Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới

tiểu thuyết


ĐẤT BỎNG



        PHẦN THỨ HAI


CHƯƠNG 9




Việc khai thác than đem lại lãi lớn cho các công ty than bên mẫu quốc. Vì thế, tầng mỏ phải mở rộng diện khai thác để lấy thêm than. Phu phen phần lớn đói túng từ quê ra, bán sức lao động kiếm cơm ăn. Những người có kinh nghiệm, có tiền, có năng lực, những kẻ liều lĩnh, giảo hoạt, hung hãn, bặm trợn tới tấp lao vào trực tiếp hoặc gián tiếp đứng làm cai mở lò mở tầng, quản lí phu phen. Bớt xén tiền công bằng đủ cách vun thu cho mình. Nhiều người sạt nghiệp, thân bại danh liệt, vùi xác trong tầng hoặc phiêu bạt nơi nào mất hút chẳng để lại tăm hơi. Số người trụ được, có tiền rồi, cô đầu nhà thổ, tổ tôm phá ùi…tiền bạc lũ lượt đội nón ào đi không phải ít. Những người giàu xổi cũng nhiều. Họ thừa biết tài năng mình chả đâu vào đâu. Khá được, có của ăn của để là do số phận, thần phù thánh giúp. Họ phát công, mở đền chùa miếu mạo dày đặc mong được lộc, được giải thoát, giải toả những bí bách vướng mắc trong lòng. Hàng chục đền chùa miếu mạo được xây lên trong vòng mấy năm. Khói hương ngào ngạt. Nghe đâu lính tráng nổi dậy ở Yên Bái, người chết bắn, chết chém vô khối. Phong trào nổi lên ào ào rồi lại ắng đi. Chả biết nghe ai tin ai trong thời buổi khó khăn, nhiễu nhương này. Việc khai thác than không được thuận lợi nữa. Công việc không dễ dàng như trước. Người chết vùi xó tầng, ven đồi, nghĩa địa ngày một nhiều. Cờ đỏ búa liềm được treo trên cầu poóc tích Cửa Ông, treo trên vách đá núi Cốt Mìn. Truyền đơn rắc dọc phố dọc đường phản đối thực dân Pháp tàn sát dã man người dân Nghệ Tĩnh, phản đối chủ mỏ đánh đập cu li. Đường ray từ Cẩm Phả ra Cửa Ông bị phá, bị lấy mất một đoạn. Nhiều người táo gan, rải truyền đơn vào nhà giấy, nhà chủ thầu. Họ in cả báo, chống lại chính quyền, chống lại chủ mỏ, giành lại quyền lợi cho dân nghèo, cho cu li than. Nghe nói vậy chứ mấy người được thấy tận mắt. Tận mắt chỉ thấy người bị đánh, bị trói, bị dong, bị dẫn hàng đoàn. Nhiều người lạ hoắc nhưng cũng có người quen. Anh tàu phớ bán rong, đánh vợ như đập mẹt bị bắt. Bị bắt vì tội làm loạn chứ không phải đánh vợ. Bán tàu phớ thì làm loạn được gì? Chả bết, Ông Hai bán bánh, suốt ngày rao “pạc tàu ớ” đi đâu lâu lâu không thấy tiếng nữa rồi. Chị Cò quăm chuyên đội khăn mỏ quạ, quần cộc đến gối, đưa giấy tờ lệnh lạc giữa chủ mỏ và Su ba giăng bị bắt mấy hôm trước. Nhiều đứa trẻ con mười hai, mười lăm bị giải đi. Những bước chân lê xèn xẹt bên bước chân rạp rạp của người áp giong. Xóm thợ âm i lo lắng, mập mờ hi vọng. Thời buổi này thế nào cũng xuất hiện những người anh hùng tài giỏi đánh đuổi giặc tây, giết sạch chủ mỏ, giành lấy độc lập cho đất nước và lợi quyền cho kẻ khốn cùng như chúng ta đây. Đền chùa giờ nghi ngút khói hương. Nhà thờ đang chuẩn bị xây bằng tiền các con chiên và các nhà hảo tâm quyên góp.

Sau ngày Yên tự ải, Đồng theo anh về phố. Ngôi nhà hoang phế nhanh chóng. Hơi người không còn, sóng cỏ dồn dập tới. Cầy cáo chui rúc làm ổ, đẻ con đàn cháu đống. Sỏi đến nhà Xuơ. Cá vào ao ai người ấy được. Chả biết Xi con ai nhưng Xuơ nhất quyết của Sỏi. Sỏi nghiễm nhiên trở thành bố đẻ. Cái Xi đã lồm ngồm bò. Sỏi thành chồng Xuơ. Là chồng, anh có nhiều quyền lợi lắm. Đàn ông làng anh oai kinh khủng. Họ như vua, hạch sách và hành hạ vợ. Nhiều bà xứng đáng là mẫu nghi thiên hạ không ngai. Lấy chồng, họ nuôi chồng, nuôi con, hầu hạ bố mẹ chồng, giữ gìn và giúp đỡ gia đình riêng của anh em chồng. Bị chồng đánh chửi, họ nghiến răng chịu, cho đó là lẽ đương nhiên, là cái nợ đời. Kiếp trước không khéo tu kiếp này đành chịu khổ. Ông Tờ ở làng Sỏi ốm yếu đến mức bước phải chống tay xuống gối, đi phải tay đập vào lưng. Vậy mà khét tiếng. Mỗi khi đánh vợ, lão khép cửa vào, lật cuối chiếu, nhấc nhấc cây roi. Bắt vợ lên giường, cởi quần yếm ra, lão hỏi từng tội. Đi đâu mất mặt từ sáng đến giờ? Sang nhà ông bà hay đi theo giai? Thăm bác ốm hay thăm giai ốm? Lão vụt, không cho trả lời. Gác cái roi lên tấm lưng đen đúa của vợ, lão tìm điếu hút thuốc. Khói oà ra quanh miệng, lão lại hỏi: - Sao sáng nay quét nhà mạnh tay để bụi bay cả vào mặt ông? Đàn bà gì có loại không ý tứ hay giận chồng mà làm vậy? Sao ngủ nghê mê mệt, gà lợn chó mèo quang quác đòi ăn, điếc cả đít mà không biết? Sao lắm mồm vậy, chưa mở mắt đã mở miệng? Sao? Sao?...Mỗi tiếng “sao”, lão dẫn dụ lê thê rồi vụt. Sau lời dẫn dụ ấy, lại vụt. Bà vợ không khóc, chỉ oằn lưng đỡ, van xin hứa chừa. Nửa giờ sau, lão mới cho dậy, mặc váy áo. Ông Hễ đánh vợ như đập chiếu, bùm bụp bùm bụp. Thấy ông giận dữ, e hèm trong họng, bà vợ đã tái xanh, tái xám mặt lại, mồm lắp ba lắp bắp. Chú Bờ tức vợ bạ gì quăng nấy. Có đận, vợ chú bị nhát chày ném vào bắp đùi sau, phải nằm nhà hàng tháng trời… Sống trong làng xóm có nhiều tấm gương ấy, vợ Sỏi chẳng học được các bà ấy một tẻo nào. Chồng dạy vợ im nhưng chả để vào tai, chả làm theo. Bảo ban nhắc nhở lại còn lí gio lí trấu. Ra mỏ đận này ở với Xuơ. Cái Xu không phải con mình. Nuôi là nuôi tu hú rồi. Con Xi phải xem thế nào đã. Đàn bà lấy chồng lãi được đứa con, may phúc lắm. Ông đang khổ, lấy vợ có chỗ ở, chỗ quát mắng. Cuộc đời bí ẩn chứa bao điều tinh quái. Nghĩ cũng vui đấy chứ?

Đồng về lán phu, làm than ban ngày, ban đêm xóc đĩa. Ngoài ba mươi, Đồng đã như ông lão. Cái cằm vêu vao trên gương mặt vẹo vọ. Râu đâm tua tủa, tóc tai bờm xờm. Anh em kiến giả nhất phận. Vợ chồng Đá giúp mấy lần khi tiền khi gạo, khi khuyên răn khi dạy bảo. Chứng nào vẫn tật ấy. Có hôm được bạc, ầm ào cả lán phu. Chén bát tưng bừng rộn rã. Năm được đâu hai ba lần như thế còn lại chỉ gặp gương mặt đen đúa, ám khói đèn dầu, nhăn như khỉ nhai gừng. Bạn cờ bạc với Đồng có Chu. Anh đứng thứ hai trong một gia đình đông con: Toàn, Chu, Khởi, Nghiệp. Bố mẹ kéo nhau ra mỏ, làm ăn sinh con. Từng đứa từng đứa một ra đời. Ông bố làm việc cật lực, cố vực dậy cái gia đình không chằng không rễ ấy. Thúng thắng ho, ông cứ liều, làm ngày làm đêm. Bệnh dần nặng lên đến ngày không gượng nổi, ông về chầu giời. Bà mẹ goá tằn tiện, đâm xấp dập ngửa nuôi nấng bốn đứa. Lên năm tuổi vốn không sức vóc gì, Nghiệp đẹn sài chết. Vài năm sau, bà cũng theo ông và con trai út. Toàn bị đá đè, thuốc thang mãi không khỏi. Vết gẫy lở loét đau nhức. Anh la thét từng hồi rồi về đất năm kia. Cô Khởi lấy chồng làm mỏ, giật gấu chẳng đủ vá vai, theo chồng trở lại quê. Quê chồng ở Ý Yên hay Vụ Bản đại loại như vậy. Chu đã có vợ. Vợ chồng ở với nhau bốn năm năm rồi. Cờ bạc lôi cuốn Chu. Cô vợ theo tìm, nài nỉ chồng về. Chu đang vào cầu, vớ ngay điếu cày quật vợ. Cô tránh được. Chiếc điếu đập vào vách. Nước đổ lênh láng, khai mù lên. Chu hăng tiết, chồm dậy đuổi. Cô vợ chạy trượt chân sao đó, về nhà, bụng quặn lên ép xuống từng hồi rồi sảy thai. Chu ở nhà được hai tối, chăm sóc qua quýt, lụng bà lụng bụng. Sau đó lại đi vì tiếng lọc xọc lách cách lôi kéo. Không hiểu sao đận này số nhọ như trôn chảo. Càng đánh càng thua, càng ăn mắm càng khát nước. Bòn mót khắp mọi xó xỉnh không còn gì đáng giá, Chu dật dờ ra ngõ, lần vào sới. Trong lán, người mỗi lúc một nhiều. Gío mưa giá rét kể gì. Có tiền thì đánh. Tiền lớn cầm cái. Người xướng, người chầu rìa, người đánh gỡ, người ăn theo. Nhà chừng hai chục mét vuông, bốn chiếu đánh. Tiếng xuýt xoa a ô râm ran. Lưng sát lưng, đùi sát đùi. Những gương mặt thẳng căng hi vọng. Những ánh mắt đờ đẫn.

- Xấp chẵn!

- Bốn đĩ!

Chu xin được một xu, đặt theo. Chốc lát thành năm xu. Hết. Lại chấu rìa, rỉa róc, cười theo thằng thắng đến lúc nó thương hại cho mình chút lộc đắng. Đồng được tới năm hào. Tay nhét mớ xu chẵn vào túi. Mặt thẳng căng. Mắt chăm chăm vào đĩa. Chu vun tiền thắng cho Đồng. Đồng lặng thinh với vẻ mặt khó chịu. Ba ván liền. Đồng cho Chu một trinh như muốn tống khứ kẻ ám quẻ. Chu dúi ngay vào chỗ Đồng. Một thành năm. Năm thành mười, Mười thành hai mươi, thành nhiều nhiều. Lúc sau, Chu đã có gần đồng bạc. Đồng bước vào cầu đen. Chu chuyển cửa khác. Nhát cuốc nhát thuổng, tiếng được tiếng mất. Những bóng người nhấp nhổm. Người nằm người ngồi, kẻ ra người vào…Đêm về khuya, trời se lạnh. Đám bạc vãn dần. Người về người nằm, kẻ thức kẻ ngủ. Một hai rồi ba chiếu ngừng. Còn chiếu cuối. Đồng, Chu và ba tay ngồi, mặt khó đăm đăm. Những tiếng xướng, tiếng chửi thề tục tĩu. Chu đã nhẵn, bắt đầu cởi quần.

- Thằng nào chấp. Hai xu!

- Chỉ năm trinh thôi. Có chơi thì đưa đây!

- Tao mới may năm ngoái, còn tốt lắm. Hai xu!

- Mẹ mày! Tao trả cho một xu. Không thì xéo!

- Được!

- Đánh!

Được một lát. Thời gian đủ sức biến chiếc quần của Chu sang chủ mới.

- Thôi về đi!

- Về là về thế nào? Xem đã!

Chu xoa tay khắp người. Hết mọi thứ rồi.

- Còn đéo gì mà đánh!

- Nó còn vợ đấy! - Tiếng một thằng chán chường vừa nói vừa ngả người nằm dạng ra.

- Vợ thì vợ. Thiết đếch gì. Thằng nào đánh không?

- Bao nhiêu?

- Năm đồng!

- Nhiều thế? Được! Đánh thì đánh. Nhớ lấy! Chúng mày làm chứng nhé. Thua đừng có chạy làng. Không xong đâu.

- Quân tử nhất ngôn. Tiền đâu?

Nghe đều đều. Lóc cóc, lóc cóc…Những cái đầu xúm lại. Lóc cóc, lóc cóc.

- Chết rồi! Hết tiền rồi!

- Thôi! Về với vợ mày đi! Sáng mai tao tới. Ba mặt một lời. Không được bắng nhắng lôi thôi. Máu! Trả bằng máu đấy! Về đi!

Chu thất thần, thất thểu bước. Chẳng cần rửa chân, Chu đẩy vợ vào góc giường, nằm thở dài thườn thượt. Cô vợ đang ngủ, thấy chồng xoay đảo trằn trọc, nhổm dậy hỏi:

- Hết sạch rồi chứ gì?

- Ừ!

- Thôi! Đừng đánh nữa.

- Còn tệ hơn cơ. Cô có biết thằng Đồng không?

- Đồng nào? Đồng mốc tầng hăm nhăm chứ gì? Sao?

- Biết thì biết. Không biết rồi sẽ biết. Mai cô về ở với nó. Tôi thua bạc, gán cô cho nó rồi.

Cô vợ bật dựng lên, tru tréo:

- Làng nước ơi! Khốn nạn cái thân tôi chưa! Giời ơi là giời!


Bà Của mất, không ốm đau trầm trọng gì. Mấy hôm trước, bà gọi vợ chồng Cải, nhắc nếu bà chết, chôn vạ vật ở đâu cũng được. Sau ba năm cải táng, đưa xương cốt về quê, chôn cạnh ông. Cả đời ông ấy vất vả, không trông nhờ gì được vợ con. Ngày ông nằm xuống, đất trời đổ rầm rầm xuống đầu bà. Gía theo ông được, bà đã theo. Vợ chồng một ngày nên nghĩa. Đằng này có với nhau bốn mặt con. Sống gửi nạc, thác gửi xương. Chưa làm tròn được điều ấy, bà áy náy lắm. Gìơ, bà muốn gần ông, chia bùi nhận đắng, chăm sóc cho ông, có vợ có chồng, trần sao âm vậy. Sáng hôm qua, bà giục con Thuần tìm kiếm lá thơm nấu nước. Hai bà cháu gội đầu, tắm táp giặt giũ. Mặt trời gần đứng bóng, bà gọi mấy đứa về ăn cơm. Rồi bà nằm. Sáng nay, bà kêu váng đầu. Nằm rên một chặp, bà đi. Chấm dứt cuộc đời vất vả tìm ra vùng than nhưng không làm than ngày nào.


Chú Tin theo người làm than thời vụ. Đến mùa, họ về. Chú ở lại. Thời gian sau, chú vào nhà ông Động. Ông đã phát cây, mở một mảnh đất rộng. Bà thả sức trồng trọt chăn nuôi. Ông thích cây cảnh. Phàn đưa Tin đến chơi. Ông Động cũng mau chuyện. Một thời, Tin sửa vườn, tỉa cây cho Phán Sưu quê Châu Cầu, hiểu biết cây cành gốc rễ. Hai ông con chuyện trò hợp í, hợp cảnh, hợp tình. Ông thích lắm. Từ chuyện cây sang chuyện bố mẹ vơ con. Khi Phàn nêu lí do phải xuống phố cho tiện điều kiện sinh hoạt và giới thiệu Tin thay anh, ông mừng ra mặt. Tự tay ông suốt mấy buổi dọn chỗ cho Tin ăn ở trong vườn. Đi làm về, Tin tỉa cành đốn gốc. Người anh bê bết đất. Ông Động bận việc, hàng tuần mới trở lại vườn một lấn, thấy khác lạ hẳn. Trong vòng nửa năm, vườn cây đã đẹp, rộng rãi và thoáng mát. Nhiều giống cây quen lạ trong núi ngoài đồi tụ tập về. Hai ông con học hỏi nhau, tự điều chỉnh mình cho đồng thanh đồng điệu. Ông Động hiểu mình hơn. Khi cần, nhường quyết định cho Tin.

- Người chơi cây phải biết cây thế, cây cảnh và cây trồng trong chậu. Cây vườn tiềm tàng cảnh trí. Nó giúp đại cảnh, liên quan đến vườn tược đồi dốc, thế nhà thế đất bác ạ. Cây trồng cho hoa thơm, quả ngọt, bóng mát là chủ yếu.

- Cũng rất cần, chú ạ!

- Cần chứ! Nhưng cây cảnh có yêu cầu riêng. Người chơi cây cảnh phải thu nhỏ thiên nhiên lại. Cây cối núi non hang động, cầu đường bến bãi, tầng bè, đền miếu, cấy trồng, gặt hái…người cày ruộng kẻ chăn trâu…tỉ lệ ra sao để điều hoà như bức tranh sơn thuỷ, phong cảnh hữu tình. Cây cũng được cắt tỉa công phu tỉ mỉ.

- Không có cây to sao?

- Không bác ạ! Cây to nhỏ phải phụ thuộc cảnh sắc.

- Cây thế lại khác. Vậy thế nào là cây thế?

- Cây thế là cây trồng trong chậu. Người chơi bỏ công sức ra cắt tỉa, uốn nắn hãm đì nhằm hạn chế sự sinh trưởng và hình dáng tự nhiên. Cổ thụ lá xanh thắm, thân cành cằn cỗi, gốc rễ u sẹo. Toàn thể cây được tạo theo một chủ đề nhất định mới thành thế. Người chơi đặt tên thế theo chủ đề. Cây cảnh chỉ gồm bốn dáng: Trực - xiên - hoành - huyền. Từ bốn dáng ấy, ta sẽ tạo ra vô tận thế cây. Cây thế - bác cứ tin không sợ sai - phải là cây trồng trong chậu, có dáng cổ thụ và có thế. Nhiều thế lắm bác ơi!

- Tôi có nghe thế hạc lập, thế trượng phu, thế huynh đệ, phu thê, phụ tử, bạt phong nhưng không rõ cụ thể thế nào?

- Bác chắc thấy đôi hạc thờ ở đình đền rồi. Cây dáng trực lên thẳng một đoạn thành chân rồi xiêu một đoạn thành mình hạc, lại chuyển dáng trực thành cổ và đầu hạc. Như vậy, ngọn cây là đầu hạc. Cành chuyển giữa chân và mình hạc sẽ thành đuôi. Cành ở đoạn xiên tạo ra hai cánh hạc. Cành giữa cổ và thân tạo thành ức. Thế này phải có hai cây cùng kích cỡ, đối xứng nhau từng chi tiết một. Khi bày, đôi cây đặt đối xứng nhau. Nếu một cây chết, phải tìm cho được cây y hệt để thay thế. Không tìm được cần loại bỏ ngay, không nuối tiếc.

- Thế thì phí quá. Sao không cố chuyển thế khác?

- Không được đâu bác ơi! Có khi cố cũng được nhưng Ông Phán Sưu kiên quyết lắm. Thà không thì thôi. Không thay bằng những thứ tạm bợ, làm mất nét thẩm mĩ mà ông cha đã tổn hao mồ hôi xương máu mới có, mới giữ được. Thế hạc lập thường được tạo từ tùng. Tùng tạo thế khoẻ mạnh vươn cao, bất chấp bão giông sóng gió cuộc đời, đứng trước những khó khăn, đạt mục đích, không sờn lòng, không nản chí.

Xê người ra khỏi chỗ nắng xói, Tin giảng giải:

- Ông công bà táo cưỡi cá chép lên trời. Cá phải to. Cưỡi hạc vân du, họ phải thanh thoát mềm mại. Tiên thánh quần áo thướt tha. Phật đi đò sang Tây Trúc chứ không lên trời nên không cần hạc. Vì thế, chỉ có đình đền mới cần hạc. Hạc thờ thường có đầu nằm ngang. Còn thế hạc lập vọng vân, người ta tạo đầu hạc ngước lên trời như muốn bay lên, vươn lên.

- Chậc! Chậc! - Ông Động chặc lưỡi - Công phu nhỉ?

- Công phu chứ bác. Mỗi thế đều gửi gắm hi vọng hoài bão của chủ nhân chưa thực hiện được ở đời này. Ông Phán Sưu lúc buồn, mang ghế con ra vườn ngồi quên cả trời đổ mưa. Khi nhận ra, chạy vào nhà, người đã như chuột dầm chuột lội.

Chẻ những mảnh gỗ nhỏ, Tin chêm cán mai, cán cuốc, cán dao cho chắc chắn. Ông Động múc nước, mài một số dụng cụ đã cùn như dao chặt, dao phát, dao băm, dao cắt. Những tảng đá khá to, hai ông con khuân khiêng kê chèn đã vững bên lối đi. Người có thể ngồi, ngả lưng trên những táng đá ấy, thảnh thơi giữa ngày hạ chí. Bóng cây cả ngày che nắng. Gío quạt như có người hầu. Những thân gỗ dài, vạt thô, đặt dọc lối. Đất rộng mênh mông. Có chỗ dăm bảy mô đá được quây rải quanh phiến đá to như bộ bàn ghế thiên nhiên bày đặt sẵn. Vườn thông thoáng, đẹp, tạo hứng thú cho người thưởng thức nhưng lấy đi bao công sức của người tạo dựng. Bà Động ít khi lên nhưng thường chuẩn bị thêm túi ngô luộc, lạc rang. Sắn tàu…cho hai người ăn. Túp lều dựng thấp nhưng khá chắc chắn. Vả lại, Tin thường ở ngoài, chỉ vào nhà khi ngủ và tránh mưa. Vườn là nhà, là nơi gắn bó với anh rồi.

- Nghề chơi cũng lắm gian nan. Mỗi thế cây đều có nét đẹp riêng. Bác cháu ta làm được đến đâu thì làm.

- Mình tạo dáng cây cho đẹp. Cây cho quả, cây cho hoa. Loại trừ những loại cây không cần thiết, loại cây độc là tốt rồi. Chứ tạo thế nào được cây cho đúng thế đẹp, phải không anh?

- Vâng! Cây thế là cây trồng trong chậu, khó khăn đã đành. Tạo thành thế cũng không phải vài năm mà có được. Nhà ông Phán Sưu có cây tạo thế phượng vũ long đàn từ đời ông. Khi cháu đến ở, cây mới bắt đầu có hình hài vừa nhìn vừa đoán. Đến giờ chả biết thế ấy đã thành chưa. Cây cảnh còn khó hơn, cầu kì hơn vì phải chú ý đến toàn cảnh, tuân theo quy luật xa gần. Cây trồng chậu, nhà lại không có chậu. Dân ta đang khó khăn túng đói. Được sao ta dùng vậy, không cần cầu kì bó buộc gì mới thích.

- Cây trồng trong chậu không tạo thế gọi là cây chậu có đúng không? Hôm vào nhà chủ thầu Phan, tôi thấy những chậu găng giấy, hoa hồng hồng nhưng không đẹp.

- Cây đào ở vườn, ở đồi về trồng vào chậu để thưởng thức cành, lá, hoa, dáng. Không có gốc khô thân cỗi cành già như cây thế cây cảnh, chúng thường thân mềm, dễ trồng và dễ chăm sóc. Không hợp với vườn mình đâu!

- Thì mình trồng cây trong vườn làm cảnh.

- Cháu cũng nghĩ thế. Trong vườn cây đẹp thì để, không thì chặt. Tuỳ theo ý thích của mình, tỉa cành xén lá, tạo cây tạo tán theo dáng con vật: hươu nai, voi hoẵng, trâu ngựa, chó gà…Đất ở đây rộng lo gì. Nhà ông Phán Sưu trước đây có cây mít dai. Một nghệ nhân nào đó tạo dáng người giơ tay cho người khác. Có năm, một chùm quả sinh ra, bỏ thõng ngay dưới bàn tay ấy. Kì lạ đến nỗi có ngày hàng chục ông tây, bà đầm đến xem. Ai cũng xi la xi lô, chụp hình chung với ông Phán Sưu. Vườn đồi của bác ở đây, cây để theo hình tháp, hình chóp nhọn. Kiểu ấy thích hợp hơn cả.

- Bác cháu mình vừa làm mỏ, vừa làm vườn. Sai đâu sửa đấy thích đâu làm đấy. Cái khó nó bó cái khôn mà. Vài năm nữa nghỉ, tôi phải nghe anh kiếm lấy một hai thế trong vườn cho phong phú được không anh?

- Vườn bác rộng nên trồng cây tỉa tán chứ tạo cây thế gian truân, khổ công lắm, bác ạ. Không chỉ có vài thế như bác nói đâu. Còn vô khối. Thề tam đa, ngũ phúc , long thăng, long giáng, lưỡng tử đồng khoa, lão mai sinh quý tử…

- Tôi biết nghề chơi công phu lắm. Mình thích thì đua thôi. Tuỳ chú, làm được thế nào cho tiện cho đẹp thì làm. Cốt sao để bọn chủ mỏ có thấy, không dám coi thường, coi mình là cusoong, là an nam mít, là vai u thịt bắp, là khố rách áo ôm được. Tôi sang nước nó rồi. Mẫu quốc ấy. Đầy người nghèo đói thất nghiệp. Làm thợ lò, thiếu không khí, ngột ngạt âm u nên tôi yêu thích cây, quý không gian đến cào cấu ruột gan nhưng hiểu biết về nó tơ lơ mơ lắm!

Từ đó hết buổi làm, Tin về với đồi cây. Vườn đồi thành vườn cảnh. Ông Động vào Đá Chồng xin được con chó của người Sán Dìu mang lên. Nhiều đêm ông ở lại. Vườn tược rộng rãi, nhiều cây nhưng thưa thoáng. Cây mộc hương hoa trắng như những hạt gạo nếp, thơm mùi thơm đài các. Cây nguyệt quế hoa trắng thơm quyến rũ. Cây sung rụt quả trĩu trịt, từng chùm chen chúc nhau. Cây cần thăng to, dáng oai vệ, cành bất chấp gió sương. Những con hươu nai nghếch cổ như chào người tới vườn, hoa trắng lấm tấm trên lưng. Những cây trà hoa trắng hoa đỏ to dày. Những cây mít, cây đa, cây ổi quả như mời gọi. Những cây ngâu, trắc bách được cắt tỉa như những con nai con hổ. Những cây mít chả rõ Tin lấy giống ở đâu, ba năm đã có quả.

- Mít sống dai, sống khoẻ, quả sai. Quê cháu có cây tới vài trăm quả. Chúng chịu hạn rất tốt nhưng không chịu được úng. Năm đê vỡ, ngập lụt hàng tuần. Khi nước rút, những cây mít to hai người ôm, không gượng được. Lá úa vàng rụng như trút. Qủa từng chùm lắt lẻo rồi cây chết.

Nhìn vườn cảnh, ai cũng thích. Đó là những người có điều kiện dư dật chứ cu li mỏ còn đói. Cái đói khiến con người không làm được gì, không ước ao gì ngoài bụng phải chắc. Họ lầm lũi leo tầng ra bãi. Hết giờ về, tranh nhau nấu nướng, ăn uống xong là ngủ, là túm tụm cờ bạc, xóc đĩa hoặc rượu. Nắng mưa vẫn vô tình đi qua đời họ gieo bao nhiêu thảm hoạ khủng khiếp. Tai nạn thường xảy ra, nay tầng này mai tầng khác. Những đường lò ngột ngạt ẩm thấp. Những mặt tầng hẹp, vô ý là thụt trượt, vỡ đầu gẫy tay như chơi. Phàn về Cẩm Bình, ở nhà Hoán. Ngày ngày chịu khó chịu khổ làm lụng. Ai cũng quý nhưng anh vẫn nghèo, không khá lên được. Nhiều hôm anh kêu mệt, đấm lưng đấm ngực thùm thụp, nghỉ liền hai ba ngày.



CHƯƠNG 10


Cuối những năm hai mươi, Cẩm Bình đã thành làng xã, chưa đông đúc nhưng có nền tảng sầm uất. Dân làm ruộng. Số ít làm tầng, chui lò, làm cơ khí. Cây xanh có chỗ như rừng. Sẻ kéo thành đàn, bay như mây trời, bóng đen ruộng bãi. Cò trắng, cò lửa, cò quăm, bồ nông rủ nhau về, xao xác cả bờ tre, bờ đầm, bờ khe, bờ suối. Những lò đốt vôi, những bãi phơi muối, muối ruộng và muối nấu. Cuộc sống chủ yếu tự cung tự cấp. Cấy lúa, trồng ngô, trồng sắn, trồng rau. Rau màu và rau nước. Hàng hoá thường đổi chác, ít bán mua. Đám cảnh sát quần xoóc trắng cả đời không phải lượn lờ quanh nhà họ. Nhiều bà kén con dâu kĩ ra phết. Biết chúng nó phải lòng để ý để tứ đến nhau, mẹ thường lặng lẽ quan sát, ra công dò hỏi, tìm hiểu cặn kẽ. Nó con nhà ai, gia cảnh thế nào, có ai trong họ bị truyền nhiễm dị tật gì không? Sống với làng xóm thế nào, có tai tiếng gì, có nề nếp chân chỉ, chí thú làm ăn không? Chỉ vài ngày, các bà có thể tìm biết bản tiểu sử vững vàng chắc chắn của người sẽ thành dâu rể nhà mình. Lúc ấy, họ mới quyết định ra tay vun quén hay ngáng trở. Dâu con rể khách. Rể thế nào? Đi đứng có chững chạc không? Đối với nhà vợ lễ phép kính trọng hay tự nhiên thoải mái. Có thành chỗ dựa cho con cái nhà mình gửi gắm không? Có hay cục cằn, nổi nóng tục tĩu không? Dâu về nhà chồng còn bị xét nét đủ điều. Nhà hết gạo, mẹ bỏ kim vào lòng cối. Sáng con dâu giã gạo. Trước khi giã, dùng đèn soi, quét lòng cối cho sạch mới đổ thóc vào. Mẹ chồng kêu không rõ kim hôm qua còn khâu nay không thấy đâu. Con dâu đưa lên. Mẹ chồng cho là người cẩn thận, sạch sẽ nếu không, chắc chắn người làm ăn cẩu thả, đoảng tính. Có bà giả rơi tiền xem con dâu có thật thà không.

- Mấy quả cam trên bàn thờ ấy, con lấy mà ăn.

Con lấy ăn là con kém. Phải mời mọc, nài mẹ chồng, mời chồng ăn trước. Dâu vào nhà như gà bó rọ. Không thể ù xoẹ, cá đối bằng đầu được. Cha mẹ đúng sai, không biết. Chồng ghét bỏ, mặc kệ. Phận dâu con không được rành rọt sai đúng với bề trên. Với bề bậc dưới, các chú các cô các cháu, phải thương yêu quý mến chúng, không được chảnh choẹ ầm ĩ, hàng xóm người ta chê cười gia đình mình vô phúc, thiếu nền nếp thì mặt mo. Mẹ chồng chăm chăm răn đe con dâu. Một điều chị thế này, hai điều chị thế kia. Người khác trong nhà không hoặc ít phải nghe lời nhắn nhe răn dỗ như khi đón dâu về. Cuộc sống vẫn trôi đi với tầng tầng lớp lớp những điều có lí và vô lí ấy.

Thấm thoắt đã sáu bảy năm sau ngày ra ở riêng, Hoán đã vào nhà máy làm thợ nguội. Vợ anh vẫn tiếp tục công việc đã quen từ nhỏ. Vun quén cho gia đình, thuê mướn người trồng trọt khi vào chính vụ, không làm xuể. Họ vun luống đánh rãnh, thu hoạch các loại rau. Cải bắp, thò lò, súp lơ, dền cải, xà lách rồi mồng tơi, rau đay, rau muống, cải xen, cải xanh, cải bẹ, cải tàu chuối, cái soong, cải cúc. Thế là hết năm, lại chuẩn bị cho những vụ rau năm tới. Thời vụ đuổi theo người. Mấy đứa con lần lượt ra đời. Đứa nào cũng qua tay bà Dâu. Bà chăm chút, bế bồng các cháu đến miệng ăn chân chạy. Thỉnh thoảng vợ Hoán mới phải cấy trồng hộ mẹ khi việc nhà vãn, việc nhà mẹ bời bời. Cô thường cười lấy lòng bà Dâu:

- Số con được nhờ mẹ chồng mà mẹ.

Bãi không bận tâm lắm đến cơm áo gạo tiền. Điều ấy, với người dân quê đã hạnh phúc lắm. Khi chú Phàn ngỏ ý xuống ở nhờ, vợ chồng Hoán nói tuỳ ý mẹ. Phàn đi đêm về hôm bất kể giờ giấc. Ngày nghỉ, Hoán cùng Phàn kê lại phản, dọn nhà cửa. Vợ con vào gian trong. Hai anh em bên ngoài. Ăn uống chung trong gia đình, Phàn chỉ việc nhớ đưa tiền hàng tháng.

Cuộc sống của đứa em như thế, Ao chẳng phải lo lắng thêm. Vợ anh bán dưa tại nhà cạnh chợ. Giàu chưa nói nhưng thiếu thốn không thường trực nữa. Rau, dưa, hành, tỏi, ớt, gừng…luôn luôn phục vụ. Phu phen mua chịu là thường. Dân sống thật thà thẳng thắn, chẳng mấy ai lừa lọc dối trá khi đã thân quen. Ao làm tầng, có tuổi rồi, ít đi lại chơi bời, giành thì giờ cho con cái.

Ra đường, nhiều người gọi Cải bằng ông. Qua bốn lăm, gương mặt đã cỗi. Thôi thì cốt gắng gỏi sống sao cho bằng anh em là được. Chị em con Thuần đã nhớn nhao. Vài năm nữa, trăng đến rằm trăng tròn. Cải còn áy náy để tâm việc mẹ. Người mẹ ra mỏ, chịu nhiều mất mát, khổ đau vì thương con. Lúc mất, bà mong sau này đưa xương cốt về quê. Thời buổi thóc cao gạo kém này, đi lại đâu phải dễ dàng. Bến xe sẵn rồi. Ngày một chuyến sang Hòn Gai. Từ Hòn Gai, qua đò sang Vạ Cháy, đón xe về Hà Nội. Từ Hà Nội xuôi tàu về Nam Định. Tính dội dã hai ngày đường. Bọc xương mẹ trong tấm khăn vải mang theo. Cút lít có hỏi, kể sự tình với họ, chắc cũng ổn. Chỉ sợ mất. Bây giờ trộm đạo nhiều, cướp giật cũng không ít. Đối với mình vô giá nhưng với chúng nó chẳng đáng cắc mẻ. Nó quẳng đi thì hận đến mấy đời. Mỗi năm mỗi già, việc ấy không đừng được, càng để lâu càng khó. Vài năm trước, từ bến đỗ xe còn nhìn thấy hai tháp nghênh phong. Không hiểu sao, một tháp bị cháy lan ra làm thêm chiếc xe bị cháy hay lửa lan từ xe bị cháy vào. Việc đó trở thành sự kiện dù lửa bốc ngùn ngụt nhưng chưa lan xa dài rộng gì. Bến xe chuyển vào phía trong, dưới chân đền chân dốc. Sự kiện nào rồi cũng qua đi, chỉ còn tên. Tên Bãi Cháy tồn tại từ đấy. Nằm nghĩ lan man, chẳng đâu vào đâu nhưng dù khó thế nào, Cải cũng quyết thực hiện mong ước cuối của mẹ mình.

Đồng đánh bạc được vợ. Anh đưa vợ về xóm thợ, ở thuê nhà phía dưới chân núi Son. Người ta có tiền của, giông về Li ông, Véc Sai, Boóc đô ngang dọc đường đi Mông Dương thuộc khu phố Cũ. Những tên thành phố nổi tiếng của Mẫu Quốc Đại Pháp được đặt với ý đồ trụ vững nơi này. Người tiền của rủng rỉnh tiến về Pat tơ, mátichle, La phay ét thuộc khu phố Mới. Xuống Cẩm Bình tuy xa vắng cũng phải có tiền. Đồng không có điều kiện ấy, anh đưa vợ về lán, cách biệt hẳn khu núi Trọc. Sau ngày thu xếp chỗ ăn ở, chào dẫn ra mắt anh chị xong, hai người lại leo tầng. Cô vợ thẹn thùng khép nép, nước mắt dài nước mắt ngắn. Rút kinh nghiệm xương máu ngày ở với Chu, cô cố gắng chăm sóc chồng, đứng ra quán xuyến gia đình, đêm đêm tỉ tê to nhỏ. Đồng thôi xóc đĩa, bài bạc. Người dân còn bao việc hệ trọng ngày ngày phải giải quyết, tiếng xi xeo vãn dần rồi lặng hẳn đi.

Mát mặt đôi chút, Đá không quên nghĩa vụ của mình. Rỗi rãi, ông gọi cả Sỏi Đồng đến, giáo huấn từng hồi. Ngày nghỉ giục con. Cha con chú cháu vác dao vào rừng đẵn cây. Vợ chồng Đồng tranh thủ ngày nắng ráo, ra đồi cắt cỏ gianh đánh tranh, chuẩn bị dựng nhà.

- Số phận đã vậy. Khôn làm lẽ, khoẻ ở mùa. Chú thím tuy dở dang, rổ rá cạp lại rồi sau cũng thành vợ cái con cột. Chú phải trông cậy vào thím. Thím dựa dẫm vào chú. Khi đau ốm, khi con đẹn con sài. Cố giữ cơm lành canh ngọt. Vợ chồng đầu gối tay ấp rồi ra con cái khôn ngoan vẻ vang cha mẹ. Chúng tôi trông cả vào thím.


Xuơ đồng ý lấy Sỏi. Nói đúng hơn, cô hiến Sỏi quyền đi lại ăn ngủ nghỉ ngơi tại nhà mình. Chán cảnh đêm đêm bán hàng ngồi đập muỗi, ngày ngày ngồi xua ruồi nghe bọn rỗi hơi mua bán ít, tán tỉnh gạ gẫm, rác cả tai, điếc cả đít. Làm vợ, cô chẳng đòi hỏi anh cao sang mang vác gì. Anh là chồng phải làm sao cho cô đỡ khổ. Con tôi con anh đỡ khổ. Anh làm cột cái cho tôi dựa. Tôi không nề hà, dậy sớm thức khuya, mua mua bán bán. Mẹ tôi như mẹ anh. Anh em anh như anh em tôi. Trọng giả kính chung. Anh cứ việc tầng, tháng tháng đưa tiền về nuôi vợ, nuôi con, nuôi mình. Không được cờ bạc rạc rài khuya sớm nữa. Đừng tưởng lấy vợ sung sướng. Cái vui cái buồn tăng lên. Bận rộn cũng tăng lên. Chồng như cái đăng vợ như cái đó mới bền chặt được.

- Tôi lấy anh không tấm cám tao khang gì nhưng phải giữ gìn vun đắp để gắn bó dài lâu. Chồng tới vợ lui, chồng hoà vợ thuận. Cùng nhau chung sức chung lòng. Chồng chắp vợ nối nhưng không phải vợ chồng phường chèo, vợ chồng hàng xáo. Anh đứng mũi tôi chịu sào. Tôi sai, anh có thể la mắng, chửi bới, thậm chí đánh đập. Tôi dại, anh cứ việc dạy dỗ bảo ban. Anh không được đày ải, ruồng rẫy vợ con, không a dua cờ bạc, trai gái lăng nhăng. Chẳng còn ai là anh em thân thiết ruột rà, tôi tự do hơn nhưng cũng cô đơn hơn. Lấy chồng mong dựa vào chồng những lúc ốm đau sa sảy thôi. Khế chua sung chát tôi chịu được hết.

Nghe Xuơ tâm sự, Sỏi buông mấy câu đưa đẩy ràng buộc. Hôm sau, anh đưa cô xuống nhận anh chị, báo cho Đồng biết, đặt họ vào việc đã rồi. Từ đó, Sỏi ở cùng Xuơ.


Những ngôi nhà cu li ăn ở riêng biệt đã nhiều. Tường trình hoặc vách đất nhào rơm đắp. Mái tranh tre, gianh lá. Dưới chân núi Son, núi Sọc, đồi thông vàng bạt ngàn, vàng màu gianh mới. Chung quanh phố Cũ, đường mới, dân đắp đất dựng nhà, dựng chùa chiền. Phố Mới ngoài những dãy nhà xây thẳng hàng ngang dọc, dân phá đồi dựng lều, cất nhà. Chưa bề thế nhưng chắc chắn, không tạm bợ úi sùi như trước. Vợ chồng Đồng nhà đã dựng xong. Ba gian vững chãi, gối xà, cột kê đá tảng, tường đắp đất. Từ ngày được vợ, ở nhà mới dưới chân núi Sọc, cạnh núi Son, Đồng hoàn toàn thay đổi tính cách. Đi làm đều hơn. Về nhà, chí thú việc gia đình. Cô vợ sau cơn bão dập từ thằng chồng khốn khổ về ở với Đồng. Rút được kinh nghiệm cô dùng tình thương giàng giữ cảm hoá chồng. Vợ chồng Đá bận việc nhưng quan tâm hơn đến chú thím, tranh thủ lên. Chồng bày vẽ công việc. Vợ giúp giập tiền nong. Chân son mình rồi, nhà không giàu có nhưng tạm đủ. Hòm gạo không vơi. Hũ muối chai mắm lúc nào cũng sẵn.


Năm 1929 khởi đầu từ nước Mĩ, thế giới bước vào cuộc tổng khủng hoảng toàn diện và trầm trọng, tác động mạnh đến nền kinh tế thuộc địa. Nhiều công ty làm ăn thua lỗ nghiêm trọng đến mức phá sản. Hàng loạt thợ bị giãn. Cuôc sống khó khăn như trứng để đầu gậy. Người trong hội kín đã về vùng mỏ, làm việc trên tầng, trong lò, nhà xưởng. Họ bắt rễ từ những cu li cực khổ khó khăn nhất. Các anh chị cứ chờ xem. Họ làm cho chúng ta tự nhận ra bộ mặt kẻ thù chính, đồng loạt đứng lên, giành lấy quyền làm chủ cuộc đời mình.

Nghe nói vậy chứ mặt họ tròn méo béo tốt gày gò xương xẩu ra sao, không ai hay, giỏi giang tài cán thế nào không ai rõ. Họ in ra tờ báo nói về nỗi khổ của chính anh chị em mình. Ai cũng ao ước được nhìn thấy. Những tiếng thì thầm, những nhóm tụ tập nghe ngóng dò hỏi. Có người quyết đã nhìn thấy nó. Tờ báo khổ nhỏ, chưa bằng hai bàn tay xoè, in muội đèn và hắc ín, kể nỗi khổ anh em chúng ta phải chịu đựng và kêu gọi mọi người đoàn kết đấu tranh. Người nói hội kín đông lắm, họ đã thành lập Đảng. Bị đàn áp khủng bố dữ dội, họ vẫn đứng vững. Cảnh sát khám xét tịch thu. Mật thám soi mói rình rập. Người bị bắt suốt mấy năm dong qua đường. Sao bắt mãi thế. Có phải ai xa lạ đâu. Toàn anh em chị em mình cả. Bắt thế lấy đâu ra người làm.

- Họ lập Đông Dương cộng sản Đảng, đấu tranh đòi lợi quyền cho chúng ta. Anh em thợ áo xanh (công nhân cơ khí) tại nhà sàng, nhà máy, băng, trục…phải đoàn kết với thợ áo nâu (công nhân lao động thủ công). Hàng vạn người làm tầng khổ cực, phần đông đến vụ gặt họ về nông thôn nhưng đều là chị em anh em mình chứ xa lạ gì. Mỗi khi công nhân đấu tranh, họ là lực lượng mạnh mẽ, to lớn không trở lực nào ngăn nổi.

- Nghe đâu họ còn rải truyền đơn, treo cờ đỏ, dán áp pích ở nhiều nơi lắm.

- Chả phải nghe! Chính mắt tôi thấy cờ đỏ treo trên cột điện cầu trục (poóc tích) bến Cửa Ông đây! Sáng hôm mồng bảy tháng mười một vừa rồi. Bọn lính sở chạy huỳnh huỵch, còi rúc inh ỏi. Bang phố, chủ mỏ, mật thám hoảng hốt, lăng xăng dẹp đuổi.

- Cờ búa liềm kỉ niệm mười ba năm cách mạng tháng mười Nga đấy!

- Nước Nga ở đâu?

Những bước chân chạy rầm rập vào quán Xuơ. Cô sợ hãi, mặt mũi xanh tái. Bọn mật thám, bang phố và lính sở lật, đạp, giật tất cả những gì tiện tay. Một mảnh báo văng ra từ dưới chiếu Sỏi nằm. Mảnh báo rách nhàu. Không phải báo cấm. Mặc kệ. Chữ rành rành ra đây. “Tình cảnh của chị em lao động”. “Đời chúng tôi là đời lao động. Nói đến cái đời lao động ở xã hội Việt Nam, ai mà không chau mày nhăn mặt.

Cặm cụi tối ngày: cuốc than, xúc than, đẩy xe than mà giá trị một ngày lao động của chúng tôi có được là bao?

Hai mươi lăm xu là tột phẩm! Mỗi ngày 20, 25 xu mà nào có mấy khi được đủ, còn hao nọ, hụt kia. Trên ánh mặt trời chiếu xuống như thiêu như đốt, mồ hôi nhễ nhại, mỏi gối chồn chân, cũng phải cố sức mà làm. Thày cai đứng khoanh tay sau đít, chú đốc công lượn lại lượn qua, nếu nghỉ tay một chút thì bị phạt nốt vài cắc còn chi. Hai cắc một ngày ăn đã không đủ, lấy đâu mà ở, mà mặc, lại còn khi yếu khi đau. Tình cảnh cực nhọc của chúng tôi dầu bút thần cũng không tả xiết.

Công làm đã ít, thời giờ làm lại quá nhiều…

Sáng dậy từ hai giờ, cơm nước xong, vội vội vàng vàng ra chuyến xe than 4 giờ 30 để đi kịp đến chỗ làm (chỗ này mảnh báo bị mất) Cơm nước xong xuôi đã 11, 12 giờ đêm. Ôi một ngày lao động đến 19, 20 giờ làm sao mà không mau chết.

- Phản động! Làm loạn! Cả một lũ giòi bọ làm loạn, phản động! Nhà thằng nào?

- Dạ! Nhà thằng Sỏi ạ!

- Thằng Sỏi đâu?

Xuơ mặt tái xám, lắp bắp:

- Dạ! Nhà cháu làm tầng. Nhà cháu có biết chữ nghĩa gì đâu. Chắc nhặt được ở đường mang về nhóm lửa đấy ạ.

- Không nó thì ai? Lại còn ngoác mồm cãi chày cãi cối. Lên tầng điệu nó về.

Những bước chân rấm rập.



CHƯƠNG 11



Đã vào đông. Hàng bàng gốc gác sù sì u sẹo không biết có từ khươm mươi niên nào bắt đầu rụng lá. Sau một đêm gío, lá đỏ phủ kín ngõ thợ. Trong giá lạnh, cây cành khẳng khiu giơ lên trời, khắc vào cao xanh những bức tranh mùa đông ảm đạm vắng vẻ. Phố thợ càng vắng hơn. Mùa than lại về. Dọc đường từ ngã tư qua phố Cũ, thưa thớt những phu xe đội nón bật vành, kéo xe bánh cao, chạy gằn. Mấy đứa trẻ lăm lăm súng cao su sẵn sàng nã vào con chim nhỏ nhoi lích chích kiếm ăn trên cành trơ. Bàng ngủ đông trốn chạy rét mướt. Gío quất rùng rùng.

Khoác chiếc bao gai mặc đụp bên ngoài chống lạnh, người người ngược dốc leo tầng. Gót chân toác ra, máu ứa từng khía. Tầng bốc bụi. Gío bốc bụi ném vào mặt người ràn rạt. Bụi lạo xạo trong mồm. Nước bọt khô. Những tiếng khạc nhổ. Bãi đờm xám đen. Cu li sống, làm việc, ăn ở như thế, làm giàu cho chủ. Họ gắng tồn tại trong cuộc đời vài chục năm rồi đi về nơi sương khói nhạt nhoà. Những ông bà già, cánh tay cổ chân, da lõng thõng. Những cô cậu vị thành niên, mặt mày xám ngoét. Những nam thanh nữ tú còn đùa cợt nghịch nhợm, chòng ghẹo nhau ngay cả khi đẩy goòng, chọc than. Những tiếng nói nhát gừng, bị cắt xén vì công việc không bỡn cợt với ai. Lơ là tí chút là tai hoạ, là tang tóc. Người chết đói, chết tai nạn, khổ sở trên tầng không phải hiếm. Chả ai quan tâm mấy ngoài vợ con anh em họ. Khu phố nhốn nháo người bị bắt trói, dẫn đi hàng đoàn. Dân thì thào thằng cướp giật, thằng trốn tù, thằng theo hội kín. Cũng lạ, chả rõ tại sao sau ngày Sỏi bị bắt, Xuơ lại rành rẽ, biết từng người đến thế. Thỉnh thoảng, cô theo người đi lễ chùa, lễ đền. Sỏi bị giam. Cô đến thăm nhưng trong thâm tâm đã coi anh như chồng ngày vợ bữa. Nhà phải có tiếng đàn ông cho đỡ quạnh thôi. Con Xu bắt đầu lớn, ngực nhôm nhổm hay vào hùa với mẹ, chê bai dè bỉu Sỏi. Nhiều lúc bực mình, anh đã cho cái tát. Mẹ con nó lu loa từng hồi. Xi cũng đã lên ba, chưa ý thức được gì ngoài ăn ngủ. Nó không khoẻ. Sỏi yên chí nó là con mình. Những đứa con hoang thường khoẻ. Khoẻ để chống đỡ tai ách sẽ đến ngay từ khi nằm trong thai. Các bà già nói vậy.

Công việc làm ngày càng nặng nhọc, cay cực. Thợ bụng đói ngồi thở, bị vụt, bị cắt lương diễn ra hàng ngày. Ông Bỉnh định sang năm nghỉ việc, về trông coi lán phu cùng vợ. Nấn ná chút ít, nhận thêm chút tiền lương, tiền thưởng tết là chào anh em. Vòi đã lấy vợ, ở riêng. Những đứa con có với Trắm cũng đã nghịch nô cả ngày được rồi. Cai Công thất sủng. Nghe nói bao che người trong hội kín, bị gọi lên đồn. Mặt mũi thâm tím bầm dập. Công về phố, không đi làm nữa. Cù - người thay Công - một tên khét tiếng tàn ác. Vòi đẩy xe ra. Đường sắt bập bênh sao đó. Xe cặm. Hai bố con hì hục nâng dậy. Cù tới, chẳng nói chẳng rằng, hắn túm cổ Vòi vuột xuống. Chao chao mấy cái không giữ được thăng bằng, Vòi ngã xoài ra tầng. Cù dùng gậy vụt. Cố nhoai nhổm lên, Vòi bị vụt, bị đá túi bụi vào lưng vào ngực vào vai vào đầu. Anh ngất đi, mồm nhoe nhoét máu. Ông Bỉnh thấy vậy, lao đến cản gậy đỡ đòn cho con. Một nhát gậy phang tới. Mọi người nghe “cắc” một tiếng. Bỉnh khuỵu xuống. Cây gậy của Cù gẫy gập.

- Mày ngồi đấy ăn vạ à?

Vòi đã tỉnh. Ngơ ngác một thoáng, hiểu ra sự tình, anh với với hai tay, lê lết đến chỗ Bỉnh:

- Bố ơi!


Công việc không dễ dàng có được. Tầng than đất đá nặng nhọc. Tiền lương chênh lệch giữa nam và nữ ngày một tăng. Tuyển phụ nữ vào có lợi hơn nam giới. Đàn ông phải có sức, công việc nặng nhọc vì hưởng lương cao hơn. Do vậy, tỉ lệ nam giới làm tầng thấp hơn. Phụ nữ không cứng đầu, hành hạ được. Tiền bạc ít, bị chủ khinh rẻ chà đạp về nhân phẩm, nhiều người uất ức, tự tử. Bon chủ mỏ coi họ là những con vật, dễ dàng sai khiến, điều khiển. Một người thiếu, hàng chục người thế chỗ. Họ cần việc làm, cần miếng ăn. Bọn quyền hành thoả sức thao túng, hãm hiếp phu. Có thằng cai hứng lên, vỗ vai chị em. Đang làm việc, bỏ đấy, chị em phải theo hắn ra đầu tầng, ra khe núi…Bất kể lúc nào, cu li phải hiến xác cho chủ. Không đi ư? Tai hoạ đổ dội xuống đầu. Nhiều phu phụ nữ già, gặp điều tủi hổ ấy, phải quay mặt đi, phải cúi xuống, phải mù câm. Chúng muốn ai, người ấy thường nín lặng chịu cực, nếu không, mất việc, khổ sở đói khát, tai ách dồn thúc oà ập xuống đầu.

Bên cạnh cai kí, giám thị chủ thầu người Việt, người Hoa đã xuất hiện những cai kí, công nhân người Pháp. Tổng khủng hoảng toàn diện và trầm trọng còn có nguy cơ khéo dài. Hàng loạt tầng bè dang dở, ách tắc. Phu mỏ bị giãn, mất việc, thất thểu từng nhóm dài. Cuộc tổng khủng hoảng 1929- 1930 và kéo dài đến 1933 đã làm sa sút nền kinh tế vốn đã èo uột ở Việt Nam. Cả vùng mỏ, nhiều công ty than lao đao, thậm chí chết đứng. Nhờ có vốn lớn, đất nhượng rộng và sự giúp đỡ của mẫu quốc, của ngân hàng Đông Dương, công ty Pháp mỏ than Bắc kỳ (S.F.C.T) đã đứng vững và phát triển. Cùng thời điểm họ nuốt chửng công ty than Kế Bào (Cái Bầu) và công ty than gầy Bắc Kỳ.

Công việc ngày càng khó tìm. Xin được chỗ làm không phải dễ. Lao động nặng nhọc, tầng lò khổ sở đã đành. Muốn vào làm trong xưởng máy, làm kĩ thuật, phải cạy cục nói năng, lễ lạt. Cai kí chủ thầu trông giỏ bỏ thóc. Anh phải thế nào công việc mới thơm thơm một chút, ít đổ mồ hôi hơn. Nam giới phải khoẻ mạnh, phải có lễ nhập môn. Hai chục trứng, dăm đấu nếp…

Cheo dẫn Thao vào nhà Sử. Khép nép chờ sếp ăn uống xong, ông mới ngọt nhạt thưa gửi. Trăm sự nhờ ông nhón tay làm phúc, cho cháu nó được vào làm, được nương nhờ bóng ông.

Nhìn chai rượu trắng trên bàn, Sử không nói, xỉa răng tanh tách. Thao tinh ý hơn bố, đưa chân gạt nhẹ đôi gà dưới gầm bàn. Chúng lục xục giãy. Quen lệ rồi, Sử chậm rãi:

- Làm hở? Mai. Mai đến cho sớm!



Bố con Bưởi tới nhà Quỳ xin việc. Chỗ cùng tỉnh, đồng hương nói năng cũng dễ. Quỳ nằm trên võng, lơ đễnh nghe Bưởi trình bày, thỉnh thoảng đạp chân vào cột nhà. Chiếc võng chao qua chao lại, lúc bổng lúc trầm. Tiếng kẽo kẹt đều đều. Quỳ thong thả:

- Việc hả? Việc gì bây giờ. Ông xin cho con hay cho cháu?

- Con ạ. Cháu gái đầu.

- Chúng lớn chưa? Bao nhiêu?

- Dạ! Mười sáu rồi ạ! Cháu đây!

- Bé quá! Sao cho nó đi làm sớm thế? Bằng này thì làm được gì?

- Dạ! Hoàn cảnh nhà tôi khó khăn. Hơn nữa…

- Thôi được. Mai đưa chúng lên.

Trên đường về, Gái vui vẻ hẳn, nhiều lúc đi như nhảy, lòng lâng lâng hân hoan. Bưởi lặng lẽ. Chưa biết ra sao, chưa tin được. Nó phải thành thạo công việc đã.


Những túp lều cũ ải, mòn mục đã xập xệ, nát đổ. Người ra mỏ làm ăn theo thời vụ đã về. Quê hương trì kéo họ. Những người ở lại, không về được vì nhiều lí do. Không còn thân thích, không có tiền về. Người thiếu thốn đói túng nghĩ việc về quê gặp người nhà, làng xóm thân thích xấu hổ. Họ ở lại mỏ, làm thuê làm mướn, thêm cặp, sống cuộc sống tạm thời. Người mát mặt dựng nhà riêng. Người không có cũng cố sức vay mượn. Dân tứ xứ, ai cũng ngụ cư, chả ai bẻ hoẹ rạch ròi làm gì. Đâu có cơm ăn áo mặc đấy là quê hương. Sống nơi nào không đổi sức làm thuê, làm giàu cho kẻ khác kiếm cái bỏ miệng. Người ở thuê trong các lán phu, ăn uống tạm bợ, nhếch nhác. Người ở nhà xây, nhà lá, nhà tạm, nhà kiên cố. Những tay cảnh sát được điều động về thêm, nghênh ngang thị sát thị uy trên đường. Những sĩ quan, binh lính đi lại, chạy huỳnh huỵch, hô rầm rầm sân đồn sở. Biệt thự quan đại lý trên dốc cao, bề thế, hoành tráng. Gío lồng lộng thổi từ biển vào, xua tan ngột ngạt ngày hè. Đóng kín cửa kính, cửa gỗ, gió hun hút rét mướt mùa đông chỉ còn nước đứng ngoài mà nức nở. Phía dưới nhà quan, hàng loạt biệt thự vi la của các ông chủ Pháp tiếp đến những dãy nhà, dãy phố của những người có quyền thế, có chức sắc, có tiền. Người hội kín về, xúi giục cu li làm loạn. Tầng bè, nhà xưởng và ngay trong khu dân cư lao xao những lời đồn thổi. Mặt mũi hội kín thế nào không mấy người biết. Đôi khi thấy xe bịt bùng, xe gíp chở người bị trói chạy ào đi. Cu li đầu tóc mặt mũi nhem nhuốc như nhau đã khó nhận lại còn bị vụt, bị đánh, bị trói. Người nào người nấy áo sống tơi tả, mặt mày xưng húp. Họ đều là phu tầng, phu lò, phu xưởng đấy thôi. Bị giải đi, xử tù, xử bắn đâu đó, chả mấy ai thấy trở lại. Dân túng đói, gạo xấu, độn ngô độn khoai rồi. Gạo nhà nước trắng phau phau nhưng ăn vào người mệt lả, không còn sức. Chân tay da dẻ bủng beo. Chuột chạy hàng đàn trên đường. Sở Cũ, sở Mới đều làm cầm chừng. Cai ký, giám thị, chủ thầu nhiều không ai nhớ hết tên. Đông hơn cả vẫn là cu li đông chật các lán. Cờ bạc, rượu lậu, thuốc xái tràn lan. Thỉnh thoảng nhà nước cũng bắt được người nấu, người buôn bán rượu lậu. Nồi niêu chai lọ vỡ lủng củng. Tiếng van lạy xin xỏ rộn lên. Dùi cui đập vụt chan chát vun vút. Dân phố rổn rảng xi xeo một hai ngày rồi lại yên ắng. Nhà thổ mọc lên. Khu phố mới có hai nơi dành riêng cho những người rửng mỡ. Bọn vô công rồi nghề rủ nhau quấy phá xóm thợ, quấy phá lẫn nhau. Đâm chém, rượt đuổi, la lối trộm cướp thành chuyện thường gặp. Những bước chân huỳnh huỵch chạy trong đêm. Sáng sáng những bóng người lạnh lùng, len lách từ các ngách phố, các lán phu leo dốc. Tối về lũ lượt những gương mặt xơ xác, phờ phạc, xám ngoét. Trên tầng, bên dưới cái nón sùm sụp, những cặp mắt nén nhịn cam chịu đã nảy ra những tia giận dữ. Sự công phẫn bị áp bức dồn nén tạo thành nỗi đắng cay tủi hổ chỉ chực có dịp bung ra… Những nỗi niềm ấy như một loại ung nhọt căng nhức chưa được khơi vỡ, còn bị lo lắng sợ hãi ám ảnh... Những người tham gia bãi công, bãi khoá, bãi thị ở Hải Phòng, Hà Nội, Nam Định, Hải Dương… bị đuổi, bị đầy, trốn tránh chui lủi về tầng lò, lán thợ. Họ có kinh nghiệm đấu tranh, trưởng thành từ những cuộc gây rối, làm loạn sở điện, sở dầu, sở xưởng, nhà máy rượu. Nhiều cuộc biểu tình của sinh viên, học sinh, tiểu thương, trí thức… Những cuộc bãi công từ trung tâm công nghiệp như Hà Nội, Hải Phòng…Vùng mỏ chịu ảnh hưởng của những phong trào đấu tranh rầm rộ ấy. Lực lượng cần lao được bổ xung. Người bị đàn áp, khủng bố, trốn chạy ra vùng mỏ. Họ kêu gọi, vạch những nguyên nhân dẫn đến khổ đau, gian nan mà người thợ phải gánh chịu. Nhiều người trong hội kín đi làm, lấy việc giác ngộ tuyên truyền cho thợ mỏ làm nhiệm vụ trọng tâm.

Phố thợ ngày càng mở mang rộng dài và đông đúc. Người đi lại nhộn nhịp cả khi bóng tối đã ken dày. Đằng sau các lán phu, các dãy phố, cỏ cây rậm như rừng. Nước quanh khe suối, cống rãnh ngầu ngầu rều rác. Xác súc vật hôi thối tù đọng.


Bỉnh bị đánh gẫy chân, phải nằm nhà. Bà lang Xán đến, giục mua gà giò, nấu cơm nếp giã nhuyễn, bó chân cho ông.

- Người có tuổi lâu lành, đừng sốt ruột. Nằm hàng tháng đấy. Cố gắng chịu đựng, đừng giẫy dụa nhiều.

Trắm tất tả ngược xuôi kiếm lá lẩu, thanh tre chẻ làm nẹp. Bà vừa buộc vừa chỉ dẫn:

- Không được để nước vào. Khó chịu đấy nhưng phải cố. Đừng để ông ấy xoay xở liên tục. Nó không lành được đâu. Có thân thì phải lo.


Bỉnh thở vắn than dài, xoay xoả trên tấm lạch giường trải chiếu cũ. Cô con dâu nghỉ mấy ngày sang săn sóc bố đã trở lại tầng. Nó còn công việc, còn con còn chồng. Vòi cố gắng đi làm chứ vết đấm vệt đá của thằng Cù phải nửa tháng sau mới hết. Công việc ngày càng khó khăn nặng nề hơn. Có người ăn uống thế nào sinh phù. Ấn ngón tay trỏ vào ngón chân, nhấc ra một lúc chưa hết lõm. Người bị sâu quảng. Nặn. Máu lẫn nước vàng chảy ra như có mạch ngầm. Mùi hôi khẳn. Tiếng rên rẩm dày đặc các lán. Có cả tiếng chặc lưỡi xuýt xoa, rền rẫm của kẻ chưa đủ ăn, đú đởn đưa tiền vào nhà thổ, mắc lậu, giang mai. Một tiếng gọi cha ba tiếng gọi chó. Những ông ho lao, ngồi bó cẳng, đầu gối quá tai. Những nhịp thở khò khè vì đờm rãi vướng cổ, yết hầu cứ rướn lên, kéo cả miếng da ngực nhõng nhẽo nhô lên hạ xuống. Người đã nặng mới phải thế. Bọn người khoẻ hơn, mắc bệnh cố giấu. Giấu diếm đến mức không thể giấu được nữa mới phải chịu. Không đi làm nằm lán. Một vài ngày còn được. Lâu hơn nữa, liệu tìm đường mà xéo. Chủ nhà hoặc ngọt nhạt cạnh khoé hoặc hung hãn thẳng thừng tống cổ ra. Góc núi Son có ông lão lết đến. Chết ngồi. Trên người chỉ có cái quần cộc. Qụa kêu quà quà, đen đặc lại, người ta mới biết, vùi lấp cho. Trắm cũng đảm. Hũ gạo trong nhà luôn đầy. Lọ mắm tép, âu muối…Người nghèo lo xa, thường chu tất những gì tối cần thiết. Bỉnh nằm nhà, Trắm vừa làm vừa lo. Công việc ít, ít người mua dụng cụ, ít người thuê nhà. Chu cấp tươm tất cho ba bốn miệng ăn. Xem xét, giải quyết một vòng quanh lán phu, thời gian đã hết, vòng qua chợ vội vã, đâm sấp dập ngửa, chọn lựa rau già cá cấn, nấu cơm cho phu. Hai đứa con. Thằng lên ba, đứa chập chững. Chồng ốm nằm đấy. Cả nhà trông cậy vào cô.

Gái làm được hai chục ngày. Nó thấy việc cũng thường. Sáng qua chợ, chọn mớ rau tươi, lạng thịt ngon leo tầng. Lên tầng muộn, đặt bếp nấu nước uống. Ngày nắng, củi cành thiếu gì. Bẻ vơ chốc nhát có hàng ôm. Nấu nước uống cho phu, nấu cơm ấn vào cặp lồng tươm tất cho chủ. Xếp Quỳ đi kiểm tra, xem xét, giải quyết công việc tới trưa. Phu kéo về, uống nước một chặp, tranh thủ đun nấu. Người vấu cơm, người giở cơm đùm cơm nắm mang theo ra ăn. Người nhịn, tìm gốc le, gốc sim đánh một giấc. Một lúc sau, lục tục làm. Chị Cầm nấu ăn sáng. Vợ chồng ăn xong trời còn tối đất. Để phần cơm cho con, xấp ngửa leo tầng. Gìơ nghỉ, chị tìm gốc le, khoanh một chỗ, giở kim chỉ ra vá áo quần hoặc chằm lại nón đã bật vành.


Cơm cũng chẳng nhiều, loáng cái, họ đã ăn xong, tản ra. Xếp Quỳ ăn muộn, hơi lâu. Vừa ăn, xếp vừa hỏi Gái:

- Cô thấy công việc thế nào?

- Dạ! Cũng được ạ!

- Chủ nhật tới. Nghỉ. Đến nhà tôi, tôi hướng dẫn thêm cho. Cô có biết chữ không?

- Dạ! Không ạ!

- Tôi hỏi vậy. Không thì thôi. Nếu có chữ, cô ra ghi chuyến nhàn nhã hơn.

- Cháu làm thế này cũng được.

Ăn xong, Quỳ súc miệng, đặt đầu tăm vào kẽ răng, gảy tanh tách. Trước khi ra tầng, sếp còn dặn:

- Nhớ nhé! Chủ nhật.

Hôm nay mới thứ tư. Còn những bốn ngày nữa. Gái “dạ” một tiếng, cắm cúi dọn dẹp, rửa thìa đũa, cặp lồng. Nấu tiếp nồi nước tướng nữa, chuẩn bị sẵn cho lượt nghỉ chiều. Cô đi nhặt củi gom lại, đề phòng mưa. Lúc họ tiếp tục công việc, cô thu dọn, gồng gánh về. Những buổi xong việc sớm, cô ở lại, phụ giúp họ. Đến nhà, trời mùa hè tối muộn. Vậy mà, nấu cơm xong đã không rõ mặt người rồi. Muỗi nhiều như trấu rắc. Cả nhà quây quần ăn dưới ánh trăng hay ánh sáng mơ hồ từ ngoài xa hắt về.


Ngày chủ nhật, người đi lễ nhà thờ khá sớm và đông. Gái trở dậy ngay hồi chuông thứ nhất. Chuẩn bị cơm nước cho cả nhà rồi còn đến nhà sếp. Cô mường tượng cảnh gặp sếp, gặp vợ con sếp. Vợ sếp còn trẻ và xinh. Hai hàm răng đen như hạt na. Môi đỏ không rõ tự nhiên hay tô son. Hôm bố con Gái đến xin việc, thoáng thấy con sếp nhưng chưa kịp nhìn kĩ. Nó chín mười tuổi, người mập mạp, khoẻ mạnh.

Dọn dẹp nhà cửa xong xuôi, Gái thấy còn sớm. Người đi lễ nhà thờ đang kéo dài dài. Hôm nay, bố mẹ xuống nhà chú Cải. Mẹ dặn đi đâu con gái phải ý tứ. Điều gì cần nói đắn đo cho kĩ hẵng nói. Con gái vô duyên, cười hơ hớ, nói oang oang là không được, là vứt đi. Ngồi đứng phải trông trước ngó sau, nói năng thưa gửi lễ phép. Mẹ dặn điều này đã chán ra rồi. Gái mặc áo nâu, quần nái đen, thắt bao lưng mới. Cô với cái nón, vỗ vỗ cạp vào lòng tay, nhẹ đưa lên đầu, bước ra đường.

Nắng tháng sáu. Mới sáng ra trời đã như đổ lửa. Hai bên đường thưa người qua lại. Ăn mặc diện thế này ra đường bọn bạn nó biết, chọc ghẹo cho xấu hổ chết. Quãng này vắng lắm. Tán bàng xanh ngắt nhưng héo rủ vì nắng. Vài con bồ câu tha thẩn nhặt nhạnh, thấy động vỗ cánh bay từng đoạn ngắn. Đến nhà Quỳ, trước khi gọi cửa, cô còn nhìn quanh xem có ai. Con gái mặc đẹp, hơi xấu hổ nhưng phải có người thấy mình lớn, nhìn ngó trầm trồ mới thích.


Quỳ đang dọn nhà, mở cửa mời cô. Vắt cái võng cao lên, sếp ra ghế ngồi, chỉ cho cô ghế đối diện, ngọt nhạt:

- Hôm nay trông cô xinh thật.

Tìm chỗ đặt nón, chưa kịp ngồi, nghe câu nói ấy, mặt Gái thoáng nóng lên. Cô hỏi:

- Mợ và các em đâu hả cậu?

- Về quê rồi! Mấy hôm nữa mới ra. Uống nước đi cô.

Ấm nước lã đun sôi. Quỳ rót vào hai chiếc cốc thuỷ tinh sáng loáng. Gái lúng túng:

- Nhà cậu sang quá!

Quỳ ậm ừ:

- Cô thấy công việc hàng ngày thế nào? Có vất vả lắm không?

- Dạ! Đội ơn cậu!

- Chả nói cô cũng thấy. Tôi thương cô, không bắt cô phải vất vả, đầu đội vai mang, tay xách nách ôm. Mấy hôm rồi.

- Dạ!

- Chắc cô cũng biết. Họ làm vất vả, đầu chày đít thớt. Công sá đều như nhau. Cô với họ, chả ai hơn ai một trinh nào. Tôi muốn cô ghi chuyến nhàn nhã nhưng cô không biết chữ. Cô cứ nấu nước phụ giúp với họ như thế cũng được. Làm gì cũng phải biết điều hơn lẽ thiệt. Có đúng không?

- Dạ! Cháu xin đội ơn cậu!

- Ơn huệ gì? Có sau có trước. Có đi có lại mới toại lòng nhau. Các cụ dạy rồi. Tôi thương cô, cô cũng phải thương lại tôi chứ?

- Cháu đã làm gì sai đâu. Công việc…

- Không sai. Tôi nói thương tôi là cô đền ơn tôi cơ.

Vừa nói, Quỳ vừa đứng lên ôm thốc lấy Gái. Gái hoảng sợ quẫy đạp. “choạt”. Cái cốc rơi xuống. Nước đổ tung toé ra mặt bàn, chảy thành dòng xuống nền xi măng. Cái cốc lăn nghiêng một vòng mới dừng. Gái lọt thỏm trong vòng tay Quỳ. Mặt Gái xám như chàm. Quỳ thở hồng hộc, lần tay mở các cúc áo, cởi nút yếm lưng, lật lên. Hai bầu vú Gái chỉ bằng quả trứng vịt, gai ốc nổi dày. Mặt Quỳ ập vào bộ ngực con trẻ ấy. Tay sếp vòng lên cởi nút yếm cổ, tay kia kéo tuột cái dây bao lưng ném ra, rút dải rút. Quỳ ôm thốc Gái lên giường. Tay sếp hăm hở lần tìm. Gái co dúm người lại với cặp mắt đờ dại. Quỳ lột nốt cái quần nái đen, vứt ra.

Lát sau, Quỳ lồm cồm bò dậy. Gái ôm lấy quần áo, vừa mặc vừa lấm lét nhìn. Dìu cô ra ghế, Quỳ ngồi sát cạnh cô. Gái rũ rượi, khóc tấm tức. Quỳ nhẹ nhàng: - Tôi thương cô lắm. Cứ yên chí. Thôi nín đi. Không ai biết gì đâu!

Gái thút thít. Quỳ đưa tay, vén tóc loà xoà trên mặt Gái, vỗ vỗ khuyên nhủ. Thỉnh thoảng, hắn lại sát mặt vào mớ tóc mềm mại ấy rồi hôn lên tóc, lên mắt Gái. Bàn tay thô bạo lại tiếc rẻ tìm tòi. Gái hất ra. Nhặt miếng cốc vỡ rơi trên nền nhà lên, Quỳ ngọt ngào:

- Thôi! Cô về đi. Mai nhớ đi làm nhé!


Tầng mỏ vẫn như thế. Hối hả và bình lặng. Nắng xém mặt người. Mồ hôi chảy cho dòng than ra... Trong mồ hôi có máu, có nước mắt, có cả nỗi tủi hổ, nhục nhã. Sâu thẳm đáy mắt sợ lo, cam chịu đã loé lên những tia giận dữ. Những tia giận dữ ngày càng nhiều, khắp các ngả đường, tầng lò, nhà máy, ga than. Tất cả chỉ chờ một mồi lửa nhỏ, ắt sẽ bùng lên đám cháy lớn.



HẾT TẬP MỘT


... còn tiếp ...



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ QuảngNinh ngày 01.11.2017.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004