưa chiều sang chiều, ngắm những cánh cò lao xao trên ruộng mạ, những cô gái gánh cả hoàng hôn về nhà. Ngồi đây ngắm trời cao đất rộng thích lắm, ngắm ống khói cao cao của lò đường bên bờ sông mà ngỡ như điếu thuốc của gã khổng lồ. Cũng từ dạo đó, tôi không bao giờ ra đồng bắt chuột nữa, cô con gái của nó cũng vậy. Những quả banh nhựa xanh đỏ đủ màu mà xưa kia là vật để chúng nô đùa, nay nằm lăn lóc nơi góc vườn bùn đất gần như bao kín mít, cuộc sống tẻ nhạt thật.

Cũng một chiều như thế tôi về chẳng thấy cô ấy đâu, nghe nói cô bị bọn cẩu tặc nách đi rồi. Nhắc tới cẩu tặc, tôi giận run người, mấy lần suýt bỏ mạng dưới tay chúng. May mà nhà có rào chứ không chúng đã tròng đầu tôi vào thòng lọng mất tiêu. Số là, tôi được bà chủ cho học trường nghiệp vụ mấy tháng nên biết từ chối những miếng thịt thơm lừng nhưng có độc của bọn đầu trâu mặt ngựa này. Quăng vào mà tôi không ăn chúng cũng cay lắm, hơn nữa có lần chúng đi ngang nhà tôi bị tôi đẫng cho một trận tả tơi, chết khiếp. Tiếng lành đồn xa, tiếng dữ cũng đồn xa, bọn nó trốn tiệt. Trốn lâu đến nỗi tôi quên đề phòng, và cô mèo cưng của bà chủ phải trả giá.


***


- Bố chậm hiểu quá, con đã nói là con phải giả gần chết chứ có chết đâu, chết mà thở phì phò thì ai tin.

Hôm đó họ tóm cổ con bằng cái bẫy sắt đặt ngoài bụi tre. Họ nguỵ trang khéo lắm, con chịu, không phân biệt được. Bẫy có hai ngăn, ngăn trong họ nhốt con gà con kêu chíp chíp không ngừng, ngăn ngoài họ treo miếng thịt nướng thơm quyến rũ. Nghe tiếng gà kêu cứu con cẩn thận bước vào, loay hoay làm sao mà cái bẫy sập xuống cứng ngắc, không ra được. Con cố tìm xem sợi dây thun họ giấu ở đâu để cắn cho đứt, nhưng không có, chắc đã nhiều đứa thoát ra bằng chiêu này rồi nên họ thay đổi chiến thuật, họ dùng dây lò xo chắc chắn vô cùng. Đem về, họ nhốt con trong cái lồng to tướng, chung với mấy chục đứa khác. Con buồn quá nằm dài ra đó chẳng thèm ăn uống gì, con muốn chết theo mẹ con cho xong.

Ngày sau, họ đem con ra quẳng bên bếp lửa đã sẵn nồi nước sôi ùng ục. Hên sao, gặp bữa quán bị mất tiền, chủ quán la ó, bọn nhân viên chạy dáo dác chẳng ai thèm quan tâm tới con. Vớ ngay cơ hội, con chạy biến qua đường, vòng vèo không biết bao nhiêu con hẻm, con phố đến khi mệt lả mới chịu dừng lại, nấp trong xó chợ. Con sống ở đó với mấy đứa bạn nữa, không biết làm sao tìm được đường về, nhiều đứa rủ con lập gia đình nhưng con nghĩ chưa phải lúc. Cho đến một hôm con gặp bà Sáu ở cạnh nhà mình. Mừng hết lớn, con cạ bụng vào chân bà báo hiệu con đang lạc lõng nơi này, bà nhìn con một chút rồi bỏ đi. Không biết bà có nghĩ gì không, mà cả tháng sau con cũng không gặp lại bà nữa. “

- Bả bị té xe, bố không biết phải lần đó không, nhưng bả nằm liệt bốn, năm tháng nay rồi con à.

- Thôi thì cũng chia buồn với bả, bố hén.

Hôm đó, con theo bà ra xe mà không biết tính sao, bà đi xe ôm nên con không quá giang được, chỉ nhìn và cố nhớ hướng đó. Buổi chiều con ăn thật no rồi lên đường, xa nơi này cũng tiếc, không bao giờ hết thức ăn đâu bố. Đêm đi ngày ngủ, con không nhớ đã qua bao nhiêu làng mạc, bao nhiêu cánh đồng mà chẳng thấy nơi nào giống chỗ mình. Chẳng nơi nào có con sông to và đẹp như chỗ bố thường dắt mẹ và chúng con ra hóng mát đâu. Con đành làm con nuôi nhiều nhà, cũng còn nhiều người tốt lắm bố, họ cho con ăn uống mà không so đo gì đâu. Nhưng cũng chỉ dăm bữa thôi là con lên đường, trước khi đi con cũng trả ơn cho họ vài ba con chuột. Bố xem, đi hoang mà con vẫn mập ra đấy chứ, đâu có thua gì kẻ có tiền du lịch đó đây. Ròng rã hơn tháng mà chẳng tìm thấy dòng sông quê mình, chán, muốn bỏ cuộc, nhưng đêm nằm lại thấy buồn buồn làm sao, thế là con lại đi. Vừa đi vừa kiếm cái ăn, vất vả nhưng chấp nhận được. Rồi con gặp chuyến xe trâu lóc ca lóc cóc trên đường từ chợ về, con biết vậy vì xe trống trơn. Tuy trời tối đen, con cũng nhận ra được người đàn bà nằm ngủ phì phò trong thùng xe, phía trước, ngồi trên càng xe chắc là chồng bà đang hút thuốc. Trong xe chỉ có mấy đụm thức ăn lèo tèo, mùi cá khô, mùi mực muối..những thứ mà con quá thân thuộc khi còn ở chợ làm cho ruột gan con cồn cào. Tuy giờ có thèm nhưng chẳng dám, ngồi tho ló trong góc cuối xe cho đến khi về nhà họ. Xe dừng, con phóc xuống kêu meo meo cho vui nào ngờ bị lão chồng chửi cho xối xả :

- Mẹ kiếp, để mèo lên xe là xui tận mạng.

- Làm như xe hơi không bằng. Bà vợ chì chiết.

- Mày thì lúc nào cũng ngủ, đàn bà con gái gì mà hở tí là lăn kềnh ra ngáy tồ tồ.

Thì ra lão chửi vợ lão, may mà con không đua con cá nào, chứ không chắc mụ đã ốm đòn. Đàn ông gì mà toàn máu lạnh. Hôm sau con nhìn thấy dòng sông trước nhà lão ta, cái dòng sông tấp nập đò ngang đò dọc chứ không yên ả như chỗ quê mình. Ngậm tăm thay bữa sáng, rướn mắt nhìn dọc nhìn ngang, không biết phải đi đàng nào. Cuối cùng con chọn hướng đông, đi hai ngày qua ba cái làng gì đó mà không kiếm sao ra nhà mình. Đi xuống đi lên muốn rã cái giò mà dòng sông thì như dài vô tận, kiểu này không khéo mình tắm biển Nha Trang hổng chừng. Đêm ngồi nghĩ mãi không ra cách nào hay, men theo tiếng chuông chùa con tới ngọn đồi cao ơi là cao, mặt trăng hình như cũng gần hơn, bố ạ. Hình như đang mùa tương chay gì đó, nên người ta chộn rộn suốt đêm, bánh mức hoa quả bày la liệt, con ngắm nghía miếng đậu hũ chiên rõ to để đánh quả khi thích hợp. Buổi tối nhờ thế mà no lòng, con chui vào đống rơm thiền tới sáng. Chùa này là chùa cổ bố ạ, toàn gỗ mun đen sì, trước mỗi cây cột người ta treo một tấm hoành phi cũng bằng gỗ sơn màu đỏ chót, mái ngói thâm rêu cong vút. Bọn chim sẻ thấy con, ngán quá không dám xuống sân, ngồi thắt thẻo trên ruôi mè nhìn lui nhìn tới.

Mặt trời lên cao, sương tan dần, làng mạc bắt đầu hiện ra. Con sông như con rắn khổng lồ trườn qua cánh đồng mênh mông lúa vàng, thỉnh thoảng có một lùm cây xanh bao bọc trong nó vài chục ngôi nhà. Những lùm cây ấy mọc rải rác hai bên bờ sông, trông đẹp như bức tranh thuỷ mạc. Xa xa, một làn khói mỏng như sợi tóc vươn lên từ cái ống khói bé tẹo bẳng nửa chân nhang, con có cảm giác đây là lò đường trước nhà mình. Con nhìn nó lâu lắm, làm sao để qua sông, rồi mới men theo bờ sông mà đến đó. Qua sông không khó, chỉ sợ bị người ta không cho lên đò như ông chủ xe trâu hôm nọ, nhưng chắc được bố ạ, con lên kế hoạch cả rồi.

Con theo chân đoàn người lên chùa hành hương sáng nay, ung dung lên đò, chẳng ai thèm ngó ngàng gì tới con, chắc họ nghĩ con là vật cưng của ai đó trong đoàn. Con men tới chỗ ông lão chèo đò, ngồi đó ngắm sông ngắm nước, ngắm chòm râu bạc phất phơ trong gió của ông. Con tính, nếu không may thì cứ bám chân ông lão này, làm con nuôi nhà ổng cũng tiện, vài ngày thôi mà bố. Nhưng ông lão nhân từ làm sao, ông cúi xuống cái giỏ tre bóng lưỡng mồ hôi, treo lủng lẳng bên mái đò, nhặt khúc đuôi bánh mì thừa quẳng cho con. Bánh mì chan nước xíu mại đã nhũn nhoẹt, chắc ông lão nhai bằng lợi, nước thời gian đã gội tóc ông trắng đến thế thì răng cỏ nào còn.

Con qua sông như vậy đó bố, cảm ơn ông rồi con mới đi. Con men theo bờ sông này ba ngày nữa mới tới được lò đường…”

- Khổ cho con quá, con của bố..

Hình như tôi khóc, tôi ôm nó vào lòng thật chặt như sợ đó là giấc mơ. Ngoài kia, chiều đã xuống dưới gốc cây hoàng lan, ửng rực những cọng rơm vương vãi quanh đó, qua lăng kính nước mắt chúng như những ngọn đèn lung linh.

Đưa mắt nhìn về phía dòng sông nó im lặng trầm tư, hình như nó thấy mẹ nó đang vẫy tay mừng nó.



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ ĐàLạt ngày 05.11.2017.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004