Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới

tiểu thuyết


MỘT TRĂM VÀ CHÍN CHÍN



   Chương 35.



 N guyên tắc bí mật yêu cầu đặc biệt nghiêm ngặt bởi lẽ tình hình chống tội phạm đặt ra. Mẹ tôi hiểu điều đó. Sau khi Công bị bắt, hai đồng bọn bỏ trốn, Phóng rất cảm ơn tôi, nhưng cô cốt cán này biết đó là công việc hệ trọng, không được phép môi hở răng lạnh với bất kỳ ai. Bấy giờ làng Quan Nhân vẫn ẩn chứa sự bất ổn. Bọn tội phạm nén lút hoạt động, mục tiêu số một, chúng nhắm vào Đội vận tải đường biển. Đội vận tải này có nhiệm vụ chuyển một vạn tấn vũ khí lương thực, thuốc men và quân dụng cho chiến trường Miền Nam. Thuỷ thủ của đội là những người quen sóng nước đủ dũng khí trên đường hành quân. Lý lịch của họ đã được rà soát cẩn mật không có vấn đề uẩn khúc. Đội trưởng là một sỹ quan phục viên, một người đàn ông hấp dẫn, khuôn mặt thông minh, mái tóc đã điểm màu sương gió. Anh thuộc con đường đưa đội tàu tiến lên phía trước như thuộc lòng bàn tay. Bọn mật vụ đặc biệt quan tâm bám sát mọi hoạt động của họ. Không ai có thể ngờ trong đội tàu ấy lại có một thuỷ thủ xuất thân thành phần bần cố nông phản bội. Đó là Văn, con trai ông Võ. Sau khi phương án Một và Năm bị thất bại, bọn chúng cho rà xoát lại lực lượng cài cắm trong hàng ngũ ta,Văn báo cáo quan thầy, nội bộ chúng có kẻ phản bội phá án Một và Năm.

Một cuộc họp bí mật được tổ chức vào đúng ngày sinh nhật Bác Hồ tại một nơi an toàn tuyệt đối.Tôi nhận định nội bộ có vấn đề phức tạp mới nảy sinh, do vậy phải quyết định lui ngày hành quân lại, chờ lệnh xuất phát. Văn chưa lộ mặt, y còn nằm trong vùng cấm. Tôi biết Văn hồi Văn còn học ở trường huyện với Ngọc, con trai Bang Mỏ. Văn đã được thông báo nhập học lớp Trung cấp kỹ thuật Đường biển, nhưng đội trưởng Đa và Bọc không cấp lý lịch với lý do bất đồng chính kiến với Nông hội. Văn tình nguyện đi bộ đội, cốt cán Bọc cũng giọng đểu cáng với Thêm và Thắt, y bảo, bộ đội không cần thứ anh. Văn phải cậy người anh họ xin Đội trưởng Chính bổ xung vào đội thuỷ thủ đội vận tải. Đồng cảm với Thêm và Thắt, con cậu Lợi tôi, đặc biệt vì Văn biết cách mạng đang gạt tôi ra khỏi hàng ngũ những người kháng chiến. Tôi bí mật theo dõi Văn. Ngược lại Văn phải trả lời bọn quan thầy, tôi có phải là cán bộ an ninh mang bí số 05 không? Kết quả điều tra của Văn là con số không. Một tên trong nhóm mật vụ từ Hải Phòng mới chuyển tới theo dõi Thêm và Thắt, cũng không phát hiện được gì về hai cán bộ an ninh mới nhập vai. Bọn mật vụ bắt đầu nghi vấn Văn hai mang đã phản bội chúng, kết cục phương án Một và Năm bị thất bại. Nội bộ chúng bắt đầu rạn nứt. Văn là một trong số những đối tượng chúng khử để trừ hoạ.Văn sinh bệnh. Đội trưởng Chính cho Văn nghỉ chữa bệnh. Bọn mật vụ càng nghi ngờ tên phản bội này.Vệ bảo tôi, không bao lâu nữa bọn chúng sẽ đổi chiến thuật và vị trí hoạt động trước khi loại bỏ những tên chúng nghi vấn và bổ xung lực lượng mới gồm những tên tử thủ với cách mạng. Em phải chuẩn bị tinh thần. Tôi ư? Để làm gì mới được chứ?Anh là chỗ dựa vững chắc nhất của tôi trong những ngày còn lại, nhưng không là của tôi, không gì hết, thế có nghĩa là chỉ còn lại tình đồng chí, ôi, tôi không tin tình đồng chí, có thể hôm nay thế này, nhưng mai, quay ngoắt lại diệt nhau như tôi đã trải. Anh đi rồi mình tôi ngồi lại với chính mình, lại cảm thấy thương anh, nhớ anh da diết. Và, lúc ấy trong tôi không còn chỗ mất niềm tin ở con người tôi hằng kính trọng.


*


Bọc được đưa lại vị trí cũ, chuyên quản lý hồ sơ những người thuộc diện bị theo dõi. Cấp giấy thông hành cho những người hắn không ưa đều ghi mật hiệu để theo dõi. Người vô can thì viết tên họ trên kẻ gạch, kẻ bị theo dõi thì viết tên họ chấm sát gạch. Những người bị viết tên họ chấm sát gạch biết mình bị theo dõi không dám đi xa, yên trí bám đồng ruộng. Ông Mạc Văn, người Đồn Sơn về kiểm tra thấy cách làm việc thô bạo của Bọc, ông bắt hắn kiểm thảo và ra lệnh cấm không được cấp giấy thông hành cho dân theo cách đó.


Sự rượt đuổi ấy làm cho tôi phát ngán. Vệ đã tuột khỏi vòng tay tôi về với người đàn bà anh tôn thờ từ hai mươi hai năm về trước. Họ xây tổ ấm trong khuôn viên xanh, có cửa sổ nhìn ra phía Đông đón gió mặt trời. Và, từ trong phòng khách có thể nhìn thấy con mương xanh xanh chảy qua cánh đồng lúa mượt mà. Tôi thật lòng mừng cho họ, nhưng không phải không có lúc nhen lên nỗi tủi hờn vì duyên phận mình bạc mệnh.


Làng Quan Nhân không còn ngườì đàn ông nào ra hồn tỏ ra thân thiện với tôi. Bọn người sống bằng nghề đăng đọn đầu "b" chấm gio bếp, một giuộc dê cụ. Bọn đàn bà nông nhàn sắm cái mủng buộc vào cọc chèo lái để họ lôi đi, nhiều chị bụng chửa vượt mặt phải thốt lên: chém cha cái kiếp lấy chồng chung / kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng. Xét cho cùng, thì họ vẫn đũa có đôi còn tôi chẳng ma nào ngó đến, mặc dầu tôi không đến nỗi xấu xí cho lắm.


*


Một hôm Văn tôi rủ, chị đi chơi với em nhé. Đi đâu? Tôi hỏi. Lên huyện. Ừ thì đi, mình cũng đang có việc cần lên huyện. Tối về nhé. Tôi giao hẹn. Chúng tôi vừa đi vừa nói chuyện tào lao. Văn bảo tụi thằng Thêm, thằng Thắt không bị Việt Minh thịt thì cũng bị đày biệt tích rồi chị nhỉ? Cũng có thể lắm, chúng nó tuy thế nhưng còn ngố lắm. Tôi nói. Văn bảo, em như chị, em đi quách đến nơi khác làm ăn, ở lại cái làng Quan Nhân này làm gì cho khổ. Ai cho đi mà đi mới được chứ? Tôi dè dặt hỏi. Em hiểu. Văn tiếp.Thằng Bọc con nhà Bao khệnh khạng lắm chị ơi, cách mạng gì hạng ấy, chỉ được cái đục khoét là tài. Tôi giả đò hỏi, cái Nâng, cái Phóng được đấy chứ? Ối cha mẹ ơi, hai con mụ ấy, em xin lôĩ chị, chúng chỉ có đem khoản vốn tự có tung ra thôi chứ làm cái đếch gì. Hôm qua, Đội trưởng Đa mới về làng Quan Nhân tọt ngay sang nhà con Nâng. Em nghe nói con này muốn chạy cho hai thằng em lên huyện làm cán bộ. Cậu tài thật, việc gì cũng thông thổ thế chả trách sợ cậu giỏi, cánh Choảng và Bọc không dùng đấy thôi.Tôi cắt ngang câu chuyện. Tôi nghi thằng này bị đồng bọn gạt ra chúng sẽ khử nó, có thể vì thế nó phải tìm cách tháo thân chăng?


Tôi bảo Văn tôi có việc phải đi. Văn cũng phải lo công việc. Một tiếng sau chúng ta sẽ gặp nhau ở Vườn Hoa Chéo. Đúng hẹn, tôi trở ra thì không thấy Văn đâu. Tôi chờ một tiếng nữa, Văn vẫn biệt tăm. Trong lúc tôi chờ Văn ở Vườn Hoa Chéo có một người dáng to cao,vẻ mặt đầy uy quyền đeo kính đen đến làm quen. Xin lỗi cô, cho phép tôi hỏi, cô có phải người làng Quan Nhân không? Dạ đúng ạ. Thế thì may quá, tôi đang cần hỏi thăm một người làng Quan Nhân, anh ấy làm Phó Chủ tịch. Anh Choảng, đúng không? Người khách lộ vẻ vui mừng. Đúng anh Choảng. Thế cô có biết ông Hiệp không? Hiệp nào, làng tôi có những ba ông Hiệp. Người khách nói, ông Hiệp chồng bà Nhã. Chồng bà Nhã, ông hỏi ông Hiệp có việc gì? Tôi chỉ muốn về thắp cho ông nén hương để tỏ lòng mến mộ một con người trung thực.Thế thì ông theo tôi.Tôi đứng lên cắp cái nón vào nách bước. Người khách tự giới thiệu tên là Bổn, người làng Cốc.


Tôi mời ông Bổn về nhà tôi. Tôi bảo, ông phải xuất trình giấy tờ tuỳ thân. Ông Bổn vui vẻ, phải vậy thôi. Bây giờ khó phân biệt người thật người giả nên cứ phải cẩn tắc vô áy náy phải không bà và cô? Ông Bổn thắp cho bà nội và bố tôi nén hương rồi thuật lại vụ việc ông biển thủ năm ngàn viên thuốc ký-ninh để Bần phải ngồi tù. Ông rất ân hận. Đáng lẽ ra ông nhà giết tôi mới phải, nhưng ông không làm thế, tôi biết ông để phúc lại cho con.Vì sao ông biết bố tôi theo dõi ông? Tôi hỏi. Hôm tôi nhận số thuốc ký-ninh do cô giao, tôi thấy cô cả tin, không bắt ký cóp gì hết, tôi nảy ra ý nghĩ biển thủ số thuốc đó vì tôi biết thị trường bấy giờ đang cần loại thuốc đó. Tổng Choảnh mời tôi vào nhà hắn chơi. Hắn khoản đãi tôi món thịt cầy tơ. Ăn uống no say rồi hắn hỏi tôi, ông cần gì không, tôi giúp? Không cần gì.Tôi nói.Tổng Choảnh bảo, tôi cần ít thuốc ký-ninh để gửi ra phục vụ kháng chiến. Suy nghĩ một lát, tôi hỏi lại hắn, ông cần bao nhiêu, tôi mách chỗ bán cho. Năm ngàn viên. Được, mai tôi tới, ông cho người theo tôi mang theo tiền mà lấy thuốc, giá cả, ông không ngại, ngoài chợ người ta bán bao nhiêu ông trả ngâqnf ấy, thế là đứt đuôi con nòng nọc.Tôi đã làm một việc thất đức. Không hiểu sao Tổng Choảnh hắn biết tôi biển thủ số thuốc ký-ninh để đưa tôi vảo cửa tử.Ông Bổn lấy khăn mùi xoa lau mồ hôi trán. Tôi nhìn sâu vào đôi mắt ông đang ngấn lệ.


Tôi hỏi ông về những ngày ở tù. Ông lại thở dài ngao ngán. Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại.Tôi bị biệt giam trong một nhà tù ở tận sơn cùng quỷ cốc thuộc Thanh Hoá cùng với bọn địa chủ cường hào gian ác, bọn phản động, biệt kích thám báo, nghĩa là đủ tất các loại đầu trâu mặt ngựa. Không có nghề nghiệp gì nên phải đánh đá hộc. Công việc hàng ngày của tôi là cầm búa tạ nện ngập cái chòong thì giao cái cho bọn đặt mìn. Ngày tôi phải làm mười lỗ. Cơm ba bát với rau và muối hột, uống nước đun sôi để nguội có pha thêm chút muối. Một tháng được ăn một bữa thịt lợn. Bấy giờ tù được ăn thế là oách rồi. Hồi ở căn cứ tôi còn bị đói và có khi ba tháng không biết miếng thịt lợn bèo nhèo. Tôi bị suy kiệt vì ốm do bị một thằng tù nện. Nó bảo mày là Việt Minh mà đang tâm làm việc khốn nạn, gắp lửa bỏ tay người, tao phải dạy cho mày bài học nhớ đời con ạ. Hôm ấy rét như cắt.Thằng tù treo tôi lên bậu cửa hắt một thùng nước lạnh vào người tôi. Tôi kêu giời kêu đất may mà ông quản giáo đến can thiệp kịp thời không thì ra ma rồi cô ạ. Tôi rách như tổ đỉa vì làm đá hộc. Nhà tù phát cho bộ quần áo chỉ được mấy tháng lành lặn thôi.Ở tù,tôi mới nhận ra tính nhân văn, ý là con người đối xử với con người. Thằng tù kia nó hành tôi, xét cho cùng cũng nhằm tính nhân văn. Nhân văn ở chỗ nó dạy tôi mở mắt ra, nó gột rửa vết bẩn trong bộ não tôi. Các cụ ta từng dạy, yêu cho vọt ghét cho chơi, câu nói thật chí lý. Tôi không căm nó mà sau trận đòn ê chề chúng tôi trở nên thân nhau. Nó đã chết vì bị suy kiệt năm nó mới ba mươi tuổi. Tôi và năm bạn tù đem xác nó lên một gò đất cao. Chúng tôi nghiêng mình trước thi thể nó. Tôi bảo, mày đi Thao nhé. Hãy yên nghỉ nơi chín suối. Sống dại rồi thì chết phải thiêng phù hộ cho vợ con mày khoẻ mạnh để chúng nuôi nhau nên người. Tao đau lòng lắm. Cảnh tượng này mãi mãi tao để trong ruột. Trước vong linh mày, tao hứa không bao giờ sa chân lỡ bước nữa.


Mẹ tôi mời cơm ông. Bà mang ra nậm rượu. Ông Bổn ngắm nghía cái nậm bảo, hình như tôi đã đựơc uống rượư trong cái nậm này thì phải. Đúng rồi, sau khi nhận đủ năm ngàn viên thuốc ký-ninh, ông nhà đã mời tôi một chén tống, cái chén ấy còn không cô? Kỷ vật của người đã khuất phải giữ gìn cô ạ, nó là báu vật sau này đấy. Thôi, bây giờ đã muộn, xin phép bà và cô, tôi lên tạ lỗi với cậu Bần. Khổ thân cậu ấy quá, tin người mang vạ vào thân, tù tội.


*


Văn vào nhà thị Men để tạ tội vì hắn mà Kiểng bị sa lưới. Đó là hồi kết của một cuộc vật lộn tìm đường mưu sinh, Văn đã chọn để rồi kết thúc một cách thảm hại. Ông Võ không thấy con về bổ đi tìm. Ông đến nhà tôi hỏi, tôi thuật lại cuộc gặp Văn cho ông nghe. Ông suy tư một lúc rồi bảo, thế là tôi hiểu, tôi hiểu cô Hoà ạ, con tôi đã phải trả giá, âu cũng đúng thôi. Sự đời vốn nó thế mà, cái vỏ chanh sau khi bị vắt kiệt nước, ai giữ làm gì cho bẩn nhà.


Tôi tiễn chân ông lòng nặng trĩu nỗi buồn. Không thể không được.Văn cũng giống như Thêm và Thắt, chúng bị đẩy sang phía bên kia. Nếu những người cách mạng không đang tâm hại họ. Lỗi này không chỉ do họ gây ra mà phải nói xuất xứ từ sự vùi dập một con người đang cố vượt lên sống có ích. Luật pháp chưa nhắc đến tội danh này để răn đe cán bộ cấp dưới.Tôi chia sẻ nỗi đau này với ông, bởi không ai tính đến điều khốn nạn ấy xảy ra. Một người mất đi, cả một gia đình tổn hại lớn. Người sống phải gồng mình lên chịu nỗi đau đời do người chết để lại. Phúc nhà tôi, hai em Thêm và Thắt đã dừng lại đúng lúc, không thì cái giá phải trả còn nặng hơn Văn rất nhiều.Vệ đã làm những việc đại nhân đại nghĩa. Anh bảo, ngăn ngừa từ xa bao giờ cũng hiệu quả rất nhiều, để nước đến chân mới nhảy, không thể tránh được hoạ, như bệnh ung thư ở giai đoạn cuối.


Thị Men lên cơn động kinh. Người nhà đưa vào nhà thương được hai ngày thì lên cơn khùng lột truồng đi ra phố. Thị khoác lên người mảnh vải rách bươm, còn quàng thêm mảnh chiếu rách và đội lên đầu cả nón, cả mũ.Thị bới những thứ người ta vứt trong thùng rác ra ăn ngon lành và chỉ vốc nước cống lên uống. Thị ngủ lăn ngủ lóc trên đường phố. Thật kỳ lạ, sự khổ cực đến tận đáy không quật đổ được thị. Thị vẫn sống cho đến ngày làng Quan Nhân mở hội mừng công giương cao ba ngọn cờ hồng xây dựng nông thôn xã hội chủ nghĩa. Thị nằm chết giữa nhà Chiến Thắng. Khi người ta phát hiện ra thì thi thể thị đã rữa, mùi xú uế xông lên nồng nặc. Làng Quan Nhân lại phải lo đám ma bất đắc dĩ. Không ai nỡ vùi thị xuống cái huyệt mới cải mả như hồi Tây, hồi Nhật cai trị mà phải chôn cất thị tử tế như một con người tử tế, nghĩa là thị được phần tám tấc đất như tất thảy mọi người làng Quan Nhân. Người làng Quan Nhân kháo nhau rằng, thị thiêng, biết quay đầu về làng để được chết, chứ không chết đường chết chợ thì nghiệp chướng quá. Mười lăm cái đầu cộng sản bêu trên cọc tre giữa chợ vẫn in đậm trong trái tim người làng Quan Nhân, đã mấy ai nguôi ngoai? Những người chết đường chồng lên nhau khi bụng lép xuống, xương sườn xương sống nhô lên gai lạnh cả người hồi ấy, ai đã nguôi ngoai?


Mẹ tôi vót hai cái đũa phoi tre cắm vào bát cơm với quả trứng gà luộc đặt lên cỗ quan tài do người làng bỏ tiền ra mua cho thị, cỗ quan tài gỗ giổi đẹp nhất lúc bấy giờ. Có người bảo, làm gì phải sắm cho thị cỗ quan tài đẹp thế, lúc sống nó có tình với ai đâu. Mẹ tôi can, bà ơi không nên nghĩ thế, nghĩa tử là nghĩ tận, chỉ có bọn thất nhân tâm mới xử tệ với người chết. Người ta còn cắm cho thị ba cây nến hồng nữa mong cho thị siêu thoát.Chết là hết. Không thể đem thù oán xuống mồ cho nên lúc sống phải khu xử với nhau cho phải đạo người. Mẹ tôi nói. Làng Quan Nhân cử đám trai tráng khiêng thị ra đồng đào sâu chôn chặt như cha ông ta vẫn làm. Qua đây, tôi mới biết bà con xì xầm về một ông ở làng Cốc có quyền chức trong tay mà nhẫn tâm không cho người trong họ đến phúng viếng một người cùng huyết thống chỉ vì lúc sống, ông ta lý sự với cha bác. Ông này còn đốt sạch mấy cuốn sách tử vi của nhà người quá cố. Đâu chỉ có vậy, ông ta còn sai người quăng cả vòng hoa viếng, nghe mà sởn hết cả gai ốc.


Ông quan ác ấy phục viên rồi. Nghe nói có nhà ở phố huyện bố để lại cho, nhưng gia đình ly tán, ông ta ở một mình bữa câu lưng câu vực, cực lắm. Bây giờ ngồi làm vè chơi. Không ai ngỏ đến, tội thật. Nếu ông ta người làng Quan Nhân, tôi bảo đảm rằng, ông không bị đối xử một cách tàn tệ như vậy, mặc dù lúc đương quyền đương chức ông đối xử với dân chẳng ra gì. Mới đây lên Cốc thăm bà dì, tôi lại nghe nói, ông mắc bệnh hay quên, định đi câu cá lại lao vào uỷ ban, để bảo vệ họ đuổi ra. Ông xưng xưng bảo, tao là uỷ ban đây. Bảo vệ họ bảo họ không biết,ông không có giấy tờ, xin đi cho, rõ rách việc. Thì ra Trời có mắt thật. Ăn ở bạc thì trước sau thế nào cũng chuốc hoạ. Đời mình qua thì đời con gánh chịu là cái chắc.


Chương 36


Gián xuống tận nhà bảo bố mẹ cháu mời cô và chị lên nhà cháu chơi. Cô và chị không đi là không xong với cháu. Cháu đuổi thẳng cổ anh Bần của cháu ra khỏi nhà thuốc đấy. Anh Bần nào của mày, tôi vặn hỏi. Không của cháu thì của ai vào đấy? Anh ấy là tù binh của cháu rồi, cô không biết đấy thôi, đã là tù binh thì phải tuân lệnh. Coi chừng thằng Công nhà mày nó lấy đầu em tao lúc nào không biết. Nó chết dịch rồi. Vào tù đâu được ba tháng bị thổ tả chết tươi. May mà nó chết chứ không, cháu phải lấy nó thi cả đời khổ vì nó là thằng mật vụ tay sai cho một thằng chết tiệt nào đấy ở làng Quan Nhân nhà cô thì phải.


Mẹ con tôi lên thăm vợ chồng Vệ. Họ mở tiệc chiêu đãi chúng tôi như những thượng khách. Hôm nay là ngày vu quy của chúng tôi, quan khách chỉ có hai họ, họ nội gồm chủ nhân: cháu Gián, tôi Vệ và vợ tôi, nàng Tiên cá với biệt danh Vược, họ ngoại có bà Nhặt, cô Hoà và em Bần, tổng cộng vừa tròn một mâm.Vược có mái tóc đen dài chấm gót rất dễ thương với dáng người đậm, nước da trắng hồng, cười rõ tươi.Tôi nhận ra một điều rất đáng trân trọng. Đó là tất cả đồ đạc trong nhà đều vẫn giữ nguyên như lúc sinh thời thầy lang Can. Bức ảnh họ chụp chung lúc mới đạ vào nhau trương ở nơi sang trọng nhất trong phòng khách. Bộ kỷ và cái tủ chè vẫn nguyên chỗ cũ. Căn phòng vợ chồng Vệ hiện tại không thay đổi bất cứ thứ gì. Lá chiếu trải giường, đôi gối và cái mùng tơ tằm, thậm chí cả hai đôi guốc mộc vẫn ở đúng vị trí của nó. Vệ bảo hình bóng ông lang Can vẫn hiện hữu trong ngôi nhà ông đã thấm mồ hôi những tháng năm gian khó, mình không thể làm sai lệch dù chỉ một chi tiết nhỏ.


Nắng mới chan hoà. Tôi ra dạo vườn thuốc. Một trăm chín mươi loài, bao gồm từ cây quý giá nhất như cây hoàn ngọc đến cây rau má, tất cả đều được chăm sóc một cách cẩn trọng.Tủ đựng thuốc ngăn nắp, sạch sẽ đến mức người kỹ tính xoa bàn tay vào giấy gói thuốc đưa lên xem không thấy vương chút bụi. Cái cầu bào vẫn sáng quoắc ngọt lịm những lát cắt. Nói tóm lại, thầy lang Can để lại những gì thuộc về giá trị nhân văn đều được bảo toàn, như một bảo tàng khoa học sống.Vược thi thoảng mới ra vườn thuốc, nhưng việc điều hành đã vào nề nếp, cô không mất thời gian đôn đốc những người phụ giúp vì họ đã được chồng mình chuẩn hoá mọi việc trong nhà. Bần thì khỏi chê. Em thao tác bài bản như thầy dạy, không sai một ly. Ngay cả mọi thứ đồ dùng của thầy hành nghề cũng vậy, em vẫn dùng như khi thầy còn, nhưng dùng xong em lau chùi sạch sẽ rồi để vào đúng nơi thầy quy định. Một gia đình sống quy củ, phụng tôn cái đẹp quả thật hiếm thấy ở một vùng quê.


Tôi ngồi lại với Vệ trong phòng khách vào đầu buổi chiều anh nghỉ việc. Anh cho biết, sống trong cảnh sum vầy như thế này, nhưng thật lòng anh không thể không nghĩ ngợi, nghĩ ngợi ở chỗ thụ hưởng của nả không phải chính bàn tay mình tạo nên. Giá như chỉ ở túp lều mồ hôi nước mắt mình đổ ra thì chẳng phải nghĩ ngợi gì, anh lại thèm.Thèm cái gì cơ?Tôi cắ ngang lời anh. Em biết đấy, đối với anh của nả không là gì hết, mà quý nhất là cái tình cái nghĩa. Anh có con Gián. Tôi nói. Đúng. Con Gián nó là cái cầu nối hai bờ sông, là chỗ dự tinh thần cho anh và Vược trụ lại. Vược là một người đàn bà biết tu nhân tích đức. Ngay sau khi ra khỏi nhà cô ấy, trước lúc mới rạng ngày, không còn bóng giặc, anh ao ước ngày trở lại. Nhưng đúng là duyên phận, anh đã mất Vược hai thập kỷ, bây giờ ân nghĩa phải đáp đền, phải không em. Em lượng thứ cho anh. Em biết.Tôi nói.


Vược đem về mười hai trái cam Bố Hạ bảo, hôm nay là ngày Cam Lai cả nhà mình thưởng thức, cam Bố Hạ ngon lắm. Gián đâu, mời bà vào xơi cam. Vược bổ cam. Con dao sắc trong bàn tay, cô tách ra những múi cam mọng nước, bất giác tôi nghĩ đến con dao của bà nội tôi bổ cau mời khách lại nao lòng. Gián bưng đĩa cam lên mời mẹ tôi, má em dậy đỏ, không biết có phải em đang nghĩ nghĩ điều hệ trọng đối với em hay không. Con gái là thế, cứ nghĩ đến chuyện yêu đương là mặt cứ đỏ au lên, khổ vậy, chưa bị khảo đã xưng tuốt tuồn tuột. Gián chạy ào ra khỏi cửa, tay cầm quả cam to nhất.


Vệ mời cam mẹ tôi, anh vui vẻ bảo, một ngày không xa nữa, bố Phúc hảo hán về, gia đình ta cũng lại sum vầy như cái tổ ấm này phải không Hoà? Mẹ tôi lại tứa nước mắt.Tôi nói. Em cũng mong như thế, nhưng cuộc chiến này đầy cam go, không biết nó kết thúc vào lúc nào, ước mơ chỉ là ước mơ thôi, còn sự thật mãi tận đẩu tận đâu ấy. Nuốt múi cam ngọt mà trong tận sâu thẳm lòng mình, tôi cảm thấy một chút đăng đắng nghẹn lại nơi cuống họng. Vãn chiều, mẹ con tôi chia tay vợ chồng Vệ. Em Bần và Gián líu ríu, tay chân thuỗn ra, mặt thì thộn, trông chúng ngộ quá đi mất. Vệ nắm tay tôi dặn dò, thằng Văn bị bọn chúng thủ tiêu rồi, làng Quan Nhân mình ổn định, công việc lại đổ lên đầu em đấy, nhớ phải ráng lên.



Chương 37


Cốt cán Nâng và cốt cán Phóng hục hặc nhau từ khi Đội trưởng Đa về huyện. Cô nào cũng tìm mọi cách tranh thủ Choảng và Bọc. Thằng Đỡ và thằng Dậy thấy chị mình yếm thế, hùng hùng hổ đe, con nào đấy lôi thôi ông táng cho bỏ mẹ.Thằng Nô lại giục mẹ mang giầu cau sang dạm Phóng cho nó. Bà Nốc mắng té tát vào mặt con, cái ngữ mày, chỉ có lấy con cún nhà người ta thôi, tao nói vậy mày khó nghe, nhưng khó nghe để cho mày mở mắt ra con ạ. Nô phụng phịu bỏ đi. Nó biết lúc này nó phải ngả về phía Phóng. Thằng Đỡ bảo thẳng thằng Nô, đừng có hão huyền. Bọc hồi này tu tỉnh hơn. Ông Mạc Văn bảo, anh không sửa chữa sai lầm, tôi đuổi anh ra khỏi tổ chức. Ông chỉ vào mặt nó, anh vì dân mà phục vụ hay là quan đè đầu cưỡi cổ dân, quen thói nại dân là không xong, nghe chưa? Từ ấy xem ra Bọc thuần lại.

Bài vè do người làng Quan Nhân làm để diễu Bọc, trẻ con vẫn truyền miệng nhau:Vè vẻ vè ve/ cái vè ông Bọc/ ông đâm bị thóc/ông chọc bị khoai/ nhà ai cũng chọc. Từ khi có bài vè Bọc kinh mà tu tỉnh lại. Choảng cũng năng nổ công việc, mà không năng nổ không được, vì xã đang chỉnh đốn tổ chức, những người bị dân la ó đều phải ra rìa. Làng Ván, làng Lái khối cốt cán bị loại rồi. Bộ đội phục viên về nắm chính quyền.

Từ khi Đội trưởng Đa đi, đám cốt cán mất quá nhiều thứ. Nâng chạy đôn chạy đáo lên huyện gặp Đội trưởng Đa. Đa bảo không gọi tôi là Đội trửơng Đa nữa nghe nó có vẻ châm biếm thế nào ý, cô cứ gọi Đa thôi, Đa nhèm cũng được. Đa có ý kiến với cấp dưới giao cho Nâng sang lãnh đạo Mặt trận, kiêm Hội Phụ nữ. Phóng vẫn giữ nguyên chức Bí thư Chi bộ. Nâng ấm ức vì tuột khỏi chức ấy. Thằng Đỡ bảo, làm Bí thư Chi bộ quyền sinh quyền sát trong tay, cho ai làm việc gì nên việc nấy, dân thì sợ xanh le mắt cáo, còn việc chị đang làm, ăn dải gì? Thử hỏi, con Phóng nó hơn gì chị? Cùng một lò cốt cán ra được Đội trưởng Đa chăm bẵm, bây giờ nhất bên trọng, nhất bên khinh, tức bỏ mẹ đi được.Thằng Dậy thì bảo, chia mẹ nó ra thành hai Chi bộ, chị Nâng làm một Bí thư, cái Phóng làm một Bí thư là ổn tất. Nâng cáu chửi um lên, lũ chúng bay biết gì mà chõ mõm vào việc của tao, biết điều thì câm miệng.


Nhà Chiến Thắng chỉ cần một người trông, khi nào làng họp thì lo nước lôi, thế thôi mà Đỡ và Nô tranh giành nhau. Nô nhất định không giao chìa khoá cho Đỡ. Nô bảo, tao có công phá đình, phá quán mới có gạch, ngói, có gỗ lạt xây nên cái nhà Chíên Thắng này chả lẽ các ông ấy hắt tao ra như hắt một thằng hủi sao? Nô nói thấu tình đạt lý, khiến người ta phải nghĩ lại việc lấy cái chìa khoá từ tay Nô giao cho Đỡ. Sống phải có tình với nhau chứ, mới hôm qua, việc gì khó cũng Nô đâu, rượu chai lớn chai bé cũng chỉ Nô lo, thịt cầy tơ không ai vào đấy ngoài thằng này, thử hỏi các ông công bằng ở chỗ nào? Nô nói. Đỡ ức lắm. Nó về nói chị gái, không thể chịu nổi, ông ấy bảo giao nhà Chiến Thắng cho em quản, thế rồi không biết tại làm sao, lại chính ông ấy lờ tít, chị bảo có tức không? Em không tham quyền cố vị, nhưng nghĩ nó bực, mình có phải hạng chày bửa gì cho cam. Thế là hai nhân vật nam cốt cán sinh chuyện, chỉ chờ cơ hội là choảng nhau.


Làng Quan Nhân đã từng xảy ta mấy vụ ẩu đả động trời chỉ vì chia cái thủ lợn, ông này được miếng lưỡi to, ông kia bị thiếu phần má thế là choảng nhau.Thế là cả lút lên hầu quan. Mỗi tên bị ba chục roi và nộp phạt ngang năm sào ruộng vì can tội gây rối. Chuyện mấy ông bà cốt cán đang giành giật chức tước chưa có hồi kết. Quả là lúc đi săn không sợ bằng lúc chia phần.

Tôi không hiểu sao, trong những tháng năm gian khổ, lớp chúng tôi không ai nghĩ đến quyền chức mà chỉ một lòng một dạ theo cách mạng, không sợ đầu rơi máu chảy. Tôi và Sương ngâm mình dưới rãnh nước bẩn, đỉa bám đầy người gần hết đêm mới đột nhập được vào tiêu diệt tên Tiên Kiềng.Dịu, một cô gái nhỏ nhắn, xinh đẹp lọt vào tận dinh luỹ bọn chỉ huy san bằng bót làng Ván và diệt Sương trừ hoạ cho dân. Chị Bao tình nguyện vào sào huyệt địch diệt tên Bang Mỏ rồi hy sinh. Bà Rãnh đưa cán bộ qua sông bị đich bắt tra tấn dã man vẫn kiên trung chấp nhận cái chết để bảo vệ ba người Việt Minh. Tất cả đều tự nguyện, không mặc cả với tổ chức, chỉ mỗi một việc xả thân vì nền độc lập của nước nhà.


Mấy ông bà cốt cán không được học lịch sử oanh liệt của lớp lớp đàn anh, đàn chị đi trước mới đổ đốn ra vậy? Tôi thiển nghĩ, từ Đội trưởng Đa đến những người đang cầm cân nảy mực ở làng Quan Nhân, chưa một ai nghĩ tới việc giáo dục truyền thống cho họ mà chỉ thổi phồng công lao họ lên tận mây xanh rồi trao bổng lộc vào tận tay họ, thử hỏi tội ấy nhỏ? Người ta đổ lỗi cho chế độ phong kiến, đế quốc nó sản sinh ra mọi thứ độc hại, đúng là như thế, nhưng nó có đẻ ra cốt cán đâu mà cốt cán hư đốn? Không thể lấp liếm tội lỗi mà hãy tự rèn mình vào khuôn khổ, lấy việc nghĩa cử vì dân mà phục vụ mới nên người được. Họ bảo tôi chỉ được cái nói như mép cá chép, chứ chưa chửi thẳng vào mặt tôi là giọng ông "Mác" làng Quao. Những ông bà cốt cán ấy rồi đây được tiếp tục đào tạo theo mốt đào tạo cốt cán của Đội trưởng Đa nặng về quyền lực và bổng lộc sẽ dẫn làng Quan Nhân này đến đâu? Bàn luận thế gọi là góp tiếng nói chung, chứ im lặng người ta lại cho dân làng Quan Nhân, một lũ "nghị gật."Cũng phải nói thật, thứ dân hạng hai như tôi khác nào con ếch ngồi đáy giếng, kêu sao thấu trời?


Chuyện chia quyền lực ở làng Quan Nhân không dừng lại ở đấy mà nó dai dẳng cho đến tận khi bầu chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp mới nổ ra tới đỉnh điểm. Trông mặt gửi vàng. Người làng Quan Nhân không muốn bầu người làng mình làm chủ nhiệm cũng không được vì người làng khác đến không xong, mà chọn mãi, quay đi ngoảnh lại cũng chỉ có mấy ông, mấy bà gọi là có máu mặt. Lâu rồi người làng Quan Nhân không gọi ông Đội trưởng Đa nữa mà gọi tên cúng cơm là ông Đa thôi. Ông Đa từ huyện chỉ đạo tầm xa xuống phải bằng mọi giá bỏ phiếu kín cho bà Nâng. Hòm phiếu đặt giữa nhà Chiến Thắng. Nội bộ thống nhất bầu Nâng. Cốt cán rỉ tai nhau bầu cho người cấp trên chỉ đạo. Cấp trên không duyệt Chín làm Chủ nhiệm Hợp tác xã Nông nghiệp là cấp trên có đủ đầy lý do xác đáng, chứ không phải cảm tính.Chỉ có ông Mạc Văn, Huyện trưởng Công an là ủng hộ Chín. Ông có lý của ông, như sau:Cậu này làm việc cho đến hết việc mới nghỉ, chứ không hết giờ thì nghỉ. Ở thôn làng mà hết giờ thì đóng cửa là hỏng việc. Anh nông dân quen tay lấm chân bùn chưa quen giờ giấc hành chính mà mình đưa hành chính vào quản là chưa ổn. Phải giáo đục hướng dẫn cho bà con quen dần đi đã, ép như kiểu ép dầu ép mỡ chỉ có hỏng việc. Cậu Chín này không chỉ có mặt tốt ấy mà còn biết công tác quần chúng, nó thể hiện ở chỗ luôn luôn gần dân, làm gì cũng xem xét trước xem có hợp bụng dân thì mới làm. Tiêu chuẩn gì cũng không thể vượt qua được những tiêu chuẩn ấy. Một mình ông Mạc Văn không địch được tập thể. Bỏ phiếu, ông không quá bán.


Tin ấy đồn thổi về làng Quan Nhân như chuyện cổ tích “Cái lông con gà mái.” Con gà mái rỉa cánh rụng mất một cái lông. Con ngan nói với con cuốc, sáng nay chị gà mái rỉa cánh rụng mười cái lông. Con ngỗng thì thầm với con cò bợ chính mắt nó trông thấy chị gà mái rỉa cánh rụng một túm lông rõ thật to. Con vẹt nghe thấy vậy chạy bổ đến bảo, chúng bay nói sai bét. Chị gà mái sáng nay rỉa cánh rụng hết lông cánh rồi. Con diều hâu tức giận đùng đùng đến tuyên bố xanh rờn, đích thị tao trông hai năm rõ mười, chị gà mái rỉa cánh trụi sạch lông, trông kinh khủng lắm. Hiện tại chị ấy không dám ra đường bới chải kiếm ăn, không khéo chết đói.


Chín chẳng biết người ta đồn thổi về mình chuyên ác độc, cứ cặm cụi lo công lo việc, đến khi ngã ngửa ra mới biết toàn những chuyện bịa đặt cho mình, nhưng không biết ai khêu ra. Mà kỳ lạ thay, ai cũng bảo tao nghe người này nói thế này, người kia lại nói, tao nghe người nọ nói thế, nghĩa là toàn chuyện vịt giời. Chẳng ai thanh minh cho Chín, mà có muốn thanh minh cũng chịu cứng.


Vợ Chín bảo chồng, thôi, anh yêu quý của em ơi, cứ lo việc nhà cho em chạy chợ là xong béng. Chơi trò cơm nhà vác tù và hàng tổng, không khéo còn mất mạng. Tốt hơn hết, anh tuyên bố không làm chủ nhiệm. Người ta lại phản biện lại, ai bầu cho mà làm, nói không biết ngượng mồm.Thử ra ứng cử xem, may thì được năm phiếu là rát tay lái.Tội nghiệp cho Chín, một người lấy việc công làm trọng, muốn được đem sức lực ra phục vụ bà con mà không xong. Có người nói đến tai tôi, cái nhà cô Hoà đâu mà im hơi lặng tiếng thế nhỉ. Không ra mặt bênh thằng Chín cho nó làm chủ nhiệm, người ta cũng thừa biết thúc tay trong bị ngo ngoe chạy bổ ra công đường kiếm chác, nhưng cán bộ làng này đâu có mù, dân làng này đâu có mù.

Tức lộn ruột, nhưng tôi phải im để xem họ giở tiếp trò trống gì nữa. hôm sau cả làng ra nhà Chiến Thắng bầu chủ nhiệm. Danh sách đề cử chỉ có một, đó là bà Nâng. Ngồi bên phải bà Nâng là Đa thay mặt Huyện uỷ, bên trái là Choảng đại diện xã, phía sau toàn là lực lượng mới trỗi dậy mặt bấm ra sữa và mấy cha rượu say mèm. Đa tuyên bố, tôi thay mặt Huyện uỷ giới thiệu đảng viên Lê Thị Nâng ứng cử Chủ nhiệm Hợp tác xã Nông nghiệp làng Quan Nhân. Đảng đã cử thì chắc như cua gạch rồi khỏi phải bàn. Đám chạy ngoài đã chuẩn bị liên hoan mặn. Chú lợn choai xấu số bị phanh ra, trong cái chạn bát bẩn bem đã bày món tiết canh lòng lợn cho ruồi bâu, kinh bỏ mẹ. Ban Kiểm phiếu mặt tươi rói mở hòm phiểu kiểm thì hỡi ôi,bà Nâng chỉ được lèo tèo dăm chục phiếu, Chín chiếm số phiếu tuyệt đối. Đa đứmg lên tuyên bố, cuộc bỏ phiếu này không hợp lệ bởi anh Chín không ứng cử thì không được bầu. Những phiếu bầu cho Chín là không hợp lệ. Hội nghị giải tán. Dân làng lũ lượt kéo nhau ra về trò chuyện râm ran vui đáo để. Những người được mời ở lại, sáu vị một mâm, mỗi mâm kèm một chai sáu lăm cuốc lủi. Đa cạch món tiết canh vì đã một lần bị thổ tả hút chết.

Đa phê phán cấp dưới hữu khuynh, đáng lẽ chỉ nên cử đại diện mỗi tổ hai người, còn đảng viên, cán bộ thì coi như đại biểu chính thức, chắc chắn bà Nâng trúng số phiếu tuyệt đối. Nghe cấp trên phê phán, anh nào anh ấy mặt ngay như ngỗng ỉa. Thua keo này bày keo khác lo gì, lần sau rút kinh nghiệm, làm theo sự chỉ đạo của đồng chí Đa thay mặt Huyện uỷ. Choảng nói. Bọc ngồi yên, không nói gì, chén tù tì hai bát tiết canh và cả đĩa lòng.

Đỡ bảo Đa, anh về nhà em nghỉ, giường chiếu sạch sẽ, tối mời anh xơi bát cháo gà và làm một ly rượu đế. Đa giữ ý về nhà Bọc. Bọc bảo nghe thằng chó ấy về nhà nó, mai cả làng Quan Nhân thổi lên chuyện ông ngủ với con Nâng chỉ có mà ê mặt. Bà Nốc gặp Đa ở nhà ông Võ ra mau miệng chào đồng chí Đa. Ông huyện cau mặt hỏi, ai đồng chí với bà, chỉ được cái vớ vẩn, từ dày trở đi còn hỗn là không xong đâu. Sao ông lại bảo tôi hỗn. Ông là đồng chí của thằng Nô nhà tôi, tôi ngay thật chào ông là đồng chí, ông không chịu thì thôi vậy, hà cớ gì ông nạt nộ tôi? Bà về. Con trai vừa đặt chân đến cổng ngõ, bà Nốc đã lộn tam bành. Bà bảo, từ rày mày chớ có đồng chí, đồng chó với cái thằng Đa nữa nhá. Nó vừa chỉnh tao. Vì sao anh ấy chỉnh mẹ. Nô hỏi. Tao ngay thật chào nó là đồng chí. Nó không đồng chí với tao thì thôi, hà cớ gì phát khùng lên chỉnh con già này? Tao cấm. Ơ hay nhỉ, mẹ hâm thật rồi. Anh Đa là thủ trưởng của con. Chúng con coi nhau như năm ngón tay trong một bàn tay. Hàng ngày vưỡn họp bàn công việc với nhau, sao mẹ lại cấm? Con sắp được đi học lớp dân vận đấy mẹ đừng có tưởng. Bấy giờ bà Nốc mới tỉnh ngộ. Bà cất cái nón mê vào chõng tre rồi vào bếp thổi lửa nấu cơm cho thằng Nô ăn để nó đi họp. Chín đứa mặt bấm ra sữa kéo đến nhà Nô. Chúng cười hô hố.Thằng trông có vẻ đứng đắn khoảng mười tám, mười chín, còn toàn loại mười sáu mười bẩy, ăn chưa no lo chưa tới, bảo đâu chúng xâu đấy, làm thục mạng. Đa dựa vào tụi này bảo, đào tạo thế hệ trẻ cho làng Quan Nhân sau này kế tiếp sự nghiệp cha anh, lớp người đi trước đổ máu xương cho cách mạng. Chúng tôn Nô là anh trưởng. Đội trưởng Đa sử dụng Nô và bọn trẻ để sai vặt.Trong số chín đứa trẻ ấy thằng lớn nhất từ bé đã ngang như cành bứa, bố mẹ nó mới đặt cái tên cho nó là Ngạnh. Tôi không biết tên đứa nào nữa. Chín thì thuộc mặt chúng cả vì chúng sinh hoạt trong Đội Thiếu niên Kim Đồng.Tôi bảo Chín, bọn này lớn người nhưng non dạ, phải uốn nắn từ bây giờ chứ để khi nhiễm độc, uốn không xong mà có khi gẫy. Các cụ bảo, uốn cây tự thuở còn xanh là vì thế. Vâng. Chín nói. Từ ấy, tôi thường hỏi về cách răn dạy chín thằng nhóc người làng Quan Nhân, Chín bảo cô quan tâm thế cháu cám ơn, nhưng cô yên tâm đi.


Tôi nghe phong phanh, người ta đồn tôi đã ngầm chạy bên trong đến rỉ tai nhiều người nhờ họ bầu cho Chín làm chủ nhiệm, nếu không, Chín không thể trúng số phiêú tuyệt đối được.Tôi còn bán tín bán nghi, thì ba ngày sau đó Đa gọi tôi lên nhà Chiến Thắng chỉnh đốn tư tưởng. Chị định phá hợp tác xã đấy hả? Chị phá thế chưa đủ sao? Đa chất vấn. Tôi nói cho chị biết, chị phải dừng lại ngay, không thì hối không kịp đâu. Đa đe. Anh sai rồi đây. Tôi nói. Sai là sai chỗ nào? Sai ở chỗ ăn không nói có theo kiểu gắp lửa bỏ tay người, không khéo trời đánh giữa trời nắng đấy. Tôi nói. Chị rủa tôi hả? Tôi không rủa anh, nhưng tôi cảnh báo để anh biết, phải cẩn thận, sấm sét giáng xuống đâù cho đấy.Anh không thấy làng Quan Nhân này đã có khối ngừơi bị sét đánh giữa trời nắngsao?



Chương 38


Bần nhắn về, mẹ phải lên chỗ con ngay, con có việc cần hỏi ý kiến mẹ. Mẹ tôi bảo, không khéo em con mắc bẫy con Gián rồi cũng nên. Mẹ lo lắm nhỡ ra con người ta bụng mang dạ chửa rồi thì sao? Tội con Dịu lắm. Mẹ tôi lại than ngắn thở dài. Tôi bảo mẹ yên trí con biết phải làm gì rồi. Anh Vệ ủng hộ giơ cả hai tay. Mẹ Gián thì nhất nhất chỉ gả cái Gián cho em Bần.


Tôi lại nhớ đến Sương. Giá như, tôi chợt nghĩ, cứ để yên, tôi đã có cách cứu anh khỏi tội lỗi để trở về. Tôi tin như vậy. Tình yêu là điểm yếu nhất nhưng nó là chỗ nương náu lúc lâm nguy, nhưng Dịu quả cảm vì tôi mà trả thù để cứu vãn danh dự cả nhà. Bấy giờ cái “con” trong người tôi lại trỗi dậy, tôi muốn em Bần cưới Gián ngay, chờ đợi đến bao giờ, cuộc chiến này chưa có hồi kết. Mặc Dịu. Kết thúc chiến tranh nó sẽ có nhiều người sáng giá giang tay ra đón Dịu lo gì, với lại, hoạt động trong lòng địch, biết thế nào được, sống chết trong cái tích tắc. Tôi bảo mẹ để tôi đi.Khi nghĩ lại, tôi lại thương Dịu. Em một thân một mình mang tình yêu vào nơi sinh tử. Phải ngăn Bần lại. Dù Gián có lỡ xảy ra chuyện ấy thì cũng phải dừng. Chỉ có khoảng khắc cứu vãn lại tình yêu của Dịu, bỏ lỡ thì sẽ ân hận cả đời. Là người đàn bà dã từng bị phản bội, tôi hiểu nỗi đau của những người gặp hoàn cảnh đó. Tôi càng hiểu nỗi lòng mẹ đối với Dịu. Khi đến nhà Vược mới biết là không phải chuyện ấy mà chỉ vì em muốn mẹ biết con trai mẹ đã trưởng thành một thầy lang, tuy chưa bằng thầy lang Can, nhưng em đã có thể tự lập. Em nói với mẹ, em đi học Đại học Y ở Hà Nội. Mẹ tôi vui lắm bà đồng ý ngay và hỏi em cần mẹ và chị giúp gì không, nó bảo mẹ và chị không phải lo gì cho con cả.Tôi hỏi ý kiến Vệ. Anh bảo chính anh đưa vấn đề này ra và quyết định cho Bần đi trong khoá học này. Gián cũng sẽ lên Hà Nội học trường Đông y dược nối gót bố Lang Can. Còn chuyện riêng của chúng cứ để chúng tự lo, người lớn chỉ hướng cho chúng đường đi nước bước thôi, chứ không áp đặt.

Đúng một tháng sau, tin mật báo về Dịu đã hy sinh trong trận tiến công vào sào huyệt địch. Cả nhà tôi rối lên ai nấy ủ rũ, nhưng không để lộ ra bên ngoài để người ta biết. Anh Vệ dặn vậy.Tôi còn nhận được tin bố Phúc hảo hán vẫn khỏe, ông đang ở mặt trận Sài Gòn-Gia Định, ngoài ra không biết gì thêm, nhưng như thế là đủ để mẹ con tôi hạnh phúc, dẫu biết hiện tại phải nhẫn nhục chịu đựng. Tôi biết đâu phải mỗi gia dình tôi phải nhẫn nhục chịu đựng mà ở làng Quan Nhân này còn những sáu gia đình nữa đang sống trong sự khinh miệt của những người thuộc vây cánh bọn Nô, Bọc, Đỡ, Dậy…


Bần âm thầm chịu đựng cái tang lớn nhất trong đời. Anh Vệ hiểu nỗi lòng em bằng mọi cách giúp em vượt qua để sống và học tập. Tôi biết em đau đớn vì mất Dịu, nhưng bù lại em được Gián, con bé cũng được. Giỏi giang, nhanh nhẹn, chân thực đó là những đức tính cao đẹp của người con gái. Em là phiên bản của người mẹ đôn hậu và đảm đang. Hạnh phúc trong tầm tay các em, vấn đề chỉ còn là thời gian thôi. Bần hiểu lòng Gián đã gửi gắm vào mình sự tin cậy và yêu thương. Em không đáp đền được là lý do em không thể bội nghĩa với Dịu. Nhưng chưa phải lúc để em nói với Gián. Anh Vệ cũng chưa bộc lộ ý đồ với cả hai đứa.


Tôi đang lo sửa lại mái nhà dột. Đàn ông cái nhà, đàn bà cái bếp, phận gái khó quá. Chín đến bảo, cô để cháu lo. Thơ vợ Chín có bầu tháng thứ năm,ộ ệ lắm rồi, lại công kia việc nọ đều đến tay, lo làm sao được cho tôi. Ông Võ sang chơi thấy mái nhà dột như rá bảo, bà và cô phải lo dọi lại, không thì mưa gió đến khó bề an toàn. Ông biết cảnh mẹ goá con côi rồi, nhưng không thể nói đỡ được. Ông thở dài bảo, ông Đa hỏi tôi có phải cô Hoà vận động tôi và mười bốn người nữa bỏ phiếu bầu chú Chín làm chủ nhiệm không, tôi dứt khoát nói không. Bà Nốc cũng bảo không có chuyện cô Hoà bảo chúng tôi bỏ phiếu bầu cậu Chín làm chủ nhiệm. Đổ oan cho người ta giời hại như bà Vách. Thằng Nô thì xưng xưng nói, chính tai nó nghe, mắt nó thấy, chị Hoà dặn mẹ nó bỏ phiếu bầu cho anh Chín.Tôi nói sai cứ kê cổ tôi lên thớt mà chặt.


Bà Nốc nghe được chuyện thảo khấu của thằng con trai túm tóc riềng cho một mẻ thừa sống bán chết. Cô Hoà bảo tao bỏ phiếu cho cậu Chín bao giờ mà mày dám gắp lửa bỏ tay người, không sợ báo oán như bà Vách hở thằng giời đánh kia? Thằng Nô giằng khỏi tay mẹ, nó bảo anh Đa bảo cứ nói tóang lên thế ai tin thì tin, không tin thì thôi, mất cái gì. Lại nhiều người đến thanh minh với mẹ tôi là họ không nói cô Hoà xui chúng tôi bỏ phiếu cho anh Chín làm chủ nhiệm. Mẹ tôi chỉ cười bảo cám ơn các bà, mời các bà vào nhà ăn miếng giầu cay. Người ta lại gọi tôi lên nhà Chiến Thắng quy thêm cho tôi ba tội nữa. Tội thứ nhất, vận động mười sáu người bỏ phiếu bầu cho Chín làm chủ nhiệm trong khi Đảng không giới thiệu, gây nội bộ Đảng nghi hoặc lẫn nhau, dẫn đến mất đoàn kết. Đó là tội chống lại đường lối tổ chức của Chi bộ. Tội thứ hai, xúi giục phần tử xấu làm vè bêu riếu cán bộ. Rõ nhất là bài vè về đồng chí Bọc. Tội thứ ba, gây bè kéo cánh, tranh thủ những phần tử bất mãn với chế độ trong hàng ngũ tề nguỵ, tập hợp chúng chống cuộc vận động dân vào hợp tác xã.Tôi khẳng định,tôi chả mắc tội gì cả, đó chỉ là sự vu khống trắng trợn. Đa đập bàn quát, tôi quát lại tay đôi. Đa lệnh cho Dậy và Nô bắt giam tôi vào xó nhà Chiến Thắng cho muỗi đói cắn ngứa ngáy không thể chịu được, tôi phải gào lên, hàng xóm đổ sang, thấy vậy, Đa hất hàm bảo Nô mở cửa cho tôi về. Tôi vừa ra khỏi cửa thì Thơ tới, cháu đem cơm cho tôi ăn bữa chiều. Cô cháu gặp nhau mừng mừng tủi tủi dắt nhau về. Con mắt hau háu của Đa dõi theo khiến tôi bực.


Bọn mật vụ theo dõi rất sát sao mâu thuẫn giữa tôi với chính quyền làng Quan Nhân. Anh Vệ cho biết, chúng vẫn đinh ninh Thêm và Thắt đã bị ta thủ tiêu, nhưng chưa đến lúc chín muồi để lung lạc tôi vào tổ chức của chúng. Chúng sẽ dùng nghiệp vụ khoét sâu, mở rộng thêm mâu thuẫn, tiến tới kích động dân làng Quan Nhân tập trung chống Đa.


Việc bầu Chủ nhiệm Hợp tác xã Nông nghiệp làng Quan Nhân vì thế phải tạm hoãn lại, nhưng chưa biết bao giờ mới đủ điều kiện tiến hành. Nâng tức tối gặp tôi, cô ta nhổ toẹt bãi nước bọt. Đỡ và Dậy đến đâu cũng tô tô khua môi bảo làng Quan Nhân mình có bọn phản động chống phá phong trào hợp tác hoá, anh Đa và dân quân đang ráo riết truy lùng, chắc chắn chỉ nay mai là mặt chó lộ diện. Thằng Nô lại lôi bài vè về Bọc ra đọc: vè vẻ vè ve/ cái vè ông Bọc/ ông đâm bị thóc/ ông chọc bị khoai/ không nhằm bôi xấu Bọc mà chủ ý nó muốn nói cho dân làng biết bài vè ấy bây giờ bị xếp vào văn hoá phản động rồi, cấm không ai được đoc. Một bà cụ nhai trầu bỏm bẻm hỏi, cấm không được đọc chớ sao cậu lại tô tô đọc vây? Cháu đọc lại để các bà biết nó là bài vè văn hoá phản động để mọi người biết nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, bà hiểu nhầm thế chết cháu.Thế có nghĩa là cấm vè và vè cấm. Bà cụ nói. Ngày xưa ấy, dân mình chỉ lấy vè ra chửi bọn tham quan. Chung ức, nhưng làm quai gi được dân.


Người làng Quan Nhân không mấy ai không biết gia cảnh tôi, chỉ có điều nhiều người lăn tăn không biết có phải bố tôi là Quốc dân đảng phản động không, còn tôi, đúng là có ông bố ruột đang làm gián điệp cho chính quyền Sài Gòn, không những thế, tôi còn liên quan đến Sương, đến vợ chồng cái Mỵ, vợ chồng chị Tho toàn loại cợm cán tay sai nguỵ vân vân và vân vân, nhưng họ vẫn bán tín bán nghi tôi không đến nỗi phản động hạng nặng như Đội trưởng Đa thông báo.

Chín thằng nhóc con do Thảo dẫn đầu vào nhà tôi chơi, Ngạnh bảo anh Chín bảo chúng cháu đến thăm bà và cô, quả thật tôi vui khôn tả.Tôi phát khóc. Chúng ngơ ngác không hiểu sao tôi khóc. Lau nước mắt rồi tôi mới nói với chúng là tôi sung sướng được các cháu đến thăm. Không gì quý bằng tấm lòng con trẻ biết đến mình. Bấy nay, người lớn chẳng mấy ai đáo lại, vì họ sợ liên đới với phản động. Tôi không dám trách họ, nhưng chỉ tuỉ thân thôi.Tôi biết tụi trẻ đến thăm tôi là do Chín bảo chúng.


Mấy hôm sau thì Chín bị gọi lên nhà Chiến Thắng. Người ta chỉnh cháu vì tội cho lũ trẻ đến thăm tôi. Họ hỏi Chín, chị Hoà là đối tượng nghi vấn chính trị anh không biết sao? Ngay hôm ấy Nô được cử lên thay Chín phụ trách Đội Thiếu niên Kim Đồng. Bọc gọi tất cả chín đứa trẻ lại dặn từ nay tao cấm không đứa nào được lai vãng đến nhà bà Hoà. Chúng bay biết vì sao không, anh Đa bảo bà ấy là phản động. Phản động là thế nào hả anh? Thằng Ngạnh hỏi. Là chống lại hợp tác xã, chống lại anh Đa, chống lại chị Nâng, chống lại tao nói thế cho chúng bay dễ hiểu. Thằng Cắm cặp kè với thằng Mang lo chỉ đạo chăng dây cấy lúa thẳng hàng, xã viên làm theo, nhưng không chịu cấy dày, không phải vì chưa quen mà vì chưa thông. Họ bảo cấy dày tổ cho sâu hại, lúa đẻ nhánh ít, mặt trời không chiếu vào thân lúa được, năng suất chắc là thấp, chỉ cấy thử một mẫu thôi. Phản động từ mồm thằng Nô, thằng Cắm thối ra chứ thằng Ngạnh và lũ trẻ biết gì. Thế là từ ấy, trong ý thức tuổi thơ của lũ trẻ đã in đậm dấu ấn con mụ phản động nhất ở làng Quan Nhân. Thằng Ngạnh trông thấy tôi nó chạy biến. Điều này làm tôi đau đớn không kém khi nhìn bà nội và bố tôi chết cháy.



Chương 39


Sửa sai xong, Đội trưởng Đa về huyện. Đa được phân công sang làm Trưởng phòng Tiểu thủ công nghiệp, một ngành kinh tế quan trọng làm tiền đề cho sự nghiệp phát triển công nghiệp của một làng quê đi lên bằng một chân nông nghiệp. Với vị trí quan trọng như vậy, Đa được bổ xung vào Ban Chập hành Huyện uỷ. Bấy giờ có chân trong Huyện uỷ thì làm gì cũng giỏi. Không làm Trưởng phòng Tiểu thủ công nghiệp sang làm Trưởng phòng Văn hoá-Thông tin, hoặc giả Trưởng phòng Y tế, Giáo dục, nghĩa là Huỵện uỷ viên như con dao pha chém được, chặt được, thái được thậm chí bổ được vì lẽ đó Đa về chỉ đạo các hợp tác xã nông nghiệp làng Quan Nhân, làng Ván, làng Lái không có gì khó cả. Đa tuyên bố xanh rờn, đối với ông ta, không việc gì không làm được, thậm chí còn làm tốt là đằng khác.Đa trực tiếp chỉ đạo Hợp tác xã Nông nghịêp làng Quan Nhân, xây dựng mô hình quản lý cải tiến kỹ thuật, đẩy mạnh thâm canh, tăng năng suất cây trồng và vật nuôi.Ý đồ của huyện là phải đưa Hợp tác xã Nông nghiệp làng Quan Nhân trở thành hình mẫu toàn diện cho các hợp tác khác trong huyện học tập và làm theo. Bí thư Huyện uỷ giao cho Đa quyền rất lớn. Ra quyết định kết nạp đảng viên, đề bạt cán bộ lãnh đạo cấp xã và hợp tác xã, tự quản về tài chính. Các xã trong huyện lác mắt nhìn Đa xênh xang vai đeo xà cột, chân vẫn xỏ đôi dép bốn quai hồi còn làm Đội trưởng Đội Cải cách chỉ có khác là có cái đài mẫu đơn của nước bạn Trung Hoa chế tạo bên hông. Ông cán bộ xã nào thích nghe trộm đài đich thì đem thịt cầy tơ đến, hai lão vừa đánh chén vừa thưởng thức món ăn tinh thần tuyệt chiêu, nhưng phải thề độc với nhau, tiết lộ ra là chết cả lút.


Phương án xây dựng Hợp tác xã Nông nghiệp làng Quan Nhân hết sức qui mô và hoành tráng do Đa thiết lập. Việc ổn định chính trị phải đi trước một bước. Khởi đầu là phân loại các đối tượng thù địch. Tên nào phải đưa đi tập trung cải tạo thì đưa ngay, tên nào chưa đến mức cải tạo tập trung thì gạt sang một bên gom lại để giáo dục tại chỗ. Tôi như cái gai trong mắt Đa, thuộc diện phải đưa tập trung cải tạo ở tận vùng thâm sơn thuỷ cốc cho chết rũ xác, nhưng lập danh sách đưa lên huyện, ông Mạc Văn nghiêm mặt bảo, anh Đa này, chúng ta đã phạm phải sai lầm bắt anh Thiềng tập trung cải tạo dẫn đến cái chết oan. Anh Thiềng ra đi để lại người vợ dại và lũ trẻ thơ tội nghiệp, ai là người chịu trách nhiệm đây? Tôi sẽ cho điều tra kỹ càng không để oan sai cho người lương thiện, còn trường hợp chị Hoà, tôi nói lại lần nữa, anh không được đụng đến, đấy là việc của huyện.Từ ấy tôi tạm được yên ổn, nhưng dưới con mắt họ, tôi vẫn thuộc diện đối kháng của cách mạng. Bố tôi từng nói, ân cũng có thể giết người, oán cũng có thể giết người, không biết rồi đây mình sẽ ra sao?


Bằng mọi cách, Đa đưa Nâng vào danh sách số một ứng cử Chủ nhiệm Hợp tác xã Nông nghiệp làng Quan Nhân, nhưng qua thăm dò quần chúng thấy nguy cơ bầu là Nâng trượt đứt đuôi con nòng nọc. Là người có kinh nghiệm bày binh bố trận lật người này, nâng người khác vào vị trí ngon, Đa ra chiêu Chi bộ bổ nhiệm, dân hết chỗ nói. Chi bộ lãnh đạo toàn diện, chọn đảng viên của Đảng, phần tử ưu tú nhất ra gánh vác công việc nặng nhọc của dân làng Quan Nhân, ngoài ra không có động cơ gì khác? Cán bộ, đảng viên ngồi im như thóc đổ bồ. Dân trơ mắt ếch nhìn nhau. Bỗng một lão nông chi điền đứng phắt dậy nói, tôi xin hỏi, ông Đa, à, xin lỗi, đồng chí Đa có đảm bảo chị Nâng là đảng viên của Chi bộ cử sang làm Chủ nhiệm Hợp tác xã Nông nghiệp làng Quan Nhân sẽ đem lại no ấm cho xã viên không, đặt giả thiết, tôi chỉ đặt giả thiết thôi, chị Nâng không làm được như Chi bộ muốn thì sao, ai chịu trách nhiệm, hay đổ vấy nỗi khổ lên đầu xã viên? Không trả lời được, mặt đỏ tía tai, Đa cùn lên nói, việc đó thì tôi phải nói, chúng ta là dân phải nghe lời Chi bộ vì Chi bộ sáng suốt lúc nào cũng trung thành với lợi ích của dân. Bà con còn ai thắc mắc xin hỏi, không thì cuộc họp kết thúc ở đây. Nô bảo xin bà con một tràng vỗ tay thật rôm rả, nhưng không ai vỗ cả. Bấy giờ tôi mới hiểu hai chữ bổ nhiệm có nghĩa là Chi bộ muốn cử đảng viên sang làm gì là quyền Chi bộ, dân được bàn nhưng không quyết được. Nô và Cắm lại súng khoác vai đi rình bắt những người nói xấu cán bộ giam vào kho.


Ánh sáng lọt vào những mảng tối, rõ ra những đám khuyết của cuộc đời. Tôi lại nhớ đến lời bà nội tôi dặn, cháu ơi, không mấy ai để mắt gạt con đỉa hút máu con trâu, chỉ khi nào con đỉa no máu tự nó buông ra khỏi con trâu. Con người ta trông thấy đồng tiền dưới đất không mấy ai không cúi xuống, làm người phải ngẫm sâu xa cháu nhá.


Nâng đưa Nô vào chân kiểm soát xóm Trung. Kiểm soát đúng nghĩa của nó là kiểm soát tất cả điều hay để mọi người trông vào đấy mà học, mà làm. Kiểm soát cũng phải kiểm tất cả mọi điều dở để tránh. Nhưng là cánh tay đắc lực của Nâng, thằng này nhất nhất kiểm soát theo ý đồ của chủ nhiệm. Người làng Quan Nhân bảo người làm kiểm soát phải công bằng, Nô không đủ tiêu chuẩn, nhưng Nâng bảo được là được. Ban quản trị nhất định phải đủ mặt đại diện năm xóm. Nô đại diện xóm Trung làm kiểm soát rồi còn chân quan trọng nữa là tài vụ kế toán phải do người xóm Bắc nắm giữ. Xóm Bắc không có người được học làm kế toán tài vụ vẫn phải chọn trong bó đũa lấy một cột cờ, không ai hơn Đỡ. Nâng quyết. Xóm Nam nhận chân kỹ thuật, chuyên lo khâu nước, phân, cần, giống. Chưa có ai được học qua bất cứ trường lớp đầo tạo kỹ năng đồng ruộng, nhưng nghĩ có còn hơn không, Nâng bổ nhiệm cốt cán Mang, văn hoá lớp Hai, chuyên nghề đăng đọn. Ôi cha, đưa một thằng suốt đời bờ sông bãi sú sang bảo nông dân cách đưa cây lúa năng suất tăng gấp đôi. Thiếu chân chạy vật tư, Nâng nhắm vào Thảo, nhân tố mới đại diện cho xóm Giữa. Người cuối cùng là Vĩnh, đại diện xóm Đình lo việc văn phòng. Năm ông này đều dây mơ dễ má với Nâng. Lọt sàng xuống lia, ai ăn mà thiệt. Thế là đủ mâm, đủ bát. Nâng báo cáo danh sách các thành viên là uỷ viên Ban quả trị lên Đa. Đa đọc rất kỹ, xét từng người, trước hết, ai đó liên đới với thành phần nghi vấn phải loaị ngay, thấy không có, mới duyệt. Đa bảo, nhìn chung các uỷ viên Ban quản trị được về mặt chính trị, nhưng chuyên môn quá kém, tôi sợ họ làm không nổi, chỉ tội cô. Nâng bảo lấy đâu ra người giỏi chuyên môn bây giờ hả anh, phiến phiến thôi làm rồi họ quen việc, đâu vào đấy ngay mà.


Vấn đề nhân sự không ai thắc mắc đựơc vì năm xóm, xóm nào cũng có người đại diện rồi. Thời buổi này có ai bắc lên cân để biết người giỏi và người không giỏi? Khối người làng nhàng lên chức đến đâu cũng huênh hoang ta đây, nhưng trong đầu rỗng tuếch, ai biết. Nếu không mang danh cán bộ Ban quản trị làng Quan Nhân chỉ có mà quan hệ với ma lem.Tôi nhớ sinh thời bố tôi, ông bảo, thời xưa, chủ dạy tôi không nghiêm, tội chủ trước, tội thật nặng. Bây giờ cán bộ làm sai, cấp trên vô can, thậm chí còn có công.


Xin đưa ra một ví dụ để minh chứng. Trong số hàng chục vụ việc cán bộ bôi làm sai, như vụ bắt anh Thiềng tập trung cải tạo dẫn đến cái chết, ông Mạc Văn bảo sai. Lẽ ra cấp trên phải tội nặng hơn Đa, nhưng Đa cũng chẳng hề hấn gì, thế là hoà cả làng. Người chết oan thiệt thân. Hỏi làng Quan Nhân này có biết không? Hiện tại thì chưa có tiếng đáp lại, và có lẽ khó mà có tiếng đáp lại. Tôi ngẫm nếu không rạch ròi công và tội thì làng Quan Nhân này chưa có công bằng. Thực ra thì không chỉ làng Quan Nhân chưa có công bằng mà làng khác cũng chưa có công bằng, nói công bằng để hướng con người ta đến với cái thiện chứ thực chất công bằng cao siêu quá, hy vọng còn ở phía trước những khúc khuỷu gian truân. Còn nói đến quyền dân, thì dân bầu Chín làm chủ nhiệm sao không để Chín làm? Mang bảo, nói quyền dân cho phải lệ thôi chứ quyền là quyền Đảng, Đảng bảo ai làm thì người ấy làm, dân chủ tập trung mà. Một xã viên nghe thấy thế chỉ mặt Mang nói, anh nói bậy, Đảng nào bảo anh thế. Mới ti toe cái chức phụ trách kỹ thuật đã tinh tướng, sắp tới bầu, ra bã chửa biết chừng. Mang tức, mặt hầm hầm đi theo người vừa bổ vào mặt mình.Thằng Ngạnh được vào dân quân thế chân Nô đeo súng đi rình những người nói xấu cán bộ, như Nô bảo, thấy có động tĩnh gì khả nghi về báo ngay cho tao, tao báo cho anh Bọc bắt giam kho luôn.


*

Bố trí công tác cho Choảng còn có những ý kiến khác nhau. Sau khi rút hẳn khỏi làng Quan Nhân, Choảng lên làm Phó Chủ tịch xã. Lúc này mối quan hệ giữa Đa với Choảng bắt đầu rạn nứt bởi hai người bất đồng trong việc bố trí công tác cho Nâng và Phóng. Huyện có ý định cho Choảng đi học văn hoá, nhưng ý xã thì không muốn, thậm chí để Choảng giữ chức Phó Chủ tịch có người phản đối. Đa thật sự muốn đá hắt Choảng lên. Phóng tạm thời rút về an toàn khu sau cú vấp ngã mất mười thúng thóc và bị làm nhục.Vụ thằng khốn Công làm nhục Phóng được giữ kín, không thì trong cuộc tranh giành quyền lực vừa qua, Phóng không có chỗ chui. Hai thằng em Nâng bới lông tìm vết, sơ hở là bêu xấu Phóng.


Chỉ có Nô ủng hộ ra mặt. Nô bảo Phóng, tôi có điều muốn nói với Phóng. Điều gì vậy? Phóng hỏi. Điều này tôi sẽ nói ở nơi đẹp nhất. Nói đi. Nô mặt đỏ lên, tôi muốn lấy em làm vợ. Không được đâu, tôi đã có nơi có chốn. Phóng đáp gọn. Nô vẫn theo đuổi. Nâng biết chuyện của họ, bảo Đỡ, mày dò xem con Phóng có thật yêu thằng Nô không? Đúng là chúng yêu nhau, tao cho thằng Nô ra rìa. Bí thư Chi bộ Bọc chắc không đồng tình với chị. Đỡ nói. Cả thằng Bọc nữa, không thích, tao cũng cho bước, chúng nó chả là cái thá gì ở làng Quan Nhân này. Đỡ biết chị gái mình có Đa đứng sau. Cuối cùng rồi Choảng vẫn phải khăn gói ra đi. Về huyện Choảng chỉ là anh nhân viên chạy lăng xăng, không được giữ chức vụ gì.


Đánh gía về con người Choảng hiện còn có nhiều vấn đề phải bàn luận. Đa không ưa là dưa có dòi ngay. Đa ủng hộ ai thì người ấy lên voi. Đa ghét ai thì người ấy đầu ngập xuống bùn đen. Đa ngẫm lúc này là mà bỏ Choảng quả thật mình là quân ăn cháo đá bát. Không thể thế được, mình đá hất nó lên chả lẽ mang con bỏ chợ? Đa tìm đến gặp Chềnh. Chềnh bảo, anh là quân chó má. Cô câm miệng. Đa quát. Tôi không câm, anh làm gì tôi? Chềnh cãi. Anh trăm voi không được bát nước xáo, tôi chửa đẻ. Chểnh oà lên khóc. Tôi đã bảo, tôi đẻ tôi nuôi, anh không nghe, rồi anh vứt tôi vào sọt rác. Việc gì đã qua thì cho qua, nói mãi, hỏi được cái gì nào. Cô bảo cô mất hết, ừ thì cứ cho là thế đi, nhưng tôi hỏi cô, ai đặt cô ngồi vào cái ghế cô đang ngồi đây, cô nói đi, nói đi. Chềnh đứng lên chỉ vào chỗ ấy bảo, cái này, cái này nó đặt nghe chưa?


Đa chạy cửa Chủ tịch huyện xin cho Choảng sang Văn phòng Uỷ ban huyện, nhưng không nói suông được mà phải có cái gì đấy lót tay, mà điều này thì khó quá. Đa gọi Choảng sang bảo, cậu muốn sang Văn phòng Uỷ ban huyện thì đi lo mấy chục bạc, tôi lo cho. Tôi có cái nhẫn ngọc, bảo vật của ông nội tôi. Chỏang nói. Thế thì được. Sớm mai tôi sang Văn phòng Uỷ ban có lời với ông ấy. Ba hôm sau, cái nhẫn ngọc phát huy hiệu lực. Đó là sự khởi đầu sự nghiệp chính trị của Choảng.


Sự ngiệp của Choảng kết thúc rất sớm. Sau khi Chềnh chạy trốn ra nước ngoài bằng con thuyền gỗ xuất phát từ vụng Bến Tàu đến phao số không thì bị trận cuồng phong bất thần cuốn đi. Số người trên con thuyền bạc mệnh làm mồi cho cá hết. Choảng bị tên đầu đảng đưa người trốn ra nước ngoài trả thù bằng cách bắt Choảng chết bởi chiêu A C với thực đơn trong một tuần: Sáng, ba lạng gan rán, ba lạng bít-tết bò, ba lạng thịt ngỗng nướng, ba lạng chim quay, ba lạng nho Mỹ, một chai Na-pô-nê-on Pháp. Không tiêu hết khẩu phần đó bọn đồ tể nhồi vào mồm như bọn lái gà nhồi bánh đúc vào họng con gà.Và, đế-xe bằng cuộc làm tình với một cô bé mười lăm tuổi trong một tiếng đồng hồ. Chiều, ba lạng gan rán, ba lạng bít-tết bò, ba lạng thịt ngỗng nướng, ba lạng chim quay, ba lạng nho Mỹ, một chai Na-pô-nê-on Pháp. Ăn xong lấy tay quẹt miệng phải tụt quần ngay, con nhóc con đã ngửa ra sẵn. Choảng chịu được hai ngày rồi đầu hàng. Tên đầu đảng dằn mặt Choảng: Mày đòi ăn, đòi chơi gái tơ, chúng tao chiều. Đúng chưa? Bây giờ mày đòi hỏi gì ở chúng tao nữa, nói đi, mày sẽ được toại nguyện. Choảng bảo chúng mày giết tao bằng một viên đạn thế là diễm phúc đối với tao chứ giết tao bằng cách này quả thật ghê rợn hơn cả treo cổ. Tên đầu đảng nói, cho mày một viên kẹo đồng thì quá hạnh phúc đối với mày. Không đời nào mày được diễm phúc đó. Mày có nhớ lúc tao quỳ lạy mà mày không tha, nhất mực bắt tao phải nôn ra ba chục cây vàng. Mày thừa hiểu đám thuyền viên trên con thuyền ấy chúng chỉ nộp cho tao được hai chục cây vàng, thử hỏi tao đào mả bố mày lên bù vào chục cây vàng cho mày? Mày ăn tàn nhẫn hơn cả quỷ sa tăng, ắt mày phải chết, nhưng mày phải chết theo kiểu hiện đại của những tỷ phú. Ngày thứ ba kinh hoàng, Choảng bị nhồi hết một ky-lô rưỡi thực phẩm và chai rượu Na-pô-nê-on Pháp. Choảng đập đầu quỳ lạy tên đầu đảng và xin hoàn lại tất cả số vàng y cướp của chúng. Choảng được trả lại tự do với điều kiện nếu bẩm báo công an, chúng sẽ tiêu cả nhà y. Hành sự của tên đầu đảng đã cho Choảng có cơ hội hoàn lương.


Câu chuyện này, sau này chính tên đầu đảng khai với anh Vệ khi y bị bắt với tội đưa người trốn ra nước ngoài. Bây giờ xét thấy cần công bố, Vệ đã cho phép tôi được hầu quý vị.


Đa nói với Nâng, theo tôi ta cứ giữ nguyên bộ máy này đã. Sắp tới có năm sỹ quan người làng Quan Nhân phục viên. Chưa rõ là những ai và ý chỉ đạo của huyện bố trí họ công tác ở xã hay ở làng Quan Nhân. Nâng hơi tái mặt. Cô cốt cán này biết năm sỹ quan phục viên về làng Quan Nhân rất khó khăn đối với chị em cô. Nâng tính nước phản pháo, nhờ Đa. Anh cho thằng Đỡ nhà em lên huyện công tác càng sớm càng tốt. Đa đoán trúng ý Nâng. Cô này tính nước đi trước một bước là người biết thời thế phải thế. Đa nhận lời. Mai về huyện họp, tôi nói với mấy ông trên ấy, chắc là xuôi. Dậy thay chân Đỡ về lo khâu tài vụ kế toán. Đó là cách hoán vị khá bén. Đêm ấy, Nâng phải hầu hạ Đa theo kiểu thằng Nhật bắt thị Loan mút b. Khốn nạn, Đa bị bệnh bạch tinh, không xuất tinh được, Nâng sái quoai hàm, Đa mới tha.


Năm sỹ quan người làng Quan Nhân phục viên về làng. Huyện yêu cầu xã bố trí công tác. Trong số sỹ quan đó có Đại uý Sao đã từng tham gia Đoàn Cải cách ở Thanh Hoá ắt phải bố trí vào Thường vụ Đảng uỷ. Ai phải rút ra để viên đại uý thế chân, khó cho Đa thật. Phải chọn kẻ sẵn sàng hy sinh, nhưng kẻ đó là ai, chả lẽ bỏ Bọc ra để anh ta chỉ đảm trách mỗi chức Bí thư Chi bộ? Dù sao Bọc cũng đã có những ngày tháng sống đẹp với Đa, sao có thể vuốt mặt không nể mũi.


Đa bảo Nâng chuyển Dậy đi nơi khác cho Trung uý Thuộc nhận chân taì vụ kế toán, là đẹp lòng dân. Nâng không nghe. Đa bảo chỉ có mười phút để cô cứu sinh mệnh chính trị của cô, lâu hơn thì sự nghiệp của cô khó an toàn. Đảng đã chỉ giáo, đảng viên không thể thoái thác. Đa cho Thảo về huyện học lớp đào tạo cán bộ Đoàn. Việc bố trí một đại uý, một trung uý vào hai vị trí quan trọng của hợp tác xã khiến xã viên bằng lòng với cách làm của Đa. Người ta bảo Đa công tâm. Ba sỹ quan còn lại được phân bổ về xã. Huyện đánh giá công tác bố trí sỹ quan phục viên về xã của Đa là một bài học kinh nghiệm quý, các xã khác cần học tập.


Bầu Ban Chấp hành Đảng uỷ mới sắp tới chắc chắn vấn đề nhân sự sẽ phức tạp. Đảng viên nghiêng về phía sỹ quan phục viên. Dân nghiêng về phía sỹ quan phục viên. Đa thấy tình thế bất lợi, nhưng ý đồ chỉ đạo của huyện chưa muốn rút Đa khỏi xã này nên Đa không dám đề đạt ý kiến riêng.


Đại hội Đảng bộ xã sắp họp mà tổ chức vẫn chưa ổn. Đa lo lắng nói với Bọc và Nâng, tình hình này có lẽ phải hy sinh một trong hai đồng chí. Đại uý Sao sẽ lên làm Chủ nhiệm Hợp tác xã làng Quan Nhân. Trung uý Thuộc sẽ làm Phó Bí thư thường trực, nguy cơ chức Bí thư sẽ thuộc về Thượng uý Vận.


Cuộc xâu xé bới lông tìm vết nhau diễn ra khốc liệt. Các sỹ quan phục viên đề nghị phục hồi lại toàn bộ quyền lợi chính trị cho những đồng chí bị quy oan trong cải cách. Đòn hiểm đánh thẳng vào Đa. Và, không khoan nhượng đối với những sai lầm thuộc về nguyên tắc Đảng, họ kiến nghị cấp trên xem xét tư cách đảng viên của Đa trong cải cách ở làng Quan Nhân.


Bọc thấy tình thế Đa nguy ngập liền tháo thân đứng về phía những sỹ quan phục viên. Y báo cáo Đa hủ hoá với thị Hoa. Cu Ngọc Được chính là phiên bản của Đa. Mẹ bé không ai khác đó là thị Chềnh, con chồng thị Hoa, em gái Chỏang. Hiện nay chưa ai bắt được trai trên gái dưới, nhưng dư luận dân đặt vấn đề quan hệ bất chính của Đa với cốt cán Nâng. Phóng cũng đã trình văn bản về vấn đề này lên Ban Thường vụ Đảng uỷ. Đa đã nhanh chân đưa được Dậy về huyện làm nhân viên cửa hàng bách hoá, giữ chân thủ kho vải và hàng may mặc sẵn. Đó là lúc Đỡ đã có thế trong ngành thanh tra huyện được giới chính trị gia để mắt tới. Anh em nhà Đỡ và Dậy nổi như cồn.


Mang đi học ba tháng về kỹ thuật trồng trọt. Cắm học ba tháng kỹ thuật chăn nuôi. Nâng tự nguyện xuống làm Phó Chủ nhiệm Hợp tác xã Nông nghiệp làng Quan Nhân. Nâng đến văn phòng hợp tác xã đánh dấu ngày thứ nhất cô xuống cấp phó. Nâng không hề buồn nản, mà ngược lại cô còn rất vui. Đó là cái chìa khoá đưa cô vượt sang bước ngoặt của cuộc đời. Cô nên cám ơn những người đã tạo cho mình niềm vui ấy, vì nó mới chính là bản thể cô sau khi đã lột xác. Nô vẫn ngồi vị trí người quản lý nhà Chiến Thắng lo ngày hai bữa chén, hôm thì cầy tơ đủ món, hôm thì tiết canh lòng lợn phục dịch các sếp họp.


Tôi vẫn im lặng như con cá rô gặp kỳ nước cạn nằm dài đợi chết. Không có đồng chí sỹ quan phục viên nào đến thăm hỏi gia đình tôi lấy một lời. Thượng uý Vận được bầu vào Ban Chấp hành trực tiếp làm Bí thư. Huyện không kỷ luật Đa vì lẽ những sai lầm trong cải cách đã được sửa sai, không có bất cứ chứng cứ nào xác thực Đa vẫn cố ý gây thương tổn về tinh thần cho những người bị quy oan và người thân của họ. Khuyết điểm trong mối quan hệ tình cảm với mẹ con nhà Chềnh và Nâng của Đa cũng bị bác bỏ vì không đủ bằng chứng bởi Đa còn cái ô khá to ở huyện. Cấp trên đã tính đến khả năng bóc cái ô của Đa, nhưng rất khó. Ông Mạc Văn đã chuyển công tác lên Hà Nội.


Chín được bầu vào Đảng uỷ. Đại hội Đoàn được bầu làm Bí thư.Thơ sinh cho Chín thằng cún rất kháu. Bà Nốc bấy giờ thật sự muốn dạm hỏi Phóng cho con trai, nhưng nó giở quẻ từ chối. Nó bảo, nó không thể ngờ một cô gái có duyên được nhiều chàng trai mến mộ như Phóng lại có thể mở miệng tố cáo người con gái trong hàng ngũ đảng viên hủ hoá, thật ghê tởm. Từ đấy, Nô cũng không thân mật với Bọc như trước nữa, bởi nó khinh Bọc phản bội người anh em trong một nhà, rau cháo có nhau.


Trước khi đi học kỹ thuật trồng trọt, Nô tuyên bố, cơm nhà vác tù và hàng tổng mãi rồi, chán bỏ mẹ, về kiếm cô vợ người mình thích còn gì sướng hơn. Nô gặp tôi nó làm lành nói, chị Hoa ơi, em ngán đến tận cổ cảnh người ta tranh quyền cướp chức dẫn đến hại nhau như một lũ sói đói. Đó là rượu nó nói chứ không phải thằng Nô chỗ dựa của Đa. Sau cơn say sỉn, Nô tỉnh lại, bắt đầu nhìn lại những ngày đeo bám Bọc và Nâng phong tôn Đội trưởng Đa như một vị cứu tinh của làng Quan Nhân. Nô hỏi Bọc, anh thử đoán xem liệu anh Đa có trở lại làng mình làm Bí thư Đảng uỷ không? Em còn hai tháng nữa hết thời gian dự bị. Anh liệu xếp cho em chân nào đấy dễ kiếm tí mồi, còn nhắm chứ?


Đa với cương vị Huyện uỷ viên chỉ đạo làng Quan Nhân, nên nhất nhất việc gì Chi bộ và Ban Quản trị cũng phải báo cáo xin ý kiến, không thể tự tung tự tác. Đúng như dự đoán của tôi, nhà Chiến Thắng đã trở nên quá tải, nó không thể gồng mình lên cùng một lúc gánh vai vừa làm trụ sở Hợp tác xã Nông nghiệp làng Quan Nhân,vừa làm nơi họp hành của Chi bộ, của Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, của Mặt trận vừa làm kho chứa thóc, Chủ nhiệm Sao không thể ngồi yên, đêm ngày tính chuyện khắc phục nỗi bức xúc.


Đa biết Sao đang bức xúc nhưng giả đò không quan tâm và ngầm chờ kế toạ sơn quan hổ đấu nổ ra mong kiếm chác được gì trong cuộc giao tranh. Nâng rảnh rang, không phải bán mặt cho đất bán lưng cho trời như hồi làm Chủ nhiệm, sáng ra soi gương thoa một chút phấn rồi đến hội nghị trông cô cốt cán mỏng mày hay hạt, Đa cười rung chòm lông dưới cằm.



Chương 40


Sao kể chuyện mình. Tôi đang nghĩ nát nước làm sao có một cái kho chứa thóc đã rồi mới tính đến những cái khác.Trại lợn tập thể cũng phải làm ngay. Không thể chiếm nhà Chiến Thắng làm trụ sở hợp tác xã, việc này đã đến lúc phải tính đến. Đêm ấy không biết đêm gì mà tôi mơ thấy mình ung dung ngồi nhắm rượu với Đa ở trại lợn tập thể, rồi bỗng trời nổi gió, cơn gió cuốn mình đến kho thóc của hợp tác xã, cứ thả mình đi mây về gió như Tôn Ngộ Không. Bà ấy phát vào đít tôi gọi, có dậy không nào, sáng bảnh ra rồi còn ngấy khò khò, tôi vột dậy mắt nhắm mắt mở hỏi, mấy giờ rồi, bẩy rưỡi, bỏ mẹ rồi, muộn mất nửa tiếng, hội nghị đang chờ.Tôi vội đeo cái xà cột vào người tất tưởi ra hội nghị. Rồi sao nữa, tôi hỏi. Anh kể tiếp đi, em đang nghe đây. Tôi nói. Đếch kể nữa, nghe chuyện tôi để cô cười thối mũi.


Ngày rằm, như thường lệ tôi sắm lễ vật đền thờ Công chúa Liễu Hạnh như bà nội tôi vẫn làm. Hồi sinh thời, bà nội tôi bảo, Công chúa đây là người của giời giáng thế cứu dân, cứu nước, người thiêng lắm, dân nước mình đâu cũng thờ Công chúa. Cháu phải nhớ rằm mồng một sắm lễ vật ra thắp hương cho Công chúa cháu nhá.Tôi đang định đi thì có một người đàn ông trạc tuổi ngũ tuần, nhưng dáng nhanh nhẹn, hoạt bát và ăn nói dễ nghe đến tìm tôi. Thưa cô, cho phép tôi hỏi, cô có phải là cô Hoà, cháu nội cụ Hiệp không? Phải rồi, ông có việc cần gặp tôi? Tôi hỏi. Vâng, đúng thế, tôi cần gặp cô lắm, xin cô bớt chút thì giờ quý báu cho tôi gặp, càng nhiều càng tốt, thưa cô. Chao ơi, từ lúc cha sinh mẹ đẻ đến giờ, đây là lần đầu tiên, tôi gặp một người đàn ông ăn nói ngọt ngào như mía lùi mà vẫn toát lên sự chân thực, không màu mè khách sáo. Tôi bảo, thế thì ông vui lòng chờ tôi mang lễ vật ra đền thắp cho Công Chúa Liễu Hạnh của tôi nén hương thơm rồi tôi sẽ hầu chuyện ông có được không? Ông khách trố mắt nhìn tôi như mất hồn, cô, cô ra thắp hương cho Công chúa Liễu Hạnh? Trời, thế là phúc tôi rồi, nếu có thể được mong cô ra ân cho tôi cùng đi thắp cho Công chúa nén hương thơm? Được. Được lắm. Mời ông.Tôi săm sắn, nhưng chợt nghĩ tới những dân quân tay súng lăm lăm đứng trước cửa đền. Không được rồi ông ạ, xin ông thứ lỗi. Tôi nói. Làng tôi, người ta không cấm dâng lễ đền Công chúa, ai muốn lòng thành phải lén lút chứ không được đàng hoàng như ở các nơi khác, nhất là ông, người lạ mặt lui tới họ cho là phần tử phục hồi mê tín dị đoan, bị bắt ngay. Ông không biết đấy chứ, làng tôi đình, quán, văn chỉ, miếu, đều bị phá sạch rồi, chỉ còn cái đền thờ Công chúa Liễu Hạnh ở mãi ngoài đồng, xa làng họ mới còn yên.Thôi vậy. Mời ông vào nhà. Hầu chuyện ông xong, tôi đi cũng chưa muộn.


Ông khách tự giới thiệu tên Giáng đi thực tế làm luận án Tiến sỹ về Lễ hội Tứ bất tử. Hiện ông là nghiên cứu sinh đang học ở trường Đại học văn hoá Goóc-Ky tại Liên Xô. Nếu Luận văn Lễ hội Tứ bất tử hoàn thành, ông sẽ trở lại đất nước Xô-Viết lấy bằng Tiến sỹ. Nghe nói đền thờ Công chúa Liễu Hạnh ở làng Quan Nhân còn nguyên vẹn, nhân dân vẫn đến chiêm ngưỡng, ông tìm về. Ông bảo, điều làm ông hết sức vui sướng được biết sinh thời bà nội tôi rất coi trọng việc lễ ở đền Công chúa. Bà bảo đấy là văn hoá tâm linh. Đi lễ đền về bà vui vẻ phát lộc cho người già, cho con trẻ. Theo tôi hiểu, ông Giáng nhận xét, cụ theo đuổi việc dâng lễ vật vào đền Công chúa với mục đích tối thượng là để phúc cho con cháu. Đó là Chân, Thiện, Mỹ. Tôi cũng theo đuổi mục đích của cụ nhà, nhưng phải thành thật thưa với cô, giọng trầm xuống, ông Giáng nói, tôi rất đau lòng khi thấy chính quyền làng Quan Nhân đã phá đình, phá quán, phá văn chỉ, rất may, thưa cô còn giữ được đền Công chúa, thật diễm phúc cho làng Quan Nhân.


Ông Giáng để lại trong khoảng rỗng của đời tôi một ấn tượng rất khó phai mờ. Ông là người có học lại biết lấy việc giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc cho non sông gấm vóc trong lúc đang diễn ra đại nạn tàn phá văn hoá dân tộc như ở làng Quan Nhân này. Tôi thật xấu hổ với ông, làng Quan Nhân đã chà đạp lên nền văn hoá của chính mình.


Chủ nhiệm Sao mặt mày hớn hở. Anh đến gặp Đa để xin ý kiến phá đền thờ Công chúa Liễu Hạnh lấy vật liệu làm kho thóc và trại lợn tập thể. Đa không cần suy xét gì hết, đồng ý ngay. Ông phá đình, phá quán, đến lượt tôi, Sao nói. Phá đền thờ Công chúa Liễu Hạnh, hoà một một. Họ bắt tay nhau mỗi người đi một ngả nhưng rốt cuộc lại gặp nhau tại nhà Chiến Thắng. Chủ nhiệm Sao nói với Bí thư Chi bộ Bọc, ý ông thế nào, còn lăn tăn gì nữa, ông Đa đồng ý rồi, ông dám cưỡng lại? Bọc đứng lên thở dài bảo, ông cứ việc. Thế là tán thành rồi nhá. Chủ nhiệm Ban quản trị Hợp tác xã Nông nghiệp làng Quan Nhân họp bàn triển khai kế hoạch phá đền thờ Công chúa Liễu Hạnh. Phải nói Chủ nhiệm Sao thực hiện đúng bài bản, trên xuôi, dưới lọt, sau này nhỡ có chuyện không hay xảy ra đã có người chung vai gánh, không một mình giơ đầu chịu bang như kẻ rắp tâm phá đình làng.


Đại uý Sao đem binh pháp nhà binh ra tổ chức đêm công phá đền thờ Công chúa Liễu Hạnh như thuở ông chỉ huy công đồn diệt giặc ngoại bang. Đoàn Thanh niên và lực lượng dân quân phối hợp chặt chẽ, phân công ai vào việc ấy. Đúng giờ xuất kích, họ xông ra, tay búa tạ, tay xà beng, tay xẻng, tay cuốc, đủ loại công cụ mạnh để làm một việc kinh thiên động địa. Sáng hôm sau, người làng Quan Nhân mới ớ ra, không thấy bóng dáng đền Công chúa, tưởng đất sụt nhấn chìm đấng Tâm linh. Một thoáng, cả một đội quân hùng hậu với xe cải tiến trong tay xông ra chuyển những thứ mà họ cho là vật liệu quý để đưa Hợp tác xã làng Quan Nhân trở thành ngôi sao sáng cả một vùng trời. Trong khi đội quân vận chuyển vật liệu reo hò thì tại đất đình làng, một đội thợ nề toàn loại cao thủ được điều đến đào móng xây kho chứa thóc. Gạch về đến đâu, xuống móng hết veo đến đấy. Thoáng cái đã xong cái móng. Hôm sau, sáng ra người làng Quan Nhân đã thấy bốn bức tường kho thóc mọc lên đồ sộ cứ tưởng ma quái phù phép mới nhanh thế, chứ biết đâu do bàn tay xã viên cả. Hôm sau nữa, lại thêm một kỳ tích mới xuất hiện. Đội ngoã xóm Trung vào cuộc xây trại lợn tập thể. Tôi hiểu động cơ thôi thúc những tay bay, tay xoa kia hướng tới mục đích đáng khâm phục. Một kho thóc khổng lồ hiện hữu thay cho mái đình cong veo rêu phong trước ông đi qua bà đi lại. Một trại lợn tập thể vút lên giữa bao la xanh ngắt một màu lúa. Bức tranh quê đậm sắc màu dân tộc, nhưng vẫn mang tính hiện đại làm sáng danh một quân nhân đánh giặc giỏi, nhưng làm kinh tế cũng không thua bất kỳ nhà kinh tế học nào.


Đoàn cán bộ huyện do Bí thư Huyện uỷ dẫn đầu về khen sái cổ. Người ta tôn vinh Chủ nhiệm Sao sáng như ngôi sao sáng giữa bầu trời làng Quan Nhân.Thành tựu đó là do sự lãnh đạo của đồng chí Đa, một Huyện uỷ viên am tường việc canh nông vi bản, của đồng Bí thư Chi bộ Bọc. Chủ nhiệm Sao nói trước Đoàn cán bộ huyện. Chao ơi, lời nói chẳng mất tiền mua liệu lời mà nói cho vừa lòng nhau mà. Nâng nhìn vào cung cách chỉ đạo của tân chủ nhiệm, trong lòng không còn chỗ cho sự đố kỵ. Chịu một bàn thua áp đảo. Người làng Quan Nhân hãnh diện về người đứng mũi chịu sào. Nhưng không biết tại sao lại có chuyện Chủ nhiệm Sao mở vung nồi ra thấy mỗi ba caí Huân chương. Thì ra bà vợ cho chồng ăn Huân chương để vác tù và hàng tổng. Một chị ở bên nhà Chủ nhiệm Sao kể. Ông Sao chửi vợ rất tục. Mặc mẹ bà. Là một sỹ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam, một đảng viên, tôi phải phục vụ dân, còn bà thích thế, tôi báo cáo Đảng, ra toà luôn. Bà vợ sợ vãi cả ra quần, quỳ xuống xin đức ông chồng tha tội đừng bỏ bà.Từ ấy các bà vợ đay nghiến chồng cơm nhà vác tù và hàng trông vào bà chủ nhiệm im re, lo cơm nước cho chồng tử tế. Tôi bảo, cái được nhất của Chủ nhiệm Sao là đã làm thuần thục các bà vợ mệnh danh sư tử Hà Đông. Công đó lớn hơn công phá đền thờ Công chúa Liễu Hạnh và xây kho thóc, trại lợn tập thể. Đám phụ nữ ngoa ngoắt bổ vào mặt tôi bảo ăn với chả nói, thế mà nghe được, chả lẽ cánh đàn bà mình chịu đụt sao, đây đéo sợ, cứ cho Huân chương vào nồi, muốn ra sao thì ra.


Chủ nhiệm Sao với tôi là chỗ bạn bè thuở chăn trâu cắt cỏ nghe tôi khen phá đền thờ Công chúa Liễu Hạnh,ông bảo tôi, này bà Hoà, tôi nói cho bà biết, tôi là tôi đã cứu bà, không thì bà khó tránh khỏi vào kho để hỏi tội mê tín dị đoan, không chỉ có vậy mà bà còn tụ tập mấy chục mụ vãi trẻ ở làng Quan Nhân này quyên góp tiền xây đền thờ Công chúa Liễu Hạnh, dựa vào đó để ngấm ngầm tổ chức chống chính quyền phải không, bà trả lời đi.Chủ nhiệm Sao hỏi. Chết mẹ rồi.Tội vịt chưa qua tội gà đã tới. Chủ nhiệm Sao còn ghé sát tai tôi bảo, hôm nọ có thằng cha nào lạ mặt vào nhà bà bàn việc xây đền Công chúa Liễu Hạnh phải không? Bà biết không, người ta đang nghi hắn là tên mật vụ. Sao Chủ nhiệm không bắt? Tôi hỏi. Sao bảo, cậu Bọc nó báo cáo nhưng chưa có chứng cứ.


Tôi điên tiết, nói toạc móng heo ra cho Đại uý Sao biết, ông đã phạm sắc lệnh số 5 của Nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký. Đại uý nghe tôi nói đây. Điều 3 của Sắc lệnh này ghi rõ, cấm phá huỷ những đình, chùa, đền, miếu hoặc những nơi thờ tự khác, cung điện, thành quách cùng lăng mộ chưa được bảo tồn. Điều 5 của Sắc lệnh này còn ghi, cấm phá huỷ những bi ký, đồ vật, chiếu sắc, văn bằng, giấy má, sách vở có tính chất tôn giáo hay không, nhưng có ích cho lịch sử mà được bảo tồn, vậy xin Đại uý Sao cho biết, đền thờ Công chúa Liễu Hạnh có phải nằm trong sách cấm phá không? Chủ nhiệm Sao nghệt mặt ra ấp úng bảo, tôi, tôi không biết. Tôi nói ngay. Sau này con cháu chúng ta nó sẽ lập bia đá kể tội các ông phá hoại nền văn hoá dân tộc ở làng Quan Nhân này cho các ông sáng mắt ra. Chủ nhiệm Sao bảo, thôi tôi xin bà, việc đã rồi, bà im cho tôi nhờ, dở rói chuyện ấy ra bây giờ nguy hiểm lắm.


Một sỹ quan Quân đội nhân dân Việt Nam chiến đấu cho nền độc lập của Tổ quốc cam tâm phá hoại nền văn hoá dân tộc mà lại đổ riệt cho người khác phá hoại thì không thể tha thứ. Nỗi đau trong trái tim tôi và trong trái tim những người oan khuất không có cách gì chữa lành. Bà nội tôi, một người đàn bà không hiểu gì về văn hoá dân tộc, nhưng những việc bà đã làm nó toát lên tính nhân văn, tính thiện trong cõi tâm linh ở mỗi con người.


Tôi lại nhớ về ông Giáng. Luận án Lễ hội Tứ bất tử mà ông đang theo đuổi gặp lành hay dữ? Ông còn nghĩ đến người đàn bà nhỡ bước đưa ông vào đền thờ Công chúa Kiễu Hạnh? Liệu ông có được tiếp tục sự nghiệp cao cả của mình để thực hiện ước mơ cứu nền văn hoá dân tộc đang có nguy cơ bị tàn phá? Tôi phải làm gì giúp ông đây? Lúc này, nếu ông ở bên tôi, tôi sẽ nói cho cả bàn dân thiên hạ biết, ông đang làm một việc từ bi hỷ xả, cứu nhân độ thế của Đức Phật Từ Bi.


Không hiểu Đại uý Sao có trao đổi gì với Đa về chuyện tôi tố cáo họ không, nếu điều ấy xảy ra, tôi sẽ gặp hiểm vì tôi đã chống lại không chỉ mình Chủ nhiệm Sao mà chống lại cả tập thể hùng mạnh là Chi bộ, Mặt trận, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ làng Quan Nhân. Một cây nứa chống sao nổi cả cái bè? Người ta không diệt vì chuyện tôi tố cáo họ về tội vi phạm Sắc lệnh số 5 của Nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà về bảo tồn và gìn giữ những giá trị văn hoá dân tộc mà sẽ diệt tôi về một tội ác khác. Đại uý Sao bảo tôi im đi, hẳn ông sẽ tha cho tôi một tội mà tôi đang chịu, nhưng khi tôi im chưa chắc họ đã tha. Chả lẽ tôi mặc cả, các người hãy tha tôi trước, tôi sẽ im. Như thế là hai bên cứ giằng co nhau, chẳng thể đi đến hồi kết. Tôi đã chịu oan quá nhiều, tôi tiếp tục cam phận, như một định mệnh đối với một tội đồ.


Mặt trời chỉ mọc ở đằng Đông và lặn ở đằng Tây, không thể khác.Tôi là một con quái quỷ, không thể cải tà quy chính cho nên mọi hành vi của tôi dù nhỏ nhất cũng không qua con mắt cú của họ. Tôi cổ vũ Công chúa Liễu Hạnh một trong bốn truyền thuyết trường tồn vĩnh hằng trong tâm linh người Việt Nam chúng ta, có nghĩa là tôi đã cổ vũ cho mê tín dị đoan. Bấy giờ khắp nơi đâu đâu người ta cũng bài trừ mê tín dị đoan mà tôi cứ khăng khăng tháng đôi lần mang lễ vật ra đền thắp hương cho Công chúa Liễu Hạnh là chống lại một chủ trương lớn.


Đền thờ Công chúa Liễu Hạnh phá xong thì có người thắp hương tại nơi bêu đầu mười lăm du kích làng Quan Nhân, có người thắp hương cho hai con chó đá, có người thắp hương ở gốc đa đầu làng.Tôi thấy ba bà già lụ khụ chống gậy lên Chùa Dâu cầu nguyện. Không thể cấm được tâm linh con người gửi niềm tin vào cõi từ bi hỷ xả của đạo Phật. Bọn Nô hí hửng sẽ có thưởng về công phá đền thờ Công chúa Liễu Hạnh như hồi phá đình làng Quan Nhân, phá quán, phá văn chỉ. Họ biết cảnh giác tôi rắp tâm tố cáo họ phạm Sắc lệnh số 5, ắt sẽ lôi thôi to, vì có người bảo tôi, nay mai tỉnh sẽ cử cán bộ văn hoá về thanh tra việc phá đình, phá quán, phá đền thờ Công chúa Liễu Hạnh. Tôi chờ đợi mãi chẳng thấy ma nào về.Tội nặng mấy nhưng để lâu cứt trâu hoá bùn.


Đình, đền, quán, văn chỉ phá sạch rồi còn mỗi chùa Dâu, ngôi chùa cổ nhất ở tổng Mao Điền, xây dựng cách đây ba trăm năm ở giữa đồng. Đại uý, Chủ nhiệm Sao bảo phải giữ lại một cái gì đấy dấu tích cha ông. Không như Sao nói mà có dỡ ra chỉ mất công, chẳng lấy được tí gì để xây nhà chiến thắng mới còn tồn tại. Chùa Dâu nằm ở xứ đồng Rắn, với tên chữ Linh Dâu Tự. Chùa Dâu có lối kiến trúc giống như các ngôi chùa cổ trong nước. Chùa có năm gian bái đường, năm gian nhà Tổ. Vườn, bia, tháp bố cục theo kiểu Phật trước Tổ sau. Chùa đã qua nhiều lần trùng tu. Vĩnh Thực năm thứ hai (1716), Thành Thái năm thứ chín (1907), Khải Định năm thứ ba(1918), Khải định năm thứ mười (1025) mỗi lần đều được ghi lại trên bia đá trong chùa. Giá trị đặc biệt của chùa Dâu là 120 hiện vật còn lưu giữ được, trong đó có tám pho tượng Tam thế, A di đà và Quan âm bằng gỗ tạo vào thời Mạc, hai bia đá và hai mươi mốt pho tượng gỗ tạo thời Nguyễn, đặc biệt có sáu tấm bia đá và một toà Cửu long bằng đồng, một chuông đồng đúc, năm Thành Thái. Tất cả các đồ thờ tự ở chùa Dâu đều khẳng định đây là nơi sinh hoạt văn hoá, tín ngưỡng của cộng đồng cư dân. Nhưng chẳng có gì quan trọng đối với những người cộng sản vô thần, sở dĩ họ không phá vì chẳng lấy được gì làm trại lợn tập thể hoặc kho chứa phân.Tôi lại tuần rằm hai lần sắm lễ ra chùa để thoảng nhớ bóng dáng bà nội những ngày cầu siêu cho những người cộng sản bị gặc Pháp chặt đầu bêu giữa chợ.



Chương 41


Nhà Chiến thắng bây giờ chỉ dành riêng vào việc họp hành của Chi bộ và các đoàn thể, xã cũng trả lại phòng thường trực, nên trật tự được lập lại. Ban Quản trị Hợp tác xã Nông nghiệp làng Quan Nhân giành hẳn một phòng nhỏ ở kho thóc để làm việc. Kho thóc chỉ có hai dân quân canh giữ vào ban đêm, nhận một công rưỡi. Mất mát là bị buộc cổ vào đền chứ không phải kiểu cha chung không ai khóc. Trại lợn tập thể đã đủ một trăm đầu con, trong đó đàn nái giống ỷ Móng Cái có hai chục và năm con bố lai giống lợn Đan Mạch. Trại giao cho năm người mát tay nuôi. Công của năm người được tính bằng trọng lượng lợn thịt xuất chuồng và đầu lợn sữa, có nghĩa là, đảm bảo cho mỗi người một công rưỡi một ngày lao động, nếu mỗi công được một cân thóc mẩy thì được sáu bẩy lạng gạo cũng đỡ, còn thóc lép, thóc lửng có khi không được thế. Ông Là, kỹ thuật viên chuyên quản lũ lợn bố, lợn mẹ. Một con lợn nái đẻ mười con bị tắc sữa kêu rống lên một hai tưởng chết. Với kinh nghiệm gia truyền và đặc biệt là tinh thần làm chủ tập thể cao, ông đã rầm mồm mút vú cho con lợn như ông từng mút vú vợ ông đã một lần bị tắc sữa. Con lợn thông sữa cho con bú đủ mười hai vú. Ông Chiêu nhà báo tỉnh lẻ về cập nhật tin mới viết ngay một phóng sự nuôi lợn tập thể có lãi và cổ vũ cho hành động mút vú cứu sống con lợn sề bị tắc sữa của ông Là. Bí thư Tỉnh uỷ đọc báo gửi ngay bức thư khen ông Là. Ông Là sướng nhẩy cẫng lên đem khoe khắp xóm rồi vòi vợ mấy đồng bọ ra chợ mua cái khung lồng bức thư khen của Bí thư Tỉnh uỷ. Hôm sau, được đứng trong hàng ngũ Đảng, ông Là giơ cao tay thề trước đảng kỳ sẽ chiến đấu đến hơi thở cuối cùng cho trại lợn tập thể có lãi.

Lợn được xuất chuồng đổi tất cho mậu dịch lấy vải, mỳ chính, phân đạm hoặc đường kính trắng vì mậu dịch thiếu tiền mặt. Những con lợn còi cọc dùng vào các bữa tiệc nhỏ của Chi bộ, Ban Quản trị hoặc giả làm công tác chính trị, chẳng hạn bán như cho lão nhà báo một con. Lợn cai sữa thì giao cho xã viên nuôi rẽ, tức là khi xuất chuồng, chia đôi, mỗi bên một nửa, không may lợn ngã bệnh, hợp tác tự chữa, chết thì thịt, không bên nào thiệt hơn bên nào.

Bài báo nuôi lợn tập thể có lãi của nhà báo gây tiếng vang lớn trong huyện, trong tỉnh. Chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp các nơi đổ về làng Quan Nhân học được bài học tinh thần làm chủ của ông Là và cách nuôi chia rẽ sướng rơn về áp dụng luôn.


Chăn nuôi lợn tập thể không phải lúc nào cũng thuận buồm xuôi gió mà có khi chết mất ngáp. Lợn sữa bị ỉa chảy. Lợn thịt bị bệnh gạo, bệnh xuất huyết tím tái như quả sim chín. Lợn nái phối bất thành, năm không đạt hai lứa. Thế có nghĩa là hiệu quả không cao, nhưng Chủ nhiệm Sao vẫn phải gửi báo cáo về xã đúng tinh thần chỉ đạo “nuôi lợn tập thể có lãi.” Nếu ai đó cả gan thay sáu chữ đó bằng sáu chữ “nuôi lợn tập thể lỗ vốn,” đúng như thực tế ở trại lợn do ông Là làm trại trưởng lập tức bị đuổi ngay. Lúc bấy giờ không ai được phép nói thật. “Xấu cũng cứ phải nói tốt. Đồng hồ Liên Xô tốt hơn đồng hồ Thuỵ Sỹ, trăng Trung Quốc tròn hơn trăng nước Mỹ,” đại loại như vậy.


Tôi biết thế là xuyên tạc sự thật. Đảng ta không bảo cán bộ nói thế và làm thế, nhưng môi hở răng lạnh ra ngoài, Chủ nhiệm Sao biết rất nguy hiểm. Ông ta cột cổ vì tội nói xấu hợp tác xã, nói xấu cán bộ, hai tội đều không nhẹ, đành ngậm miệng ăn tiền,việc đếch gì đến mình. Không biết ai dại mồm dại miệng nói ra sự thật ấy đến tai Đa, Chủ nhiệm Sao bị phê bình gay gắt vì bệnh thành tích. Đa chỉ mặt Đại uý Sao, anh là đảng viên mà không trung thực thì lãnh đạo sao được quần chúng? Thay mặt Huyện uỷ, tôi nhắc anh nghiêm túc rút kinh nghiệm và tôi ghi việc thiếu trung thực của anh vào cuốn sổ tay này để anh biết. Đa mặt lạnh tanh không gọi đồng chí Sao như mọi khi mà dùng đại từ anh vơí đồng chí của mình. Một bản báo cáo ngầm gửi lên Huyện uỷ, nhưng chẳng có phản hồi, vì lúc đó nhiều cán bộ ở các làng khác mắc khuyết điểm này còn trầm trọng hơn, thậm chí ông huyện còn bật đèn xanh cho hợp tác xã để lấy thành tích cho huyện.


*

Người làng Quan Nhân đồn thổi chuyện hợp tác xã làng mình mất điểm thi đua vì Chủ nhiệm Sao báo cáo vống tổng đàn lợn lên những con số ma chứ sự thật thấp hơn nhiều, đâu phải thế. Đa và Sao sinh bất hoà chỉ vì báo cáo sai sự thật. Nâng nấp sau, ghi chép tất tần tật khuyết điểm của Sao vào cuốn sổ tay như cuốn sổ tay của Đa. Nhưng đến khi tổng kết vụ mùa thì gió đổi chiều, mọi chuyện ngược lại. Đa hứa trước Huyện uỷ rằng, Hợp tác xã Nông nghiệp làng Quan Nhân quyết bằng mọi giá đưa năng suất lên năm tấn một héc-ta, làm nghĩa vụ với nhà nước hai mươi tấn thóc, bình quân mỗi hộ một tạ. Thu hoạch về sàng sẩy sạch sẽ cũng chỉ đạt bốn tấn bẩy. Mức năng suất ấy mà làm nghĩa vụ hai mươi tấn thóc, tất nhiên mức ăn của xã viên sẽ chỉ còn bình quân mười ba cân, quy đổi thành tám cân gạo một tháng, thấp hơn vụ trước ba cân. Thóc tập trung vào kho hợp tác xã, năm nào cũng vậy, hoàn thành nghĩa vụ rồi mới lên phương án ăn chia.


Biết rất rõ gặp không ít khó khăn, nhưng đã trót hứa trước Huyện uỷ thì không mặt mũi nào nuốt lời. Đa dàn xếp với Sao, khi Tổ quốc cần, với tinh thần yêu nước nồng nàn, tôi tin bà con sẵn sàng đồng tình với chúng ta, làm tròn nghĩa vụ hai mươi tấn. Đồng chí thay mặt nhân dân làng Quan Nhân hứa với Huyện uỷ, chả lẽ bây giờ tôi xin hạ chỉ tiêu, còn ra làm sao. Thôi, tôi đồng ý.Thế là huề một đều. Đa xí xoá khuyết điểm Chủ nhiệm Sao khai vống tổng đàn lợn tập thể để làm nghĩa vụ tăng hai tấn lợn hơi. Lúc bấy giờ thiếu ăn thế chứ thiếu hơn nữa, người làng Quan Nhân vẫn vui lòng tự bới chải kiếm con tu con hạo thêm vào bữa ăn no, chứ ai dám nghĩ đến bữa ăn ngon để nộp cho xong.


Người làng Quan Nhân vẫn đinh ninh nhớ câu chuyện cảm động mà bố tôi đã kể trước dân làng hồi Cách mạng Tháng Tám thành công. Câu chuyện Cụ Hồ tham gia hũ gạo cứu đói mà bố tôi kể mãi mãi in đậm trong tâm khảm người làng Quan Nhân. Miếng khi đói bằng gói khi no. Ai mà quên được. Lúc ấy, cả làng đói dài, nhưng noi gương Cụ Hồ ai cũng có một bơ gạo đổ vào hũ gạo cứu đói. Bây giờ tuy khó khăn, nhưng so với năm Dậu có gì phải bận tâm. Làm nghĩa vụ hai mươi tấn chứ hai mươi lăm tấn cũng làm được. Mẹ tôi nói thế. Ngày hội giao lương lại rầm rộ như đi trẩy hội vậy. "Giao lương gánh nặng đường dài/ thừng quang cẩn thận lá cài che mưa." Câu hát cửa miệng của người làng Quan Nhân đi giao lương.

Đa được bầu là chiến sỹ thi đua về thành tích chỉ đạo phong trào Hợp tác xã Nông nghiệp làng Quan Nhân. Chủ nhiệm Sao được biểu dương nhiều lần trước đông đủ cán bộ huyện. Người ta coi họ như những bậc thiên tài, chỉ trong một đêm thò bàn tay thép ra là có ngay một kho thóc, một trại lợn tập thể to đùng.


Bệnh thành tích đã có từ ngày Sao làm Chủ nhiệm, nhưng nó không dừng lại đấy mà mỗi ngày một phát triển, bây giờ thì đã trở thành quốc nạn. Càng nghĩ về điều ấy, tôi càng không hiểu vì sao các nhà lãnh đạo dung túng? Tôi nhớ lại cái cảm giác đầy kích động khi thấy ông Là rầm mồm mút vú cứu con lợn mẹ, rồi đến những người thợ nề, thợ mộc chịu khát, chịu đói quần quật làm việc thông đêm cho xong sớm kho thóc, xong trại lợn tập thể và bao tấm gương sáng khác bán mặt cho đất bán lưng cho trời trên đồng ruộng nẻ toác, đút lọt chân trâu mà tôi đã gặp, đó là những cảm giác phấn chấn không sao tả nổi, nhưng Đa cũng như Chủ nhiệm Sao và Bí thư Chi bộ Bọc không hề động viên họ lấy một câu, một câu thôi, duy nhất có ông Là được kết nạp Đảng. Ông bà mình đã dạy, được lời nói như cởi tấm lòng. Cán bộ huyện hạ phóng Đa và Chủ nhiệm Sao đã lợi dụng những người được mang danh làm chủ hợp tác xã để vơ công về mình thì không thể chịu nổi.Tôi không có cách nào bắt họ phải trả lại công lao to lớn của xã viên vừa tác lập mà hai người đã tước đoạt, nhưng vì thân cô, thế cô.


Cánh đồng làng Quan Nhân mới xuống mạ vụ chiêm. Mất ải vì bốn tháng liền trời không giỏ giọt nước nào, đồng khô ruộng cháy.Chủ nhiệm Sao tất tả ngược xuôi, nhưng vô ích vì nguồn nước mương máng cạn kiệt. Đa và Nâng bám chặt lấy cái ghế bốn chân vững, chãi mặc chủ nhiệm hò rát cổ vẫn không mấy ai mặn mà chống hạn. Họ chờ cho vụ chiêm này cháy sạch để được một mẻ múa tay trong bị.


Người tinh, con ruồi bay qua biết con đực con cái, nhác qua đã biết sự thống nhất bắt đầu rạn nứt. Phe cánh đã lộ rõ, họ vẫn ngồi lại với nhau bàn thảo công kia việc nọ, bề ngoài giơ tay thống nhất ý chí, nhưng trong bụng đầy giáo mác. Bàn thì bàn, bàn để đấy thôi. Ra khỏi cuộc bàn, công việc vẫn đổ vào đầu chủ nhiệm.


Mặt trời ló khỏi ngọn tre làng lâu rồi kẻng mới gõ. Xã viên mới thễu thện ra đồng. Làm quái gì cho mệt xác. Trâu cước chân, mặc, chết thì ngả ra thịt. Ruộng bừa cấy lỏi bốn góc bờ không ai lo. Phân bón thúc chỉ rơm độn là chính. Báo cáo về xã vẫn đạt bốn mục tiêu, phân nhiều, đủ nước, cấy dày, đúng thời vụ quyết tâm đạt năm tấn rưỡi một héc-ta. Phân hoai, phân mục bón cho ruộng phần trăm hơi đâu, chẳng tập thể thì đừng. Bón thúc phân đạm cho lúa mỗi người thủ một nắm giấu vào trong vạt áo có trời biết. Mang chẳng biết bón thúc, khác bón đón đòng thế nào, cứ thúc bà con đem rơm ra ủ với phân trâu, bao giờ hoai thì đưa xuống bón ruộng trước khi cấy, bình quân hai tạ một sào, được hơn càng có thưởng hậu.


Rồi Chủ nhiệm Sao cũng cảm nhận được sự có gắng của bản thân cũng không cứu vãn được tình thế đang bất ổn định. Những người không ra tay khi công việc tập thể cần đến họ mà quan xiêm đến người khác nhiều hơn để bới bèo ra bọ ghi vào cuốn sổ tay làm bùa hộ mạng. Huyện tỉnh lại, mới thấy chủ trương rút Đa về là đúng, nhưng chưa có ý kiến tập thể, không thể thực hiện nổi. Đa về huyện chỉ Nâng là đau đớn mất đi một vị cứu tinh. Không có Đa, Nâng phải đày mặt ra đồng chứ không thể họp liên chi hồi điệp được. Sáng, Đảng uỷ họp mở rộng, chiều họp Chi bộ. Hôm sau, họp triển khai nghị quyết. Nghĩa là họ quên bẵng phận sự mình được xã viên bầu vào lãnh đạo để để bám đội, lội đồng, tinh thông kỹ thuật, nêu bật điển hình như ông Đợi ở Quỳnh Lưu chứ không phải để chỉ có mỗi việc đi họp. Xã viên bắt đầu ngán ngẩm thấy không phải vào hợp tác xã đời đời ấm no nữa. Thế là mắt trước mắt sau, mạnh ai nấy lo. Mảnh ruộng năm phần trăm của nhà nào nhà nấy lúa tốt bơì bời. Ruộng hợp tác xã cấy ba tháng chó chạy còn hở đuôi, mới có chuyện chân ngoài dài hơn chân trong là vì vậy.


Những việc tồi tệ đó không được mổ xẻ để chạy chữa mà có kẻ độc mồm độc miệng lại bảo nội bộ mất đoàn kết là do phần tử xấu lợi dụng hợp tác xã khó khăn tung hoả mù nói xấu các đồng chí lãnh đạo. Họ lại ngầm ám chỉ tôi. Không con mẹ Hoà thì còn ai vào đấy. Nó cứ nhè vào chỗ sai của cán bộ, đảng viên để khoét sâu thêm mâu thuẫn nhằm chia rẽ tình đồng chí, chứ đâu có thấy cái tốt, cái giỏi của cán bộ, đảng viên. Con này phải đưa ra trước dân đấu như hồi đấu bố nó. Tôi nghĩ bụng, đố chúng mày. Đây chưa ra tay thôi, coi chừng đấy các chú em ạ. May mà ông Mạc Văn chuyển công tác lên Hà Nội không thì chúng mày ra bã rồi nhưng huyện này đã có một ông Mạc Văn mới rồi đấy các em ạ!


Huyện vẫn đánh giá Hợp tác xã Nông Nghiệp làng Quan Nhân là đơn vị khá toàn diện vì mới đây đã phá thành công thế độc canh cây lúa, đưa một bộ phận thanh niên giỏi sông nước lập đội nghề phụ đánh bắt hải thuỷ sản, chế biến nước mắm và nuôi vịt đẻ. Kết quả thật mỹ mãn. Sản vật tay làm ra ai quản mà lo. Chi bộ họp. Ban Quản trị họp. Đoàn Thanh niên họp. Hội Phụ nữ họp. Sẵn trứng vịt và nước mắm phục vụ, cuộc họp nào cũng thành công rực rỡ. Nhà bếp sợ xã viên trông thấy đống vỏ trứng ngồn ngộn trước lối đi, mất vệ sinh vội vội vàng vàng hót tống xuống ngòi. Khoản chi vào cuộc họp không kê vào doanh thu của hợp tác xã. Lọt sàng xuống lia đi đâu mà thiệt. Cán bộ, đảng viên ăn chứ ai ăn vào đấy.


Hiển nhiên thế mà Chủ nhiệm Sao vãn cứ xưng xưng thanh minh với huyện không có cuộc họp nào ăn uống lu bù như tin đồn thổi trong dân. Huyện lên xe ra về, mỗi vị mang theo một bọc trứng vịt. Lãnh đạo thì ba chục quả, cấp dưới phải bớt đi chục quả, khoảm nước mắm thì công bằng, ai cũng như ai, mỗi người một chai loại mắm cốt màu hổ phách, chắt từ trong chum ra. Ông mạnh cánh thó thêm con ỉn. Nhà báo Chiêu thi thoảng ghé qua làm chai nước mắm cốt và vài chục trứng, cười tít mắt.Từ ấy ông ngân hàng đáo về luôn. Ông tài chính huyện cứ chiều thứ bẩy là nhấp nhổm tòong teng cái xe đạp cà tàng lộn về làng Quan Nhân. Kho thực phẩm của chùa Chủ nhiệm quản. Không đối ngoại, thử hỏi các ngành trên huyện họ thí cho quyền này lộc khác? Quyền và lộc thì ai hưởng, xin nói ngay Chủ nhiệm.


Đa nhận báo cáo mật qua những số liệu rút ra từ những cuốn sổ tay chữ viết nguệch ngoạc như gà bới. Năm nay chi vào khoản đối ngoại năm tấn thóc. Họp chi mười tấn thóc. Ai chịu trách nhiệm về khoản chi này? Xã viên chứ ai. Đa đập bàn quát. Tôi sẽ phanh phui chuyện bẩn thỉu này. Chủ nhiệm Sao cười khẩy bảo, cuộc họp nào mà chả có mặt ông. Chính ông viết giấy tay bắt tôi phải đối ngoại. Giấy ông viết còn đủ cả. Mời các đồng chí xem để hiểu cho cảnh trên đe dưới búa đối với tôi. Một chồng giấy ông Đa viết được chưng ra. Hoà cả làng. Lại địch tung hoả mù nói xấu cán bộ, đảng viên chứ làm gì có chuyện ấy. Chỉ mụ Hoà vấy bẩn. Tôi lại chịu trận thay cho các người. Các người bêu xấu nhau rồi đổ cho tôi bêu xấu các người.


Không hiểu từ đâu phát ra bài vè: mỗi người làm việc bằng hai/ để cho cán bộ mua đài sắm xe. Giọng điệu địch trăm phần trăm. Đa khẳng định. Xã viên nào người ta nhìn cán bộ, đảng viên với lăng kính ấy. Công an làng Quan Nhân mở cuộc điều tra văn hoá đồi truỵ, phản động, nhưng chưa vào cuộc còn ít người chưa biết, vào cuộc rồi trẻ già, trai gái ai nấy thuộc lòng. Không tóm được thủ phạm, người ta chỉ nghi con đàn bà quái quỷ chứ ai vào đấy. Bí thư Chi bộ Bọc lồng lộn chỉ đạo dân quân Ngạnh đi rò la tung tích kẻ làm vè. Nô bảo kệ xác thiên hạ bịt sao được miệng thế gian.


Hàng tháng, cứ vào thứ hai, ngày đầu tuần Ban Quản trị họp giao ban nhằm kiểm điểm công việc trong tuần. Chủ nhiệm có ý kiến phê đội xóm Nam cày bừa dối, bớt phân bón lót. Phó Chủ nhiệm bác lại: Đồng chí Chủ nhiệm nói không đúng sự thật. Đội xóm Nam không làm ăn kiểu treo đầu dê bán thịt chó như đồng chí nghĩ. Họ cày bừa kỹ, bón lót đủ phân. Đồng chí Sao cần phát ngôn cho chuẩn mực. Đa, người đề xướng kế toạ sơn quan hổ đấu ngồi nghe, thi thoảng liếc trộm Nâng. Nâng tủm tỉm cười. Những cuộc cãi vã nổ ra xung quanh những việc cỏn con ấy không phân thắng thua bởi chẳng ai kiểm tra đôn đốc chỉ bảo xã viên làm thế này không được phải làm thế kia, cái gốc nó ở chỗ ấy. Công việc cày, bừa, cấy, gặt, làm cỏ trừ sâu là của xã viên. Họp thuộc về trách nhiệm người cầm cân nảy mực.


Bọc cáu. Đây là lần đầu tiên Bí thư Chi bộ nổi đoá. Họp hành thì phải bàn cho ra bàn, không phải đến đây cãi vã. Tôi về. Đa nhẹ nhàng nhắc, ông Bọc này, ngồi lại ta bàn tiếp. Như gáo nước dội vào đám cháy. Chuyện lọ chai tạm ắng xuống. Rồi cuộc giao ban cũng đến hồi kết mà không kết được những vấn đề cốt lõi mưu sinh cho xã viên. Nghe thuật lại chuyện thật mà cứ tưởng như chuyện đùa.

Bí thư Huyện uỷ tướng mạo khôi ngô, ăn nói dễ nghe bí mật đi bộ tắt ngang cánh đồng, lúc ấy khoảng hơn mười giờ, xã viên đã túm tụm ngồi bắt chấy cho nhau, cào cuốc, xếp tất lên xe cải tiến chuẩn bị về. Dưới gốc đa giữa đồng, mấy con trâu gầy nhom nằm nhai nại vài cọng cỏ khô. Ông Bí thư này hỏi, hơn tám giờ mới ra đồng bây giờ mới hơn mười giờ đã về sao? Một xã viên nói, tôi chưa thấy một nhà lãnh đạo huyện nào sục chân xuống ruộng, vốc nắm đất lên tay xem kỹ lưỡng như ông này. Xã viên bảo chỉ thấy ông ấy lắc đầu lắc cổ lia lịa. Hẳn là ông không bằng lòng với cung cách làm ăn ở làng Quan Nhân thì phải.


Biết tin ông Bí thư Huyện uỷ đang ở ngoài đồng, Chủ nhiệm Sao chạy hoắng lên tìm Đa. Không thấy Đa, đành một mình thân chinh ra hầu ông huyện tại đồng. Không biết ông huyện phán thế nào mà chỉ thấy Chủ nhiệm Sao ngồi rịt ở nhà hai ngày thông làm kiểm thảo. Đa xách xà cột về huyện ngay sau khi bàn giao công việc cho Thượng uý Vận, Bí thư Đảng uỷ. Hôm sau, tất cả xã viên được mời ra nhà Chiến Thắng nghe Chủ nhiệm Sao kiểm điểm.


Sao khóc thật. Đại uý Sao nói trong nước mắt, xin bà con tha thứ. Tôi biết lỗi. Không cần biết đồng chí lỗi nặng hay lỗi nhẹ, mà quan trọng là đồng chí đã biết dừng và thành thật nói ra lỗi của mình. Theo tôi, đồng chí vẫn làm chủ nhiệm. Bọc nói. Bí thư Chi bộ đã có ý kiến chỉ đạo thế dân phải nghe thôi, ai dám chống? Xã viên Hợp tác xã làng Quan Nhân quen thói rong công phóng điểm mất rồi, thế chả trách, công ăn chia tám lạng thóc lép là phải. Đói dài đói rạc đến đít rồi. Một xã viên đứng lên nói, ông Sao làm Chủ nhiệm bán đứng hợp tác xã cho chủ nghĩa tư bản mới ngóc đầu dậy ở nông thôn, phải cách chức thôi. Chúng tôi không nghe ông Bí thư Bọc gỡ tội cho Chủ nhiệm Sao. Ông xã viên này nói cho sướng miệng thôi, sau cuộc họp ấy, Chủ nhiệm Sao vẫn làm chủ nhiệm, có khác nào hòn đá ném xuống ao bèo. Nô bảo, tôi làm chủ nhiệm, việc đầu tiên, tôi thẳng tay trị bọn ăn cắp. Bí thư Chi bộ Bọc bảo, mày chỉ được caí thánh tướng, trị thằng ăn cắp mày ăn bằng gì?


Nâng không làm gì nên không có lỗi, ngoài lỗi đi họp luôn tù tì. Tôi tạm tính, tháng ba mươi ngày, năm ngày Nâng họp Chi bộ. Bẩy ngày họp Ban Quản trị. Ba ngày họp với Đoàn Thanh niên. Hai ngày họp với Hội Phụ nữ, năm ngày họp với đội sản xuất, bốn ngày họp Đảng bộ xã, bốn ngày còn lại làm báo cáo, chấm hết. Thử hỏi, chỉ mỗi mình Nâng họp? Chủ nhiệm Sao cũng không bỏ cuộc họp nào. Đa thì cuộc họp nào cũng có mặt. Bọc giở lịch công tác tháng, ba mươi ngày không ngày nào không họp. Đã thành lệ, họp là cắt cơm nhà. Họp huyện có khi còn được tiền lộ phí nữa là đằng khác.


Chủ nhiệm Sao phân công Nâng phụ sách sản xuất. Chết thật. Phụ trách sản xuất phải đi sớm về muộn, đôn đốc các đội trưởng thúc xã viên chứ không kiểu sáng cắp ô đi chiều cắo ô về như hồi còn Đa. Hàng ngày, Nâng buộc các đội trưởng báo cáo tiến độ sản xuất qua từng đề mục, nước, phân, giống má, không thể đại khái vống lên mấy con số ma. Chủ nhiệm Sao, thực hiện sáng làm việc tại văn phòng, chiều ra đồng. Đội trưởng tơ lơ mơ cách luôn. Ngày nào Chủ nhiệm Sao cũng dành ba mươi phút trước khi rời văn phòng trao đổi công việc với Nâng. Bí thư Chi bộ Bọc hồi này đã nhúc nhắc đi cày. Phóng đạt danh hiệu tay cày đảm đang do huyện Hội Phụ nữ khởi xướng được thưởng cái bút máy Hồng hà.


Tôi không hiểu vì sao năng nổ công việc đồng áng, Chủ nhiệm Sao lại năng đến thăm mẹ con tôi. Phóng cũng thi thoảng tới. Nô đi học về qua thăm cho mẹ tôi ba quả cau và mớ giầu. Các cụ ta nói, nhàn cư vi bất thiện, cấm có sai. Trước đây, chưa bao giờ được làng xã để tâm tới chúng tôi, một gia đình gồm tòan những phần tử Quốc dân đảng chui vào hàng ngũ ta chống phá cách mạng quyết liệt bằng mọi thủ đoạn đê hèn nhất thì hy vọng gì ở sự khoan dung. Còn bây giờ, chưa biết thế nào, nhưng mỗi Đại uý, Chủ nhiệm Sao hỏi thăm một lời đã làm vợi đi nỗi đau của mẹ tôi. Sau đấy những sỹ quan và hạ sỹ quan phục viên người làng Quan Nhân thắp cho bà nội tôi và bố tôi nén hương, thì bà hết sầu não hẳn.Tôi thầm nghĩ, có lẽ đã đến lúc cấp trên giải oan cho gia đình tôi. Tôi nhìn những đám mây đuổi nhau trên nền trời xanh ngắt, lòng cảm thấy lâng lâng khoan khoái. Mọi chuyện đã qua. Cuộc sống không tránh khỏi chuyện nọ chuyện kia mà. Tôi chờ đợi ở phía trước sự sum vầy, vợ gặp chồng, con gặp cha cho bõ ngày tháng xa cách gian truân.


Người làm Luận án Lễ hội Tứ bất tử quay lại thăm tôi. Tôi thấy ông già và yếu nhiều so với lần gặp trước. Tôi hỏi, sức khoẻ ông xem ra thuyên giảm, vì sao vậy? Ông cười hồn hậu bảo lo đèn sách nó sinh thế thôi chứ vô bệnh tật. Ông nói dối. Nhìn thần sắc ông, tôi biết. Ông thành thật. Tôi bị bệnh đói mà. Đói. Làm sao mà đói? Tiêu chuẩn mười ba cân rưỡi gạo, vặt mũi đút miệng không đủ lại phải nuôi một mụn con gái, cháu mười một tuổi. Mẹ nó mới chết.Tôi thẫn thờ trước nỗi cám cảnh, ông đang trải. Tôi cũng đang đau nỗi đau tang tóc mà tôi đã kể với ông. Những người cùng mang nỗi đau giống nhau dễ hiểu và đồng cảm với nhau hơn. Tôi chỉ có thở dài nhìn ông. Biết làm gì giúp ông đây? Ốc không mang nổi mình ốc, khổ thế. Ông bảo, cháu về ở với ông bà nội rồi, cô yên tâm, con bé rất ngoan. Ông Giáng bình tâm lại cho tôi biết, Luận án Lễ hội Tứ bất tử của ông không thực hiện được bởi lúc này cả nước đang tập trung đánh Mỹ, đưa Luận án Lễ hội Tứ bất tử ra, người ta quy kết phục hồi văn hóa đồi truỵ chỉ có chết. Ông có quay lại đất nước Xô-Viết nữa không? Tôi hỏi. Tôi đã có hộ chiếu. Ông nói. Trước khi đi, tôi ghé qua thăm cô và tặng cô bản thảo truyện ngắn tôi viết về một cô gái xinh đẹp bị các thế lực thù địch định nghiền nát cô và gia đình cô, nhưng cô đã lột xác và vùng dậy giành lại tất cả những gì đã mất và trở thành một người nổi tiếng trong giới chính trị gia, nếu tôi không trở về, cô hãy đốt cái truyện này coi đó như là một kỷ niệm buồn ta giành cho nhau. Ông ra đi.


Lại một người đàn ông mất hút để lại trong trái tim tôi một khoảng trống không gì có thể bù đắp. Sau ngày Liên Xô sụp đổ, tôi bặt tin ông, nhưng tôi không đốt cái truyện ngắn ông tặng mà tôi gửi cho một tờ báo, rất may là báo này đã in. Tôi nhận được một tờ báo đăng truyện ngắn ông tặng tôi, duy nhất có một tờ, không hiểu có sự trùng hợp nào rủi ro không mà cả hai chúng tôi chỉ có mỗi con số một.


Mỗi người có một số phận, nhưng số phận tôi sao lại na ná giống số phận ông. Hai người anh hy sinh ở mặt trận Điện Biên Phủ thi thể tan vào đất. Ông mồ côi mồ cút, tự kiếm sống trên ba thứơc ruộng cải cách ruộng đất mang lại sau khi đưa vào hợp tác xã thì không còn gì, trước khi ra đi lang bạt kỳ hồ kiếm miếng cơm hẩm ngoài đường phố để nhìn sang đất nước Xô-Viết. Chính quyền xã không bảo đảm lời ông khai trong lý lịch, rằng ông có tư tưởng chống đối chính quyền địa phương nếu không nói là bất hợp tác. Người mà họ tự xưng là chính quyền ấy quyết lôi ông về bằng được để chịu sự giáo dục tại nơi chôn nhau cắt rốn, nhưng nhiều văn bản gửi đi, họ vẫn không điệu được ông về làng, đó là món nợ, ông nợ chính quyền sở tại. Thoắt cái tôi lo cho ông, thoắt cái tôi lại mừng cho ông. Tâm trạng tôi cứ rối bời mỗi khi nghĩ về ông.


*


Tôi đang lo dọi lại mái nhà dột thì Chín báo xã vừa nhận được mười ba giấy bảo tử kèm mười ba Bằng Tổ quốc ghi công, toàn người làng Quan Nhân cả. Ngày mai xã sẽ tổ chức lễ truy điệu họ tại nhà Chiến Thắng. Tôi hỏi mười ba liệt sỹ là những ai, Chín bảo cháu không biết hết mà chỉ nhớ có mỗi chú Dự. Chú Dự? Tôi ngất đi bất tỉnh. Chín dìu tôi vào nhà, một lúc sau thì tôi tỉnh hẳn. Tôi khóc nức khóc nở nhớ lại hôm tiễn chân anh lên đường Nam tiến. Anh em ôm nhau khóc, hơi hướm người anh vẫn phảng phất đâu đây, làm sao, tôi quên được? Tôi nhớ hồi còn bé, mỗi lần theo mẹ sang nhà anh, bao giờ anh cũng xới cho tôi bát cơm đầy với mấy quả cà pháo muối dòn tan. Miếng khi đói bằng gói khi no, làm sao tôi quên được? Anh đang nằm đâu, anh Dự ơi, anh có biết em, con bé Hoà hay làm nũng anh ngày xưa đang đau khổ thế nào không? Anh linh thiêng về phù hộ cho em mau tai qua nạn khỏi. Cứ thế, tôi rầm rầm khấn anh.


Lễ tưởng niệm các liệt sỹ được tổ chức trọng thể tại nhà Chiến Thắng vào sáng ngày mười chín tháng tám có mặt đông đủ các đại diện thân nhân liệt sỹ và đại diện quân dân chính đảng. Bốn sỹ quan quân phục chỉnh tề bồng súng đứng trước bàn thờ Tổ quốc uy nghi. Thượng uý, Bí thư Đảng uỷ Vận đọc lời điếu. Giọng ông thống thiết truyền cảm. Nhân dân làng Quan Nhân tự hào về những người con trung hiếu vì Tổ quốc hy sinh. Sự nghiệp vẻ vang của các đồng chí, chúng tôi, những người đang có mặt trong giờ phút đau thương không gì bù đắp được tại đây xin được gánh vác, nhanh chóng đưa quê hương ta giầu mạnh, người với người sống để yêu thương nhau. Đó là lời hứa danh dự của chúng tôi trước anh linh các đồng chí. Xin thề. Xin thề. Xin thề. Bí thư Đảng uỷ giơ cao nắm tay săn gân cốt giữa những cánh tay chai sạm nắng gió. Một phút mặc niệm. Mỗi người thắp một nén hương dâng lên bàn thờ Tổ quốc.


Hôm sau, lại được tin chuẩn bị đón ba thương binh về làng Quan Nhân, nhưng trớ trêu là cả ba anh đều không có người thân, phải dựa vào địa phương hoàn toàn. Lễ đón này do Hội Phụ nữ đảm nhiệm với lý do, các mẹ, các chị, các em gái sẽ là những người thực hiện sáu chữ vàng: “Nhận Thương Binh Về Nuôi Dưỡng.” Phóng dẫn đoàn gồm ba mươi bà, chị, em gái lên tận huyện đón các anh về. Trong số ba thương binh về lần này có một anh cụt một chân, hỏng một mắt, một anh mất cả hai tay, một anh câm.


Bí thư Vận tối hôm trước đã sang nhà Phóng tỉ tê động viên cô nhận một trong ba thương binh đó. Phóng bảo cứ để các anh ấy về ổn định đã rồi hãy tính đến chuyện ấy, không vội gì, nhưng ý Vận muốn cho đâu vào đấy luôn để khi về, các anh có nơi tá túc ngay. Tại nhà Chiến Thắng, đại diện quân dân chính đảng và Hội Phụ nữ đã tổ chức đón thương binh khá chu tất và ấm cúng. Không mầu mè, khách sáo, người người tới thăm hỏi động viên tặng quà như đối với người ruột thịt, khiến các anh cảm động khôn xiết.


Thương binh Vĩ nói. Chúng tôi về đây để trông cậy vào tấm lòng nhân ái của bà con trong xóm ngoài làng. Nói thế nào cũng không miêu tả hết được cái tình bà con đối với chúng tôi. Chúng tôi chỉ biết rằng, chúng tôi không thể thiếu vắng bàn tay đức hạnh của các bà, các chị, các em gái. Cả hội trường nức lên khóc. Bí thư Vận đỡ lời. Đồng chí Bí thư nói, xin các đồng chí thương binh cứ an tâm, người làng Quan Nhân chúng ta không quên ơn các đồng chí đã hiến dâng một phần quan trọng máu xương cho Tổ quốc vinh quang của chúng ra.


Đêm hôm ấy, Phóng sang ngủ với tôi, em than thở, làm sao bây giờ hả chị? Em mời anh ấy về sống với em, nhưng, Phóng khựng lại, em không còn trinh tiết, thân con gái mà mất cái quý giá nhất, nhỡ anh ấy hiểu lầm em thì sao? Chị bảo có khổ không, em cần chị một lời khuyên. Tôi thành thật khuyên em phải tính kỹ mọi đường, không thể chỉ vì trách nhiệm mà dấn thân vào chỗ khổ. Anh ấy chỉ còn một tay, một chân không thể giúp em công kia việc nọ mà có khi hai vai em gánh nặng cả hai. Đêm sau nữa, chị em bàn thảo mọi lẽ hơn thiệt, nhưng tôi không dám gạn ép, sợ sau này cơm chẳng lành, canh chẳng ngọt, tội ai chịu.


Tôi bảo em xem trong trái tim mình đã thật sự rung động rồi thì hãy quyết. Phóng im lặng buông ra những tiếng thở dài nghe não nề quá. Tôi hiểu lòng em đang phân vân. Không thể không được. Một đời người gắn bó với nhau chứ có phải cái áo, cái quần thích thì mặc không thích thì cởi ra. Em là một cô gái thảo hiền, hoạt bát bao chàng trai xiêu lòng mà em vẫn đứng đó để hôm nay phải vật vã vì mỗi hai tiếng nên không? Phóng ôm chặt lấy tôi thổn thức, chị ơi số em phải thế chị ạ, như là một định mệnh, không thể cưỡng. Em quyết định. Phóng ngồi dậy vấn lại mái tóc, bỏ cái gương nhỏ trong túi ra soi trước ngọn đèn hoa kỳ, rồi bảo, chị ơi em về đây. Phóng vọt ra như con chim sổ lồng giưã lúc trăng tròn vành vạnh.


Vĩ kẹp cái nạng vào nách nắm tay Phóng ra Uỷ ban xã đăng ký kết hôn đúng vào giờ Hoàng Đạo trước sự chứng kiến của đại diện quân dân chính đảng và Hội Phụ nữ. Chao ơi, khó có thể diễn tả được giờ phút thiêng liêng ấy của đôi trai gái nên vợ nên chồng không bắt đầu bằng tình yêu, nhưng tôi tin, tình yêu của họ sẽ nở như bông hoa rực rỡ dưới nắng xuân, bông hoa ấy sẽ thành nụ, thành quả và quả sẽ chín vàng thơm ngọt.


Mận, cô gái con người đánh cá biển nhận ra anh thương binh bị câm, không hiểu sao cứ ôm lấy anh mà khóc, thì ra trước khi ra trận, họ đã hẹn ước. Người con trai chỉn chu dặn. Nếu anh không trở về em hãy chọn một người tử tế, mong em hạnh phúc. Cô gái hỏi, anh Ngữ, anh nói gì vậy, không tin em sao? Anh nghe em nói đây, có vầng trăng tròn đầy chứng giám. Anh hãy trở về với em, dù què cụt đi chăng nữa, anh vẫn là chồng em. Lời hẹn ước đã thành sự thật. Cô gái lôi anh xuống con thuyền với vàng câu cua lênh đênh trên con sông Cửa Rãnh. Anh thương binh nói bằng những tín hiệu khoa tay, hất đầu nhưng đôi tay chắc khoẻ cầm chắc mái chèo lái. Con sông Cửa Rãnh lại sáng lên hình ảnh một tình yêu thánh thiện của Đất và Trời. Mận không quan tâm đến tờ hôn thú, vì theo cô, nếu đã cạn kiệt tình yêu thì tờ hôn thú chẳng còn giá trị gì hết. Ôi con sông nặng lòng nhân ái mãi mãi thuỷ chung như nhất.

Bà cụ Bẻo toan ngồi xuống rồi lại thôi, có vẻ chợi vợi vì đợi nửa tiếng đồng hồ rồi mà con rể vẫn chưa về. Họ nhà gái đã có mặt đông đủ. Ai đời trâu đi tìm cọc, chứ sao cọc lại đi tìm trâu. Nhà gái đón chú rể tại nhà mình, sắm sanh không thiếu thứ gì.Từ mùng the, chăn, gối và của hồi môn một chân trâu nái, năm thúng thóc. Cô dâu có cái tên rất gợi cảm, Lam Tình. Lam Tình học xong cấp ba, thi Đại học trượt về học luôn nghề may, mở quán tại gia. Lam Tình giấu cha giấu mẹ mang lòng yêu vụng nhớ thầm anh chàng Phú. Tước khi Phú lên đường tòng quân, hai người tiễn nhau trước một nhà nghỉ trọ trên phố huyện. Chẳng có gì là lạ vì họ yêu nhau. Mai anh ấy ra trận biết đâu tránh hòn tên mũi đạn? Lam Tình giải thích. Em sẵn sàng nuôi con một mình chờ anh ấy trở về. Mưu sự tại nhân thành sự tại thiên, không thực hiện được ước mơ, kể ra buồn hơn là vui, Lam Tình nói. Bây giờ anh ấy đã về, còn gì sung sướng bằng, chúng em về với nhau luôn. Phú chỉ còn dùng được hai cùi tay bắt đường kim mũi chỉ. Phú về. Cả họ nhà vợ ùa ra đón anh, như đón một vị hôn phu cấp tướng.


Xin các bậc chính danh quân tử làng Quan Nhân hãy mở thật to đôi mắt xanh ra nhìn cho thấu đáo ba người con gái danh liệt, con cháu Công chúa Liễu Hạnh ôm bế ba chàng lính ngự lâm về phong công tử. Thượng uý, Bí thư Vận hẳn không thể ngờ được rằng, con gái làng mình cao thượng đến vậy. Thì ra những thấp hèn chính là ở sự đố kỵ mà ra cả. Đố kỵ làm cho con người ta nhỏ mọn, tầm nhìn hẹp, trong lòng nhức nhối bởi cái u, cái nhọt biến chứng di căn. Nếu Đa có mặt ở làng Quan Nhân vào thời khắc này, người Huyện uỷ viên ấy sẽ nghĩ gì trước ánh bình minh? Đa không thể biết cách cư xử với người làng Quan Nhân như thế nào cho phải, bởi Đa không cất tiếng khóc chào đời trên mảnh đất làng Quan Nhân. Đa là người ngoại đạo.



Chương 42


Tôi muốn nói đôi điều với Thượng uý, Bí thư Đảng uỷ Vận nhưng lại thôi, bởi không chắc điều tôi nói có lọt tai người đứng đầu xã. Lệnh động viên đã ban bố, quân lệnh như sơn. Quân số tình nguyện tăng mười một người, nhưng chỉ được tuyển ba chục, một trung đội. Khó cho việc chọn lựa. Ai cũng xứng đáng đứng trong đội quân tình nguyện vào chiến trường Miền Nam, tốt hơn hết đợt này giao quân cho cả đợt sau để đẹp lòng tất cả. Ý kiến hay. Tôi nghĩ thế cũng trùng hợp ý nghĩ của Bí thư Vận.


Em Bần tôi được lệnh tái ngũ. Em thuộc diện sỹ quan quân y. Việc học tập của em lại lần nữa bị gián đoạn. Anh Vệ muốn em hoàn thành khoá học rồi lên đường, thâm tâm tôi cũng như anh, muốn vậy, nhưng trước con mắt xét nét của chính quyền làng Quan Nhân, sợ người ta nghĩ sai về gia đình tôi, tôi đề nghị Thượng uý Vận quyết định em ra mặt trận đợt này.


Trong giới chức quân sự huyện có ý kiến cho rằng, em không thuộc diện tái ngũ mà còn nằm trong diện tạm miễn, tạm hoãn vì hoàn cảnh gia đình con một, bố mất sớm, mẹ già yếu. Bần nghe người ta xì xầm thế, em mủi lòng, bảo tôi, nước có giặc thì mọi người phải đi đánh giặc, sao lại đặt ra tiêu chuẩn tạm miễn, tạm hoãn kỳ quặc, em bác bỏ ý kiến đó.


Khi tôi báo tin này cho mẹ tôi, bà không hoảng hốt như người khác mà rất bình tĩnh, em nó đi là việc nước, mình nấn ná, khất lần là trúng kế bọn đểu giả, cứ để em nó đi, có người có ta, một là xanh cỏ hai là đỏ ngực. Nhưng khi Bần cầm quyết định động viên không hiểu sao tôi lại day dứt? Nhìn Gián lòng tôi quặn đau. Chẳng thiết ăn, thiết làm, tôi bỏ lại tất tần tật đến với em được ôm em vào lòng, chị em được khóc với nhau. Gián ơi, tôi khẽ gọi tên em, mặc dầu em đang trong vòng tay tôi. Làm lễ cưới Gián nhé? Em ngước cặp mắt đẫm lệ nhìn tôi. Nhưng nhìn sâu trong con mắt sợ hãi đang dại đi qua của em, tôi bất chợt thấy lại có điều không ổn. Cưới cho em, để rồi em để Gián nuôi con một mình đằng đẵng chờ đợi? Tôi tự hỏi. Không cưới, tuổi xuân qua đi, con gái có thời của nó, liệu Gián có đợi năm năm, mười năm nữa được không? Em Bần đối mặt với cái chết, biết thế nào. Tuổi trẻ rừng rực nhiệt huyết mà chết không hoàn thiện chức năng người đàn ông, thiệt thòi cho đời em. Là đàn bà, tôi hiểu thấu điều đó. Cưới ư? Liệu em có chịu nổi sự hy sinh mà thượng đế không đặt trong tim người đàn bà? Nếu điều bất hạnh đó xảy ra thì không chỉ làm chúng đau khổ mà cả hai gia đình chúng tôi đều chung một gánh nặng, không thể gánh nổi. Gián ơi, em chờ đến khi đầu bạc, răng long, chồng không trở về, tội đổ lên người đàn bà, không có sự bù đắp nào làm cho mái đầu bạc xanh lại.


Theo tôi, trên đời này, tình yêu phải xếp trên cả Chúa vì nó bảo đảm sự sinh tồn của loài người. Những gì phản lại tình yêu đều có tội lớn với Trời, Đất. Người đàn bà không gì đau khổ bằng phải trải qua sự hy sinh tuổi trẻ, chính là xa người đàn ông mà mình yêu quý. Như tôi đây, sống với chồng, tôi không thể xa chồng tôi dù chỉ trong khoảnh khắc.Tôi đa tình, đúng, tôi đa tình, nhưng chỉ giành tình yêu cho mỗi mình anh. Anh muốn thụ hưởng tình yêu trong trái tim ngọt ngào để anh thoả mãn nỗi khao khát, tôi sẵn sàng dâng hiến, không hề lăn tăn. Anh cần tôi làm những gì anh muốn, tôi chiều tất.Và, khi yêu anh, tôi muốn thoả mãn bằng mọi giá, anh cũng phải đáp lại sự khát khao cháy bỏng của vợ anh. Đấy là tình yêu. Những ai để thượng đế trong cái hĩm, miệng thường nói rặt điều thánh thiện rằng sẵn sàng hy sinh tình yêu, nhưng trong sâu thẳm, bộ óc cộm lên sự toan tính bẩn thỉu nhất làm vẩn đục tình yêu đích thực.


Tôi xin các vị tướng lĩnh cầm quân ra trận hãy giành chiến thắng lớn lao không bằng xương máu người lính chiến đổ ra bằng bất cứ giá nào và hãy mau chóng trả lại những chàng trai nóng bỏng tình yêu cho những người đàn bà của họ, các vị không biết sao, người đàn bà của các vị cũng như mọi người đàn bà trên thế gian này đều không muốn xa người đàn ông của họ.


Chúng tôi tiễn em Bần ra mặt trận. Mẹ tôi không khóc, nhưng mặt bà đanh lại, tôi chưa từng thấy thậm chí cả khi bà nội tôi lao vào lửa. Mẹ tôi áp mặt lên mái tóc em, chỉ dặn mỗi một điều, hãy làm cho vong linh bố con và bà nội không phải khổ đau nơi chín suối. Rồi bà đưa cho con trai cái nhẫn bạc của hồi môn bà ngoại cho khi mẹ về với bố. Gián thét lên. Chiến tranh, nếu triệt tiêu được mi, ta sẽ làm tất cả, rồi em khuỵu xuống ngất lịm. Bệnh tim hành hạ em bắt đầu từ ấy.


Mẹ con tôi ở lại chơi với vợ chồng anh Vệ ít ngày. Tôi coi Vược như người chị gái ruột thân thiết, nhưng mỗi khi ngồi lại bên anh, tôi lại xa xót và lòng ghen tỵ lại trỗi dậy, cái gì đó níu kéo tôi lại với quá khứ. Vệ đọc được điều ấy trong khoé mắt nhoà lệ của tôi, amh lại vỗ về khoan nhượng.


Gián chưa làm quen được với cảnh sống thiếu Bần. Em thẫn thờ ra ra vào vào, ăn uống thất thường, điều ấy dễ hiểu thôi. Lần đầu tiên em chịu chia xa mặc nhiên đó không phải mối tình đầu, nhưng quả là quá sức em. Tôi muốn tìm cách gì đó đi vào nội tâm chia sẻ với em, nhưng chưa biết thế nào, tôi nghĩ việc đầu tiên là phải khôi phục lại sức khoẻ cho em. Vược lo lắng lúc nào cũng ở bên con, thấy vậy mẹ tôi không cầm lòng, bà rấm rứt khóc nói, Gián, phải cứng rắn lên con ạ, trời sinh ra người đàn bà để chịu mọi nỗi bất hạnh. Con hãy nhìn vào mẹ đây, nhìn vào mẹ con đây, nhìn vào chị con đây, con sẽ cảm thấy an lành. Gián đứng lên. Em vươn vai xô đến bà. Nước mắt em chảy ròng ròng ướt sũng cả vai áo bà.


Thời gian lúc này thật ý nghĩa đối với chúng tôi. Ánh sáng mặt trời lên chiếu vào căn nhà tôi, lúc này tôi mới thật sự trở lại cân bằng. Nhưng sự thiếu vắng không gì có thể bù đắp được. Bắt đầu tôi để ý đến Gián xem em có sự đổi thay về sinh lý và hy vọng loé lên trong tôi, em chửa, ôi nếu quả đúng như vậy thì hai gia đình chúng tôi đại phúc rồi. Lúc sinh thời bà nội tôi chỉ ao ước một điều là được bế chắt nội rồi chết cũng được, nhưng ước mơ của bà nội đã bị vùi chặt dưới ba tấc đất rồi còn đâu. Thế là nỗi uất hận trào lên, người bốc hoả, mặt nóng ran, tôi như một con ngố lên cơn, thầy thuốc bảo đó là hiện tượng chấn sang não, người bị tổn thương về tinh thần dễ mắc chứng ấy. Nếu lúc ấy gặp Đa, có thể tôi làm loạn, gây tai vạ cho người. Gián ôm lấy tôi, cười bảo chị làm em hết hồn, chị ơi có phải lúc ấy chị nghĩ đến bà nội không? Ai bảo em thế? Tôi hỏi. Gián bảo, mẹ bảo khi nào nghĩ đến bà nội là chị lại bị thế. Em chỉ nhìn qua ánh mắt chị em biết! Có lúc nào nghĩ đến bố, chị thế không? Có.Tôi đáp gọn.


Chiến tranh là chia ly, là nỗi ám ảnh về chết chóc. Gia đình tôi đã trải tất cả chiến tranh và chết chóc. Tôi đi ra vườn thuốc thở không khí tươi lành để tĩnh tâm và lấy lại sự cân bằng. Hồi tưởng lại những ngày nổ ra cuộc đấu tranh quyết liệt với kẻ thù, tôi cảm thấy trí não vẫn minh mẫn, thể lực vẫn đồi dào. Dẫu đời hành hạ thế chứ hành hạ nữa, hành hạ mãi, tôi vẫn cứ sống như bà nội tôi, như bố tôi đã sống. Đại uý, Bí thư Đảng uỷ Vận biết tôi đang ở hoàn cảnh coi như vô vọng bởi một cuộc chiến khốc liệt đưa tới, cuộc chiến ấy lại tiếp tục đưa tôi đến bên vực nếu điều gì xảy ra. Bí thư Đảng uỷ Vận không muốn Bần lên phía trước để em trụ lại hậu phương đảm nhận một việc gì đó xứng đáng với người cha đã quyên sinh. Tôi thầm cảm ơn, nhưng coi như không quan tâm. Nếu không có sức mạnh tiềm tàng trong tôi thì tôi đã bị gục ngã. Phải sống, sống cho thiên hạ thấy họ muốn tôi gục ngã.


Gián mang bầu được hai tháng. Niềm hy vọng chan chứa của cả hai dòng họ lớn theo từng ngày, từng giờ với thiên thần nhỏ bé trong bụng em.Vược bảo con, chửa từ một đến ba tháng phải kiệng kỵ, đi đứng phải nhẹ nhàng, không được mang vác nặng và nghỉ ngơi tĩnh dưỡng. Tôi tưởng tượng một thằng cún bụ bẫm nối dõi tông đường chi trên họ Vũ mang dòng máu ông bà nội, ông bà ngoại, dòng máu mẹ cha, ba dòng máu cộng là dòng máu cụ nội được thừa hưởng trí thông minh, lòng quả cảm, và đức hy sinh của gia tộc, sau này sẽ là một vị tướng, một vị tướng cầm quân mang vinh quang cho Tổ quốc nhưng không trả máu chiến sỹ bằng bất cứ giá nào và vị tướng của chúng tôi đã nhanh chóng trả những người lính về cho những người đàn bà của họ như điều tôi hằng hy vọng.


Tôi chợt nghĩ đến Đại tướng Võ Nguyên Giáp tài thao lược, đánh đông dẹp bắc mang chiến thắng vinh quang cho Tổ quốc, trở về làm một việc mà đất nước này, chưa từng vị vua nào làm, đó là bắt con người sinh đẻ kế hoạch để có được câu thành ngữ sáng giá mọi thời đại "mỗi cặp vợ chồng chỉ đẻ hai con để nuôi dạy cho tốt."Thế giới này có lẽ chỉ có Việt Nam, nước duy nhất có câu thành ngữ đó do một Đại tướng sáng tạo. Làng khác, không biết thế nào, chứ làng Quan Nhân không cặp vợ chồng nào trong độ tuổi sinh sản đẻ con thứ ba, không ai bị phạt đẻ.


Một cơn gió thổi tung tấm liếp che cửa. Tôi gọi tấm liếp là cửa cho vui, chứ thực ra nó chỉ canh được người ngay chứ không giữ được kẻ gian. Tôi thiếp đi trong cơn ác mộng. Em Bần tôi chết. Một con ma trơi, hai con ma trơi, ba con ma trơi rồi hàng lũ ma trơi chúng kéo đến xẻ xác em tôi. Tôi xông lên, nhưng chân tay tôi bị trói chặt. Tôi tỉnh giấc thấy mình nằm sấp, tim đập rộn và một cơn đau ngực khiến tôi ngạt thở. Tôi đã mắc chứng bệnh tim.


Tôi đã trải qua một thời gian phaỉ nói là khổ ải không thể tưởng tượng nổi. Không tiền bạc, thiếu thốn đủ bề, chịu được, nhưng những con mắt hau háu như mắt cú vọ nhìn tôi và những lời cạnh khoé, cay độc ám chỉ tôi và gia đình tôi là kẻ thù của cách mạng thì quả thật chịu không nổi, nhưng vẫn phải sống và tôi đã sống đến bây giờ. Không có gì lạ, tôi tồn tại như bà nội tôi, như bố tôi tồn tại bởi tôi quần quật trên mảnh đất, của hồi môn của bà nội tôi. Không làm việc, đầu óc tôi sinh bi luỵ, ngồi đâu ruồi bâu đấy, đến nỗi tôi mặc cho chúng chui vào lỗ tai, vào lỗ mũi chỉ khi nai lưng ra, tôi mới cảm thấy dòng khí lực dồn vào đôi bàn tay và truyền dẫn lên bộ não, khiến đầu óc sáng suốt, cơ thể mạnh mẽ.


Chín đem cho tôi chục trái cam. Hết ngày khổ cực đến ngày cam lai mà cô. Chín nói. Tôi cầm quả cam trong tay lại ứa nước mắt vì từ khi Đội trưởng Đa về, nhà tôi như có quỷ ám, làng xóm không ai ỏ ê tới ngoài vợ chồng Chín. Chín về rồi thì ba cặp vợ chồng thương binh đến, họ ùa vào như những cơn gió lành. Phóng dắt tay chồng tập tễnh theo, rồi đến Mận dẫn anh thương binh của cô vào, một lát sau thì Lam Tình đưa phu quân tới. Ngôi nhà vốn từ lâu không có dấu chân người làng Quan Nhân, có lẽ vì thế mà ẩm thấp và hôi hám? Tôi mở hết các cửa cho không khí và ánh sáng ùa vào, với cảm giác như một thiên đường. Ba đức lang quân mang quân phục gọn ghẽ cặp kè bên các công chúa của họ. Tôi lặng ngắm những khuôn mặt đôn hậu, tao nhã đang vui vẻ trên lá chiếu rách trải trên nền đất. Phóng bảo, cậu Chín bảo chị mệt, thế là chúng em bàn nhau đến thăm chị luôn, may mà đúng kỳ con nước kém, vợ chồng nhà Ngữ về kịp. Chúng tôi đang vui thì bà cụ hàng xóm vào bảo thằng Cắm bị ngã gẫy chân. Thằng Cắm. Tôi thốt lên. Thằng Cắm, cốt cán chỗ Đội trưởng Đa dựa. Hồi cải cách chính nó đêm đêm rình sau nhà tôi bắt kẻ lạ mặt, nhưng may mà không kẻ lạ mặt nào tới ngoài tên rình trộm. Nó làm sao mà gã gẫy chân? Tôi hỏi. Đêm hôm qua ra cầu ỉa rình kẻ lạ mặt lội qua ngòi mò vào nhà Nâng. Làm gì? Ai biết ma đi ăn cỗ.


Phóng biết tôi, mỗi khi nghĩ lại nỗi oan khuất, chứng sang chấn thần kinh dễ tái phát, em chuyển sang chuyện vui cho tôi khuây khoả.Chị Hoà này, em kiếm được cho chị một Tứ bất tử rồi nhé. Nói đến Tứ bất tử, tôi lại nhớ đến Giáng. Con này tinh quái thật. Làm sao nó biết Tứ bất tử? Giáng về thăm lại tôi hôm ấy tịnh không một ai biết kể cả những người hàng xóm gần gặn nhất. Ông đi xa rồi. Chim trời cá nước biết đâu mà ngóng. Mày chỉ được cái bốc phét là không ai bằng. Tôi nói. Em nói thật đấy, sáng mai, em đưa Tứ bất tử về cho chị, chị thết đãi em nhé. Thì tao đã thết đãi mày cả một chàng trai bảnh nhất làng Quan Nhân rồi còn gì? Vĩ bảo, mai bọn em mở tiệc chiêu đãi khách quý, chị chịu không? Sao lại không. Mận nói. Tao xách hẳn cặp gà chọi đến, chúng mày góp rượu, nghe chửa, đúng sáng mai có mặt, chị Hoà phải lo đồ ăn thức đựng cho sạch sẽ, lôm nhôm người ta cười vào mũi cho. Sự kích động của chúng khiến tôi cảm kích và suốt từ ấy cứ thấp tha thấp thỏm, không biết thực hư thế nào, liêụ có đúng Tứ bất tử của tôi về không?


Không hề có Tứ bất tử nào hết. Ba cặp vợ chồng thương binh kia có mặt từ rất sớm. Phóng sửa lễ đặt lên bàn thờ và thắp hương dâng bà nội và bố tôi. Họ đứng dàn hàng ngang cúi đầu bái lạy. Phóng khấn.Thưa bà, thưa bác.Chúng cháu đến bái lạy cầu siêu cho vong linh bà và bác siêu thoát. Khôn thiêng bà và bác phù hộ cho vợ Bần nó sinh con trai để hương khói phụng thờ cụ nội và ông nội. Chúng cháu mãi mãi nhớ tới bà và bác đã sống và chết cho mảnh đất làng Quan Nhân chúng ta. Xin cầu mọi sự tốt lành cho gia tộc.


Rồi họ tay năm miệng mười hò nhau làm cơm.Chúng tôi thưởng thức bữa tiệc thịnh soạn do tự tung tự tác. Tiếng vỗ tay hoà tiếng ca dìu dặt của một giai điệu trữ tình vút lên, làm cho chúng tôi say mê hứng khởi. Anh Vĩ đọc thơ đi. Phóng giục. Xin có ngay. Vĩ đứng lên: Anh ơn Chúa rủ lòng thương xót/ Đã cho anh trái ngọt Quan Nhân/ Lòng nhân ái mênh mông như biển/ Ơn nghĩa này nguyện trả suốt đời anh. Khán giả lịm đi trong dây khắc, rồi ồ lên cười. Hay. Hay lắm. Tuyệt lắm. Cám ơn nhà thơ đã nói lên tấm lòng biết ơn của chúng ta đối với làng Quan Nhân. Phú rờ rẫm đưa bàn tay tìm tôi, không hiểu sao, anh dừng lại gọi, chị Hoà ơi, nếu còn đôi mắt thì trước hết, em sẽ dựng tượng chị, bởi chị hy sinh lớn quá, nhân hậu quá.Tất cả mọi người đứng lên ca bài ca kết đoàn, bài ca thịnh hành nhất lúc bấy giờ.



Chương 43


Đại Hạn. Đồng điền như một bãi chiến trường bị đạn pháo tàn phá. Ba vụ liền mất trắng. Làng xóm nháo nhào kiếm kế sinh nhai. Nhà nhà sống bằng củ báng củ tế đào bới trên núi đá và những hạt mì, hạt mạch, hạt ngô răng ngựa, miếng sắn khô hôi rình bởi cứt mọt, những thứ mà bây giờ chó ngửi rồi quay đi. Người ta bỏ lại ruộng đồng cho Chủ nhiệm Sao muốn làm giăng làm đèn sao thì làm để ra con sông Cửa Rãnh hóng hớt những đoàn xà lan chở lương thực của Chính phủ chạy qua mà tiếng nóng quen gọi là “mích.” Những chiếc mủng đan bằng tre như những con mòng trâu đeo bám, bất luận sinh tử thế nào, miễn là áp được mạn mích do bọn thảo khấu điều khiển. Cuộc ngã giá diễn ra chóng vánh giữa kẻ mua và người bán. Bọn thuỷ thủ tháo cặp chì khoang lương thực cho bà con người làng Quan Nhân thả phanh xúc đổ xuống mủng của họ. Đồng tiền bẩn vấy bàn tay bẩn đổi trao không biết rằng nhà đá đang mở rộng cửa thúc mình vào.


Ấy thế mà chỉ tiêu nghĩa vụ lương thực, chỉ tiêu lợn hơi vẫn hoàn thành xuất sắc, bởi người ta nghĩ Tổ quốc là trên hết. Nồi cơm nhà Thượng uý, Bí thư Đảng uỷ Vận, nồi cơm nhà Đại uý, Chủ nhiệm Sao, nồi cơm nhà Bí thư Chi bộ Bọc vân vân và vân vân đều đầy oắp, gạo ấy từ mích tuồn về, đó chính là nguồn gạo từ thóc nghĩa vụ mà ra.Thằng Nô mà chẳng đón lõng đám bám mích, mua mười cân xin đểu mười cân, không thối cho nó chỉ có rách việc. Nô không bắt dân bám mích, chẳng ai bắt ai. Không có gạo mích cả làng chết đói là cái chắc. Những người cầm cân nảy mực ở làng Quan Nhân vẫn biết Chính phủ đang ngửa tay xin gạo thế giới vất vả khôn lường, nhưng đấy là việc của Chính phủ, không cần biết. Không một ai, kể cả ông Bí thư Huyện uỷ bắt Chủ nhiệm Sao xin lỗi xã viên và lôi thẳng Đa về huyện giáng chức xuống còn chân sai vặt ở văn phòng thị trấn Uông Bí cũng không nghĩ ra cách gì để củng cố lại hợp tác xã, thực hiện thâm canh tăng năng suất lúa để Hợp tác xã Nông nghiệp làng Quan Nhân trở thành ngọn cờ Đại Phong lẫy lừng thiên hạ.


Những cuộc họp nội bộ đấu nhau nảy lửa, nhưng đều không đi tới bến tới bờ. Không có công để vơ vào mình, người ta đổ tội lẫn nhau. Bí thư quan liêu. Bí thư không chịu cãi lại, đổ cho Chủ nhiệm buông lỏng quản lý. Các đoàn thể chạy vòng quanh ăn theo nói leo. Huyện bó tay, chờ ý kiến chỉ đạo của tỉnh, hãy đợi đấy, tỉnh đang xin ý kiến Trung ương.


Trong lúc đứng trước bờ vực nạn đói đe doạ, cậu Lợi sang nói với mẹ tôi, em Thêm đã hoàn thành khoá huấn luyện chuẩn bị vào Nam chiến đấu, cậu muốn cùng tôi lên thăm em trước khi em lên đường, nhân thể cậu cháu mua ít sắn khô, trên ấy rẻ hơn ở quê nhiều, một công đôi việc, mẹ tôi đồng ý ngay. Cậu cháu tôi bắt xe qua Hà Nội rồi lên Vĩnh Phúc. Cậu xếp hàng vã mồ hôi mới mua được hai cái vé. Đến đơn vị em mới vỡ lẽ, em đã hành quân từ hôm trước. Cậu cháu tôi về Vĩnh Yên thăm một người bà con ở vùng lúa.Trong khi hỏi thăm đường, cậu cháu tôi ngồi uống nước ở quán nước ven đường nghe lỏm được chuyện ông Kim Ngọc, Bí thư Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc tổ chức khoán hộ cho nông dân, nghĩa là giao ruộng cho hộ nông dân tự quản thay cho cung cách quản lý cha chung không ai khóc của hợp tác xã hiện nay. Ông Kim Ngọc nói rằng, nước mình là nước nông nghiệp, dân lấy canh nông vi bản làm gốc thì tại sao lại bị đói? Nhà nước lấy dân ra đi xin nước ngoài lương thực về cho dân, thật nhục nhã. Đó là do lỗi tại chúng ta, những người quản lý vô trách nhiệm đối với dân tộc. Ông Kim Ngọc khởi xướng khoán hộ, nông dân cả tỉnh đồng tình ủng hộ, họ coi ông là vị thánh sống cứu nông dân ra khỏi nạn thóc cao gạo kém.Tỉnh Vĩnh Phúc nhanh chóng thoát ra khỏi nạn đói triền miên. Nhưng mới đây báo Nhân Dân đăng bài báo phê phán nghiêm khắc đối với ông Kim Ngọc,Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc mở hội nghị bẩy ngày phê phán ông Kim Ngọc. Trong gần một tuần lễ ấy, ông Kim Ngọc chỉ ăn mấy cái bánh bích quy và hút thuốc lào vặt. Chuyện đó không biết sai đúng thế nào, nhưng nghe qua câu chuyện kể về Kim Ngọc, cậu cháu tôi thật sự xúc động trước tấm lòng một người cộng sản chân chính dám cả gan đi ngược lại chủ trương tập thể hoá, để từng bước tiến lên xã hội chủ nghĩa rôì tiến thêm bước nữa lên cộng sản chủ nghĩa, của cải dư thừa mà xã hội ta lúc ấy đang hướng tới, cũng như bố tôi từng rao giảng trước nhân dân làng Quan Nhân hồi cách mạng Tháng tám thành công, tương lai dân tộc ta tiến lên chủ nghĩa cộng sản thật xán lạn, mọi người làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu vì lúc ấy của cải như nước.


Cậu Lợi tôi hỏi những người thân đang thực hiện khoán hộ ở Vĩnh Yên, họ đều khẳng định khoán hộ của ông Kim Ngọc thật tuyệt vời, tất cả nông dân nước ta phải làm theo cách của ông Kim Ngọc.Tổng Mao Điền chỉ có làng Quan Nhân dám khoán hộ. Đại uý Sao nghĩ mình chết mà cả làng không bị đói cũng được.


Tôi về đến ngõ xóm Trung thì gặp Đại uý, Chủ nhiệm Sao. Tôi túm áo chủ nhiệm lôi vào nhà Chiến Thắng. Có việc gì mà cô làm thế? Chủ nhiệm Sao hỏi. Có việc đây. Tôi kể anh nghe câu chuyện lý thú về một người cộng sản, anh có phải là cộng sản không, có à, thế thì tôi tin anh sẽ phải nghe. Tôi kể lại một cách chi tiết câu chuyện về nhà cải cách nông nghiệp Kim Ngọc, Bí thư Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc và bảo, anh phải bằng cách nào đấy lên Vĩnh Phúc xem minh tình thế nào, nếu thấy ngon thì về ta làm thử. Tỉnh Vĩnh Phúc, Bí thư ra tay, ruộng sây lúa tốt. Hợp tác xã Nông nghiệp làng Quan Nhân, Chủ nhiệm Sao khoán hộ xoá đói cho cả làng. Tôi nói. Theo ý tôi, Chủ nhiệm thử một phen xem sao? Không chết được đâu, cùng lắm thì bị cách chức, khai trừ Đảng về đi cày cho vợ để khỏi phải ăn Huân chương. Tôi nói khích. Đã dám khóc trước xã viên thì cũng dám chịu kỷ luật cách chức và khai trừ Dảng.


Tôi bí mật theo Đại uý, Chủ nhiệm Sao lên Vĩnh Phúc đến thăm mấy người hộ nông dân thực hiện khoán hộ, chỗ người nhà cậu Lợi tôi. Trăm nghe không bằng một thấy, Chủ nhiệm Sao bị khoán hộ mê hoặc luôn. Tôi bảo, ông Kim Ngọc bị kiểm điểm gần một tuần lễ chỉ ăn mấy cái bánh bích quy và hút thuốc lào vặt, Đại uý cũng phải học cách khoán hộ ngần ấy ngày và trước hết phải khao con này đã không thì không xong. Đại uý, Chủ nhiệm Sao nắm bàn tay tôi bảo, tôi thưởng cô một nụ hôn của trai làng Quan Nhân được chưa? Tôi ngượng đỏ mặt quay đi.


Đại uý, Chủ nhiệm Sao báo cáo với Thượng uý, Bí thư Đảng uỷ và Trung uý, Thường vụ Đảng uỷ xin chủ trương thực hiện khoán hộ. Thượng uý, Bí thư Đảng uỷ Vận nói, đồng chí làm cách nào mà huyện không biết thì đồng chí làm, coi như Đảng uỷ không biết, sau này xảy ra chuỵện lôi thôi, trách nhiệm thuộc về đồng chí.Vốn bản ngã một sỹ quan từng trải trận mạc, dám quyết, nghe cấp trên mình phán thế, Sao lên tiếng, các đồng chí sợ, để tôi làm, tôi chịu trách nhiệm.


Đại uý, Chủ nhiệm Sao về họp Ban Quản trị ra quyết định thực hiện khoán hộ. Khởi đầu chia ruộng về cho hộ, bình quân hai sào một nhân khẩu, có gần, có xa, có tốt, có xấu. Xã viên bàn bạc cho ra nhẽ trước khi nhận ruộng, nhận giống má, nhận sức kéo, nhận phân bón về tiến hành theo các bước điều hành sát sao của Chủ nhiệm Sao. Chợ phiên chỉ họp ào một lúc buổi sáng, bà con còn phải ra đồng làm tối mắt,tối mũi. Được khích lệ, bởi ruộng về tay, được ăn thua chịu, bà con ai nấy lo cho mảnh ruộng của mình quên cả đêm hôm giá rét chết cò vẫn ngoài đồng tát nước năm đạy. Công việc đồng ruộng cày bừa, cấy, gặt diễn ra hàng ngày, huyện đâu để mắt tới. Vụ đầu khoán hộ, Hợp tác xã Nông nghiệp làng Quan Nhân được mùa to. Bà con thôi không bám mích nữa để tập trung sức vào đồng ruộng. Bấy giờ huyện mới nhảy bổ xuống xem tài thao lược của Quan Nhân, huyện mới ngã ngửa ra là Chủ nhiệm Sao khoán hộ chui.


Bí thư Huyện uỷ đem tờ báo Nhân Dân có đăng bài của đồng chí Trường Chinh phê phán khoán hộ ra kiểm điểm Ban Chấp hành Đảng uỷ trước rồi tiến hành kiểm điểm Ban Quản trị Hợp tác xã Ngông nghiệp làng Quan Nhân. Chủ nhiệm Sao đứng lên chịu tội trước Huyện uỷ đã tự mình khơi ra khoán hộ rồi cưỡng bức xã viên làm, Ban Quản trị không biết mô tê gì về khoán hộ nên phó mặc cho Sao làm giăng làm đèn sao tùy ý, và Sao đã giấu không cho Đảng uỷ biết. Khuyết điểm thật sự nghiêm trọng đến mức phải khẩn trương dập tắt ngay, vì đây là hiện tượng xét lại của chủ nghĩa tư bản đã xuất hiện ở Quan Nhân như một bệnh dịch nguy hiểm. Đồng chí Trường Chinh viết bài phê phán trên báo Đảng không phải chuyện đùa. Huyện uỷ ra quyết định cảnh cáo Ban Chấp hành Đảng uỷ, Ban Chi uỷ Quan Nhân, và Ban Quản trị Hợp tác xã Nông nghiệp làng Quan Nhân, Chủ nhiệm Sao bị khai trừ khỏi Đảng.


Hợp tác xã Nông nghiệp làng Quan Nhân tổ chức Đại hội đại biểu xã viên bất thường, cách chức Chủ nhiệm Sao và bầu Nâng, Phó Chủ nhiệm lên làm Chủ nhiệm và, dỡ bỏ toàn bộ phương thức khoán hộ, nhưng không thu lại sản lượng lương thực mà chỉ tiến hành thu ba khoản phí là thuỷ lợi, phòng trừ sâu bệnh và nộp thuế. Ông Là làm phó Chủ nhiệm phụ trách chăn nuôi, kiêm đánh bắt và chế biến hải sản. Mang làm Phó chủ nhiệm phụ trách kỹ thuật trồng trọt. Chủ nhiệm Nâng kiêm khâu tài vụ kế toán và khâu nhân sự. Cắm ức lắm, nó chỉ vào mặt Nâng bảo, lẽ ra tôi phải làm Phó Chủ nhiệm giữ chân của ông Là mới phải, thử hỏi ông Là học hành gì hơn tôi? Nâng bảo nó lú nhưng chú nó khôn, anh cứ đợi đấy.Từ ấy Cắm ghét Nâng ra mặt.Tối hôm đi chữa cái cẳng chân về, ra cầu ỉa nhác thấy một gã đàn ông cởi quần áo đội lên đầu lội qua ngòi sang nhà Nâng, Cắm chợt nhĩ đến Đa, còn thằng chó nào nữa, không hắn thì ai vào đấy.


Tôi bị vạch mặt trước xã viên Hợp tác xã làng Quan Nhân về tội đã làm tha hoá một sỹ quan Quân đội nhân dân Việt Nam, một cán bộ chủ chốt của Làng Quan Nhân gây ra mối nghi ngờ đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước trong nội bộ nông dân. Chủ nhiệm Nâng báo cáo Huyện uỷ, tôi đã đặt bức chân dung ông Kim Ngọc, Bí thư Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc trên bàn thờ cạnh bức ảnh bà nội tôi và bố tôi. Ba ngày sau, tôi bị gọi lên huyện hỏi về tội chống Đảng. Không phải Vệ xét hỏi mà một người thay anh, đó là ông Thắng. Ông này cũng hiền khô, nhã nhặn bảo tôi ngồi xuống ghế rồi hỏi, vì sao chị thờ ông Kim Ngọc? Tôi trả lời ngay. Thưa ông, tôi thấy ông ấy làm một việc có thể bị cách chức, bị khai trừ Đảng, bị tù tội, mà không ai dám làm vì người ta sợ quyền lực, sợ mất bổng lộc, và sợ nhiều thứ khác nữa, nhưng quan trọng là, tôi mắt thấy tai nghe khoán hộ mang lại no ấm cho nông dân, đối với tôi, một người cộng sản như thế đáng tôn thờ.

Ông cán bộ điều tra chỉ hỏi có thế rồi tha tôi về. Ông Thắng là người phát hiện vụ biển thủ số thuốc ký-ninh đổ vạ cho Bần, không có ông em trai tôi bị tù tội mọt gông. Đến đầu làng gặp vợ Đại uý Sao, tôi nhốt ruột nhốt gan vì sợ chị hiểu lầm tôi đã làm chồng chị khốn đốn, nhưng lạ thay, vợ viên Đại uý không những không trách móc mà còn cảm thông và chia sẻ nỗi niềm với tôi. Chị bảo, chị đã lên Vĩnh Phúc vào thẳng Tỉnh uỷ gặp ông Kim Ngọc, đúng là ông ấy bị kiểm điểm vì báo Nhân Dân đăng bài của ông Trường Chinh phê phán khoán hộ thật, nhưng khi đến nhà mấy người bà con ở Vĩnh Yên thực hiện khoán hộ, họ có cuả ăn của để, tôi tin, anh Sao nhà tôi làm đúng. Tôi không trách cứ gì cô đâu. Cô Hoà này, tôi còn nghe nói, ông Kim Ngọc đang được Trung ương xem xét lại. Phải thế chứ cô, người ngay không sợ chết đứng. Năm bốn nhăm, cô nhớ không, sau thảm hoạ hơn hai triệu người chết đói, làng ta mà chả chết hơn chục người, Cụ Hồ khởi xướng hũ gạo cứu đói là dẹp được nạn đói, bây giờ nước mình lại có ông Kim Ngọc khởi xướng khoán hộ, cũng dẹp được nạn đói, đúng không cô? Anh Sao nhà tôi là người khởi xướng khoán hộ, làng Quan Nhân mình hết đói. Nạn bám mích cũng bị xóa, thế là chồng tôi có công chứ không có tội phải không cô? Tôi bảo, chị chỉ được cái nói đúng. Ông Đại uý nhà chị oan một, ông Kim Ngọc oan mười, mà ông ấy vẫn bình tĩnh tự tin. Con người ta để đi tới cái đích của đời mình, có khi phải đi đường vòng khổ cực nhiều, đâu có thẳng tắp một con đường thẳng phải không chị?


Sau này, ông Kim Ngọc được giải oan vì có Chỉ thị Một trăm của Trung ương, rồi Khoán Mười ra đời, Đại uý Sao được trả lại quyền lợi chính trị, nhưng cứ nghĩ đến nỗi đau đồng chí như người cộng sản Kim Ngọc ta thán thì Sao lại nản lòng.Thấy chồng nằm dài trên cái chõng tre, hút thuốc lào vặt, vợ viên Đại uý lại vỗ về, ông ơi, là đấng nam nhi như ông mà hèn thế thì còn ra cái thá gì nữa. Dậy đi ông, không làm gì phải phiền não như vậy, ông không ra gánh vác việc làng thì để tôi thay ông vậy, tôi không thích một ông chồng đụt như ông. Chị nói thấu lý đạt tình, ông chồng bỏ thuốc vào cái nõ điếu quẹt que diêm rồi đưa lên miệng rít sòng sọc, à ra một đụn khói xám, vợ ông bảo, nuốt thuốc độc vào cho chóng chết, nói mãi vẫn chứng nào tật ấy không rời bỏ được cái điếu. Đại uý Sao sang thăm cậu Lợi tôi, hai người làng Quan Nhân tâm đắc về khoán hộ ngồi với nhau nhâm nhi trản trà. Này ông, Đại uý Sao bảo, ông là người dẫn đường chỉ lối, còn tôi chỉ là anh thực hiện, nếu có công thì phải kể đến ông trước. Công tôi, cậu Lợi hỏi. Đúng công ông. Đại uý Sao khẳng định. Sao lại công tôi? Cậu Lợi vặn lại. Công ông, ông Đại uý ạ. Đại uý Sao tâm sự với cậu: Ông Lợi này, tôi có lỗi với ông, hồi làm chủ nhiệm hợp tác xã ý. Ông nói sao, cậu Lợi hỏi. Con người ta sống bằng hai bàn tay, có nghĩa là sống phải làm việc vậy mà tôi đã tước quyền làm việc của ông gần hai năm giời. Xin ông tha lỗi cho tôi. Bây giờ tôi với ông đã chung một chiến tuyến, chết cùng chết. Nhưng nói cho vui thế thôi, chết sao được phải không ông? Khoán hộ sẽ thành công rực rỡ.

Tôi lại nghe ông Kim Ngọc nói với người con trai trước khi anh ra trận rằng, đạo đức của con người và giá trị của con người chính là chỗ phải hoàn thành bổn phận, vai trò, công việc được giao phó, hay tự nguyện gánh vác. Con có thể thương tật, con có thể hy sinh, nhưng phải trung thực. Một khi con rèn được phẩm cách trung thực, thì con mới có lòng dũng cảm. Đó là cả một hành trình, một hành trình làm người, con trai ạ. Lời ông Kim Ngọc dặn con trai trước lúc anh ra trận là một bài học bổ ích để chúng ta làm người. Nhân cách lớn của người cộng sản Kim Ngọc đó là, tự nguyện gánh vác việc khoán hộ, một việc có thể thương tật, có thể hy sinh, nhưng rèn luyện được phẩm cách trung thực, ông đã dũng cảm.


Tôi lại nhớ đến bố tôi, lúc sinh thời, ông vẫn dạy tôi phải sống trung thực như ông đã sống, nhưng vì thiếu dũng cảm đã dẫn cái chết thảm hại để lại cho đời lòng thương cảm chứ không khâm phục.Tôi đặt bức chân dung người cộng sản Kim Ngọc lên bàn thờ, thờ ông cùng với bà nội tôi và bố tôi đó là lý do tôi báo cáo với ông Thắng, cán bộ điều tra xét hỏi tôi vì sao tôi thờ ông Kim Ngọc. Ông cán bộ điều tra cảm thông và bảo, chị làm việc đó hoàn toàn tự nguyện gánh vác cũng như ông Kim Ngọc đã cho tôi một bài học quý về nhân cách người cộng sản. Đó là lần cuối cùng, chúng tôi gặp nhau trước khi ông chuyển công tác về Hà Nội.


Ông Bí thư Huyện uỷ dừng xe ở đầu làng Quan Nhân tạt vào thăm mẹ con chúng tôi. Thấy bức chân dung nhà khoán hộ Kim Ngọc trên bàn thờ bà nội tôi và bố tôi, ông bảo, cảm ơn cô nhiều lắm, bây giờ có Chỉ thị Một trăm của Trung ương rồi, sắp tới Khoán Mười ra đời không chỉ có cô thờ ông mà cả nước này sẽ thờ ông. Sau này, tôi còn được biết, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nói về người cộng sản Kim Ngọc rằng: Nông dân ta no ấm, trước hết là nhờ ơn Đảng, ơn Bác Hồ. Nhưng trong quá trình xây dựng đất nước thì chúng ta phải cảm ơn Kim Ngọc, một đảng viên sáng tạo, dám chịu trách nhiệm đến cùng trước nhân dân.


Hôm sau, cậu Lợi tôi nhận được thông báo Thêm và Thắt được tặng bằng khen của huyện về thành tích phá án Một và Năm, ông mừng mừng tuỉ tủi làm mâm cơm trước là lòng thành dâng lên tổ nghiệp sau đó là cho anh em, con cháu quây quần hưởng lộc.Tôi không thể ngờ sau bữa cơm ấy, bọn mật vụ phát hiện Thêm và Thắt phản bội chúng, chúng đã thủ tiêu cậu vì mối thù hai người con trai yêu quý của cậu như chúng đã thủ tiêu Văn khi anh ta đã như cái vỏ chanh bị vắt kiệt nước. Bấy giờ tôi mới hiểu sau khi bị nghi oan, ba bố con cậu không được làm việc hợp sở thích kiếm cuộc sống tốt hơn mà phải làm những việc thổ tả tay không đủ vày miệng.


Đám ma cậu Lợi được tổ chức với nghi lễ gia đình có người chiến đấu ở Miền Nam ruột thịt rất trang nghiêm, lúc ấy Bí thư Chi bộ Bọc mới vỡ lẽ Thêm và Thắt là sỹ quan Quân đội nhân dân Việt Nam. Thằng Cắm và thằng Nô biết có lỗi với người đã khuất, chúng thắp hương trước vong linh cậu Lợi xin ông tha thứ thì chúng được hung tin báo Đa đâm đầu xuống sông Sinh tự vẫn khi dân thị trấn tìm thấy thi thể thì cá đã rỉa mất đôi con mắt...


Ông Bổn cũng về phúng viếng cậu Lợi tôi và ở lại chia buồn cùng gia quyến người quá cố. Ông cho biết, ông đã xuống tóc quét lá đa ăn mày phật để được sám hối. Tôi bảo, ông đã quyết thế thì mời về trụ trì ở chùa Dâu. Vâng, thế thì tôi sẽ về ngay, vì đối với tôi chỉ có cửa Phật mới tìm lại chính con người mình đã bị đánh mất bởi những tham tục trên cõi đời này. Hồi còn trong nhà tù, ông Giám thị đã nói với tôi, đối với con người, chốn vĩnh hằng chỉ có ở nơi niết bàn.



Chương 44


Mẹ tôi bị rối loạn cảm xúc. Mấy hôm liền, bà đầu tóc bơ phờ chỉ nhìn trời thở dài thườn thượt rồi bỗng oà khóc gọi em, lúc lại cười ròn, kêu làng có kẻ giết em Bần, nghĩa là thần kinh không ổn định. Cặp mắt thất thần của bà lạnh lùng trước sự quan tâm của người thân. Dấu hiệu duy nhất bộc lộ khi nhận ra con gái là bàn tay giá lạnh đưa lên ấp vào bàn tay tôi, nhưng lúc ấy mắt bà ráo hoảnh nhìn lên nóc nhà. Bà sống thực vật như vậy đã năm ngày, trong suốt thời gian ấy tịnh không ăn mà chỉ uống chút nước sôi để nguội. Thật sự tôi dao động lo số phận bà không qua được lưỡi hái tử thần. Bà con làng xóm đổ sang thăm hỏi, bà chỉ trơ hai con mắt ưu sầu nhìn, không động đậy, dù chỉ một động tác huơ tay nhẹ ra hiệu, chỉ đến khi Vệ về thăm tự khắc bà ngồi dậy vấn lại mái tóc và hỏi anh, Bần đang ở đâu, nó đánh Mỹ ra sao, có diệt được tên nào không? Rồi bà đổ xuống, trở lại trạng thái như mấy hôm đầu. Tôi cho mẹ tôi uống thuốc ngủ, nhưng mỗi đêm bà chỉ nhắm mắt được một lúc về gần sáng.


Đại uý Sao, Trung uý Thuộc đến thăm mẹ tôi, hai ông cho biết, Thượng uý Vận đã tái ngũ cách đây năm hôm tránh để tôi hỏi về ông. Mẹ tôi mỉm cười và gật đầu với Sao. Tôi mừng quá, nhưng chỉ một lát sau, bà lại hôn mê sâu. Sao bàn với tôi đưa bà đi nhà thương. Vệ cũng thống nhất ý kiến đó, nhưng khi tỉnh, bà kiên quyết không nghe và bảo, nếu tao có mệnh hệ nào thì đấy là số rồi, chữa được bệnh chứ không chữa được mệnh. Bà bảo, nếu cho bà đi, tao sẽ cắn lưỡi chết. Họ cũng chỉ động viên an ủi tôi thôi chứ không biết làm thế nào cho bệnh tình của mẹ tôi thuyên giảm được. Thế cũng là quý rồi. Đối với tôi lúc này, tình người là hơn cả mọi thứ tiền bạc. Cuối cùng tôi vẫn quyết định đưa mẹ tôi lên nhà thương. Những ngày ở nhà thương quả thật không thể chịu nổi. Bệnh nhân nằm chung hai người một giường, người nhà chăm sóc người bệnh chui rúc dưới gầm giường bệnh hoặc ra vỉa hè sống tạm bợ cho qua ngày.Thầy thuốc thăm bệnh qua loa, hỏi han vài câu chiếu lệ, phát cho mấy viên thuốc an thần. Lúc bấy giờ thuốc men làm gì sẵn như bây giờ, thầy thuốc có muốn phóng tay cấp thuốc đúng phác đồ điều trị cũng bó tay thôi. Được năm hôm, viên y sỹ điều trị cho mẹ tôi khuyên, nên đưa bà về chăm sóc chứ ở đây không giải quyết được gì tốt hơn, không những thế có khi còn ốm thêm, không còn cách nào khác, tôi đưa mẹ tôi về.


Gián về chăm sóc bà. Em dịu dàng tình cảm xem ra ý hợp tâm đầu với mẹ. Em dỗ dành như dỗ trẻ con để bón cho mẹ từng thìa cháo và mỗi ngụm thuốc do chính tay em sắc. Con dâu mẹ chả trách khéo nuôi mẹ chồng, tôi ghen với em. Con gái là con người ta, con dâu chính thực mẹ cha mua về. Đúng không? Gián bảo, chị nói thế thôi, con gái mẹ bao giờ cũng là điểm tựa vững chắc cho mẹ. Chị em lại cấu chí nhau cười. Tôi hỏi, Gián nhớ Bần của chịu nhiều không? Ăn em cũng nhớ, ngủ em cũng nhớ chị ạ, em nói thật đấy, hễ đặt tay lên bụng thấy con nó giẫy là em lại tủi thân. Về với mẹ, với chị, vơi đi nỗi nhớ chị ạ, có lẽ em xin bố mẹ em về nhà mình thôi, chị bằng lòng không? Thế thì chỉ có nhất thôi. Mẹ khoẻ rồi, chị lo cho em cái ổ nhé. Tôi nói. Chị em tôi cứ câu rang câu sếu thế cũng làm cho mẹ tôi vui. Bà lúc nào cũng thích ngắm con dâu. Cha bố chị, không cho bà nội thằng cún con là ăn roi nghe chửa? Bà vỗ về.


Ông Bổn biếu mẹ tôi bẩy chén thuốc bắc. Ông bảo sư thầy gửi biếu bà nhà. Đây là bài thuốc để tĩnh tâm, dưỡng khí, cô sắc cho bà uống ngày một chén. Uống hết bẩy chén thuốc này bà nhà sẽ ổn định và đi lại được, ăn ngon miệng, nhưng chưa thể làm lụng được, phải nghỉ ngơi ba tháng nữa.


Gián xin phép mẹ về đằng ngoại năm ngày lo một số việc rồi em về ngay. Em bảo tôi, chị phaỉ nhớ lấy nửa lạng thịt nạc, năm gam mộc nhĩ đen, năm quả táo tàu với ba lát gừng bỏ vào nồi, đổ sáu bát nước ninh còn hai bát, cho thêm chút muối và mì chính cho mẹ ăn. Loại canh này không chỉ có tác dụng chữa bệnh tim mà còn chữa được chứng mất ngủ bất an. Chị em mình cho mẹ ăn bốn mươi lăm ngày, em tin mẹ sẽ khoẻ.


Mẹ tôi lành bệnh, nhưng thực hiện đúng lời ông Bổn dặn, bà phải nghỉ ngơi ba tháng. Bà bảo, để mẹ lên chơi với ông bà Vệ mấy ngày, nếu em Gián có ý định về dưới này với mẹ con mình thì mẹ thưa chuyện với gia giáo cho có đầu có đuôi, em nó trẻ người non dạ.


Dạo này, máy bay Mỹ vè vè suốt ngày đêm, người làng tôi phán doán chúng chỉ đi do thám để chuẩn bị huỷ diệt cầu Cầm và kho lương làng Nhuệ, chứ không nghĩ nó đánh làng mình. Bảnh mắt ra. Kẻng báo động vang lên. Bà con nháo nhác gọi nhau xuống hầm trú ẩn. Ba con thần sấm từ phía biển lao thẳng vào bị súng phòng không tầm thấp của Đơn vị pháo S đón lõng đánh vỗ mặt, buộc chúng phải vọt lên tránh hoả lực mạnh của ta. Lập tức, ba con ma từ phía Hải Phòng lao tới. Loạt bom đầu tiên chúng ném trúng đập nước.Trung đội dân quân Quan Nhân nhằm thẳng mục tiêu nhả đạn phá vỡ đội hình của chúng. Bất chợt ba con thần sấm, trong mạn núi phía Tây ngoặt lại bổ nhào ném bom vào làng. Đạn pháo của ta nổ giòn giã, chúng phải tháo chạy.


Khi bầu trời trở lại yên bình, làng Quan Nhân phải đối mặt với cái chết vô cùng bi thương. Mười chín người, trong có cả ông bà già và trẻ con thiệt mạng. Bà Nốc và ông Võ bị thương nặng, dân quân bỏ vào võng đay khiêng lên nhà thương đến giữa đường thì chết phải quay về. Bà con lo chôn cất người chết, không nghĩ đến cánh đồng lúa đang vào mẩy bị vùi dập tan hoang.


Thời chống Pháp, làng Quan Nhân đã có một đại tang, mười lăm du kích bị chặt đầu bêu giữa chợ cùng một giờ, cùng một ngày. Bây giờ thằng đế quốc Mỹ lại gieo hoạ một đại tang nữa cho làng Quan Nhân, mười chín người chết cùng một giờ, cùng một ngày. Người làng đặt mười chín cái quan tài giữa sân nhà Chiến Thắng tố cáo tội ác quân xâm lược. Tất cả mọi người dự buổi lễ tang không giấu nổi xúc động và biểu thị lòng căm thù quân xâm lược Mỹ, nhưng không hô đả đảo, không tố cáo chúng trên báo, trên đài mà đưa họ ra đồng mồ yên mả đẹp rồi về bàn ngay cách trả thù tên ác thú Giôn -Xơn.


Ba mươi thanh niên lấy máu mình viết đơn tình nguyện lên đường đánh Mỹ. Trung đội nữ dân quân Trưng Vương, gồm ba mươi tay súng được tổ chức, do nữ diễn viên chèo Đào Thị Ngận làm Trung đội trưởng trực chiến ở phía Đông hợp đồng tác chiến với Trung đội dân quân Quan Nhân trực chiến ở phía Nam.

Hội Phụ nữ nêu chỉ tiêu thi đua đưa năng suất lúa tăng bình quân hai tạ một héc-ta và làm nghĩa vụ đối với Nhà nước hai mươi lăm tấn thóc, tăng hơn vụ trước ba tấn và năm tấn thịt lợn hơi, vượt mức huyện giao một tấn. Hội nghị phụ nữ ba Đảm đang họp ngay tại đầu bờ phát hiện ra nạn chuột hại lúa. Giống chuột đồng to hơn giống chuột nhà, con nào con nấy béo núc. Chúng đục khoét thành hang thành ổ trong các đống, các đượng, trong các bờ ruộng, sinh con đẻ cái kinh khủng.Thằng Mỹ ném bom chỉ khoét được mấy cái hố bom, nhưng chuột phá còn tệ hại hơn cả giặc Mỹ, nguy cơ mùa màng mất trắng. Các bô lão trong làng thấy vậy cũng ra đồng bàn kế diệt chuột. Đích cuối cùng được đưa ra là mỗi cụ trồng mười chín cây vải thiều trên đồi cây ăn quả "Vì Miền Nam Ruột Thịt" và thả ra đồng một con mèo. Chín được dân làng cử chuyên theo dõi các chỉ tiêu thi đua, thường xuyên bám đội lội đồng, bẩy ngày báo cáo Đảng uỷ một lần. Vợ Chín sinh quý tử, Thơ bảo chồng, anh cứ lo việc làng cho chu tất, mọi việc nhà em lo. Cứ tối về với mẹ con em là được, nhưng, nghe em nói đây, em là em cấm anh xí xớn với đám nữ dân quân nghe chửa? Vợ chồng nhà ấy nó thế, nhưng ăn ở với nhau như bát bát nước đầy, trong xóm ngoài làng, ai cũng khen.


Đại uý Sao đến nhà bảo tôi, Hội Cựu chiến binh làng Quan Nhân quyết định làm ba cái bia căm thù, một cái dựng trên xứ đồng Mả, ghi tội ác giặc Nhật bắt dân làng Quan Nhân nhổ lúa trồng đay, một cái đặt trên xứ đồng Canh ghi tội ác giặc Pháp chặt đầu mười lăm du kích làng Quan Nhân bêu đầu giữa chợ, cái thứ ba đặt trên xứ đồng Bờ Đâng ghi tôi ác giặc Mỹ giết hại mười chín người làng Quan Nhân, cô tham gia công trình này? Xin giơ cả hai tay. Tôi nói. Đại uý Sao dặn dò, bia làm bằng đá để trăm năm sau con cháu ta nhớ về thuở cha ông chúng bảo vệ đất nước. Ban dựng bia căm thù được thành lập. Tôi được giao mỗi việc quyên tiền.


Lễ dựng bia căm thù được tổ chức trọng thể tại đài tưởng niệm các liệt sỹ làng Quan Nhân. Mẹ tôi đã biết nội dung buổi lễ sẽ có mặt tất cả các gia đình thân nhân liệt sỹ, thương binh, gia đình bộ đội, cán bộ và những người có công với cách mạng. Bà không muốn trông thấy mặt những người đã tác động đến cái chết của chồng bà đang ngồi trên ghế Đoàn Chủ tịch, nhưng Chín nằn nỉ mãi bà không thể từ chối vì lẽ đó ra chậm mất hai mươi phút khi Đại uý Sao đang phát biểu tố cáo tội ác của giặc Nhật, giặc Pháp, giặc Mỹ đối với dân làng Quan Nhân. Đoạn cuối bài dẫn thuyết hùng hồn, Đại uý Sao thay mặt những người lính Cụ Hồ làng Quan Nhân kêu gọi người làng Quan Nhân hãy ghi lòng tạc dạ mối thù bọn xâm lược và trả thù cho những người đã anh dũng hy sinh vì Tổ quốc quang vinh bằng hành động thiết thực, bổ ích. Đại uý, Sao đã gây cảm xúc khá mạnh mẽ cho dân làng Quan Nhân bởi chính ông đã nhặt xương cốt của bẩy người dân vô tội bỏ vào một cái quan tài chôn chung vì họ không còn nguyên thân thể, cũng như Đại uý đã từng chôn cất một tiểu đội, mười hai người đồng chí thuộc đại đội mình trong một trận đánh giáp là cà. Đó là những chiến sỹ trẻ măng, gan dạ. Họ đã hiến dâng xương máu cho Tổ quốc, không cảm xúc sao được? Đại uý còn phải ra tay dựng nhà cho những người nhà bị cháy, nhà bị sập để mọi người an cư lạc nghiệp, tất cả đổ lên đầu người cựu chiến binh ấy, nhưng được cái bà con người góp công, kẻ góp đồng tiền bát gạo, chung lòng chung sức, những mái ấm mọc lên trên những hố bom sâu hoắm mới được san bằng. Một làng quê xơ xác vì chết chóc thảm khốc nhưng không bi luỵ, không chịu đầu hàng. Đại uý, Bí thư Đảng uỷ Sao hiểu hơn ai hết nỗi đau do kẻ thù gây ra phải làm cho dân thấm vào máu mới tạo nên sức mạnh, sức mạnh ấy sẽ làm nên tất cả.

Ngạnh dẫn đầu Đội Thiếu niên Kim Đồng làng Quan Nhân cầm cờ hoa ra dự lễ đặt bia căm thù, thay mặt thế hệ trẻ lên bục danh dự hứa thế hệ trẻ làng Quan Nhân sẽ nối gót cha anh quyết biến mảnh đất Quan Nhân ngày càng mầu mỡ, phì nhiêu để xây dựng thành làng kiểu mẫu, thực hiện lý tưởng xã hội chủ nghĩa giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Ngạnh được trao tượng trưng thanh kiếm Đức thánh Trần Hưng Đạo ra đặt ba bia đá căm thù trên ba xứ đồng làng Quan Nhân.Việc Ngạnh làm hôm ấy, từ lời phát biểu sâu sắc đến cách thức đặt bia vừa trang trọng, vừa ý nhị, ai nấy không thể không thừa nhận Ngạnh thật sự là một tài năng trẻ. Đội Thiếu niên Kim Đồng nêu khẩu hiệu vì bạn khó. Mỗi em góp một quyển vở, một cây bút giúp bạn bị giặc Mỹ tàn phá nhà cửa, giết hại người thân. Chỉ ba hôm sau, tất cả các em gặp hoạn nạn đều cắp sách đến trường. Người làng Quan Nhân tôi là thế, miếng khi đói bằng gói khi no, không bỏ nhau lúc hoạn nạn.


Có điều cần nói là Ngạnh, tuy có họ hàng gằn gặn với Nâng lại có hai đảng viên giới thiệu, nhưng Chi bộ làng Quan Nhân vẫn chưa kết nạp Ngạnh vào Đảng. Ngạnh gặp Bọc ở đầu làng dừng lại hỏi tình hình dựng bia căm thù, Ngạnh cho biết buổi lễ được tổ chức trang nghiêm trước đông đủ dân làng và đại diện quân dân chính đảng làng Quan Nhân. Rồi Ngạnh hỏi Bọc vì sao gia đình tôi là phản động vẫn được dự lễ dựng bia căm thù, Bọc bảo, Đaị uý Sao mất lập trường giai cấp bần, cố không phân biệt rõ kẻ thù trước mắt, mất cảnh giác, hắn đã có thời kỳ đi lính nguỵ, rất có thể đó là cái rễ thối. Ngạnh bảo, em không tài nào hiểu nổi, anh thì bảo thế, người khác lại bảo không phải thế, chẳng biết nghe ai đúng. Bọc bảo không phải nghe ai hết, mà hãy nghe tao, nòi cộng sản đây! Bỗng nó gai người, chợt nghĩ đến hôm mắt nó trông thấy Bọc ôm hôn Nâng tại văn phòng nhà Chiến Thắng giữa ban ngày ban mặt, nhưng nó sợ môi hở răng lạnh Bọc giết, nó phải câm miệng.


*


Bí thư Đảng uỷ Vận tái ngũ. Đảng uỷ họp Ban chấp hành bầu Đại uý Sao, làm Bí thư. Bọc, Phó Bí thư kiêm Chủ tịch xã, kiêm Bí thư Chi bộ làng Quan Nhân. Nhân sự của hợp tác xã cũng thay đổi. Cắm vào Ban Quản trị phụ trách việc nuôi trồng, đánh bắt hải thuỷ sản và chế biến nước mắm. Phụ trách nghề phụ khác nào chuột chui chĩnh gạo. Trông cái mồm thằng này không thể tin được, các bô lão nhận xét. Bọc và Nâng về hùa chỉ giao cho Chín nhiệm vụ theo dõi thi đua chứ nhất định không phân công công tác gì khác. Tôi biết đó là phương án của Bọc, sau khi đã tham khảo ý kiến của Đa và Choảng cũng như nhiều cán bộ chủ chốt khác của xã.


Huyện uỷ phê chuẩn Sao làm Bí thư Đảng uỷ, Chín sang Chính quyền làm Phó chủ tịch xã. Phóng sang là Hội trưởng Hội Phụ nữ. Bọc sợ Chín và Phóng làm sẽ đứng về phía Đại uý, Bí thư Đảng uỷ Sao, sẽ là chướng ngại vật để họ không thể thao túng được nhân dân. Nhất là Phóng, một cán bộ nữ được mọi người mến phục hoàn toàn bất lợi cho Bọc và Nâng. Nâng bằng mọi giá đưa Ngạnh lên quyền Bí thư Đoàn xã, kiêm Bí thư Chi Đoàn làng Quan Nhân. Bọc bảo Ngạnh, mày vào đảng rồi mới cắt được chữ qu, nghe chửa. Tao đang cần đôi lợn giống, bao giờ lợn nhà mày được xuất chuồng? Năm hôm nữa. Em bảo ví(mẹ) em chọn cho anh đôi đẹp nhất đàn, được chưa? Ngạnh cười toe toét.


Trung đội Dân quân Trưng Vương vừa học bắn máy bay tầm thấp vừa học cày, thực hiện khẩu hiệu tay cày tạy súng, quyết bắn rơi máy bay Mỹ trước Trung đội dân quân Quan Nhân. Lúc này, giặc đến nhà đàn bà cũng đánh, không cứ trai tráng sức dài vai rộng nữa. Năm ngoái, việc cày bừa còn do thanh niên gánh vác, năm nay, họ ra tiền tuyến vãn cả, số còn lại phải trực chiến, phụ nữ phải ra tay, cũng cày phăng phăng không kém cánh đàn ông. Đào Thị Ngận đoạt danh hiệu kiện tướng phá kỷ lục cô Quyên làng Ván ngày cày ba sào còn xong sớm giành giải nhất được thưởng năm mét vải màn. Ngận cảm động oà khóc. Kỳ trước thấy mà không có đồ phải chạy khắp làng không vay đâu được một mét vải màn, phải dùng lại đồ cũ bị nhiễm trùng xuýt nữa bị xẻo cả buồng trứng. Đại uý Sao biết lỗi lòng của người chiến sỹ, ông đã chọn phần thưởng cho cô, chỉ mỗi việc đó thôi đã xứng để tôn vinh ông làm Bí thư Đảng uỷ.


Tôi cũng đi cày. Một ngày cày được một sào. Như thế có nghĩa là từ ấy, làng Quan Nhân không cần đàn ông cày bừa để họ thoả chí xông pha trận mạc, nhưng họ càng xông pha bao nhiêu thì đàn bà con gái mình khổ bấy nhiêu, khổ không phải vì đói, vì rét mà khổ vì nỗi nhớ thương họ. Đàn bà xa chồng, xa con sao mà yên được, nhưng một khi đã lâm vào cái thế buộc vào mà đánh mới phải chịu thôi.


*


Vệ về thăm mẹ tôi. Anh biếu gia giáo củ sâm Triều Tiên dặn, khi nào mệt, bà thái mấy lạt mỏng ngậm. Mẹ tôi hỏi thăm sức khoẻ con dâu lại than ngắn thở dài. Ộ ệ lắm rồi, con bé lười ăn lắm cơ, tôi bảo mày ăn là ăn cho con mày chứ không phải ăn cho mày mà nào nó có nghe, khổ lắm bữa câu lưng câu vực. Nước mắt mẹ lại dàn ra. Bà nói với gia giáo cho Gián về đây đẻ để tôi được đỡ ông bà trên ấy một tay. Vệ bảo, mấy hôm nữa con nó về bà chuẩn bị sẵn cho mẹ con nó cái ổ trước đi.Thật hạnh phúc khi mọi người cùng hướng về một người và dành tất cả tình yêu thương cho nhau.


Vệ cho biết sắp tới có đoàn cán bộ, chiến sỹ miền Nam ra thăm miền Bắc, anh hy vọng trong đoàn có bố Phúc “hảo hán” của tôi. Anh sẽ nhờ ông Mạc Văn hỏi ban tổ chức Trung ương xem danh sách đoàn có tên ông không. Từ hôm ấy mẹ con tôi cứ phấp phỏng chờ, bụng lúc nào cũng rối lên. Không rối lên sao được? Bố Phúc “hảo hán” sẽ là chứng nhân lịch sử của gia đình chúng tôi. Ông là thần tượng của mẹ con tôi. Đối với ông, trong trái tim người đàn bà bất hạnh vẫn còn một khoảng đợi với nhịp tim đập thổn thức. Không chỉ có vậy mà còn bao gia đình khác nữa cũng sẽ được minh oan. Làng Quan Nhân sẽ thấu hiểu nỗi hàm oan của chúng tôi. Mọi người rồi lại giang vòng tay ra đón chúng tôi như thuở chín năm chiến tranh khói lửa.


Tin báo về, em Bần tôi hy sinh tại mặt trận Quảng Trị. Tôi không thể tin, tai hoạ thảm khốc lại bổ xuống đầu gia đình tôi, một gia đình sống mực thước, biết điều với mọi người trong xóm ngoài làng? Ngày đen tối thứ hai này khiến mẹ tôi quỵ hẳn. Bà bất tỉnh. Hai hố mắt trũng sâu, thất thần. Tôi ân hận và tự oán mình, giá như lúc ấy, tôi chỉ nói một câu với Bí thư Đảng uỷ Vận chắc chắn không có kết cục bi ai như bây giờ. Cuộc chiến tranh nào cũng hy sinh, nhưng chỉ người cầm súng và những người đàn bà là chịu đựng hơn tất cả. Đối với tôi, sự hy sinh của Bần còn lớn lao hơn bởi em muốn được minh chứng cho sự nghiệp của bố tôi sáng láng, trung liệt chứ không chỉ thuần là sự hy sinh của một người lính chiến. Em đã làm được điều vĩ đại đó như mẹ tôi dặn trước khi em lên đường, con phải làm cho bố con dưới suối vàng thấy con trai mình xứng đáng với tổ nghiệp.Thật không có thứ vinh danh nào tôn thưởng như thứ vinh danh do chính người thân mang lại, nếu còn sống đến bây giờ hẳn ông sẽ hô lớn, tiếng hô của ông sẽ thấu tận chin tầng trời.


Nghĩ lại trên khắp đất nước này còn biết bao gia đình hiến dâng cho Tổ quốc máu xương, tiền của vẫn bị hàm oan, đâu chỉ có riêng gia đình mình, tôi mới cảm thấy an lòng. Thì đấy, bà Gạo, thầy giáo Khôi chả là tấm gương tày liếp phải dò đâu xa? Tôi dỗ dành mẹ, cố bón cho bà chút nước, nhưng hai hàm răng bà vẫn nghiến chặt.


Bà con làng xóm đổ sang mỗi người một câu sẻ chia an ủi, động viên. Một bà lão bảo mẹ tôi, thím Hiệp này, gì thì gì cũng phải sống để trông cái giọt máu của nó giao lại cho mình, hồ dễ quên được? Nghe nói đến giọt máu nó giao lại cho mình, nước mặt mẹ tôi ứa ra khỏi hai tròng con mắt. Thần sắc bắt đầu hồi lại. Gián về. Em ngồi phủ phục bên mẹ. Em tức tưởi. Mẹ ơi con về đây, Bần của mẹ đây. Em cầm bàn tay mẹ đặt lên bụng mình. Mẹ không nghe cháu gọi bà nội đó sao? Mẹ tôi ngồi dậy ôm gọn em vào lòng. Mẹ hiểu, mẹ hiểu. Con của mẹ, Gián ơi, ráng chịu con nhé? Đời mẹ đã trải nỗi đau ly biệt, mẹ biết mà con. Mẹ dịu dàng chia sẻ. Như bát nước nóng nguội dần, mẹ tôi cố gượng dậy. Mẹ con Vược tự sắc thuốc và chăm sóc bà không để tôi phải lo. Không ai có thể làm được điều đó nếu không xuất phát từ một tấm lòng nhân ái giữa con người đối với con người.Tôi cho đó là ngày trọng đại nhất của gia đình tôi.


Những ngày mẹ tôi ngã bệnh, bà con trong xóm ngoài làng thay nhau thăm hỏi. Ba cặp vợ chồng thương binh Phóng-Vĩ, Mận-Ngữ, Lam Tình-Phú thay nhau ở lại để có tiếng người thân với gia đình chúng tôi. Đại uý, Bí thư Đảng uỷ Sao, thường cùng với vợ đến thăm mẹ tôi vào buổi chiều. Bao giờ họ cũng mang theo hoa quả và lọ vừng rang lẫn với lạc thơm phức, đó là món ăm mẹ tôi thích nhất. Chín và Thơ đem cu Ngọc Được và cún em sang bà. Ngọc Được sà và lòng bà nó bảo, ba Chín nó sợ bà ốm phải cho nó sang chăm bà, bao giờ bà khoẻ nó mới về. Nhất định nó đòi bằng được ngủ với bà còn sờ ti bà cơ.


Không hiểu sao lúc này tôi lại nghĩ đến tai vạ, thật là khủng khiếp, nếu lần này xảy ra thì tai vạ đổ xuống đầu tôi là cái chắc. Bọn phản động ám sát cậu Lợi để trả thù hai em Thêm và Thắt, có thể chúng sẽ hành động trả thù tôi đã phá án Một và Năm mà chúng đang hí hửng đập tan đội tàu vận tải đường sông do Chính chỉ huy.Trong khi ấy thì thanh tra Đỡ vẫn đinh ninh Thêm và Thắt vẫn bất mãn ngấm ngầm hoạt động chống lại chính quyền làng Quan Nhân. Không chỉ có thế, mà món nợ tôi chặt đầu ngón trỏ phải của tên mạt hạng ấy vẫn là mối hiểm nguy đối với tôi có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Tôi lại thèm được làm một việc gì đấy cho những kẻ khinh miệt mình biết mặt con này, bản ngã tôi thế, không cam chịu, nhưng anh Vệ bảo, việc đó tôi không phải bận tâm.


Vãn chiều hôm ấy đại diện quân dân chính làng Quan Nhân đến chia buồn với chúng tôi. Mắt Bọc nhìn chằm chằm vào bức ảnh em tôi đặt trên bàn thờ không nói gì để lắng nghe âm thanh từ mọi góc dội về để rạch ròi ra, âm thanh nào đậm sắc màu chân, thiện. Bấy giờ tôi mới hiểu. Bọc đã lún sâu vào vết xe đổ, nhưng không biết dừng lại, đúng như mẹ tôi nói với bà Giáo, thằng này không được dạy dỗ, không khéo nó đào mồ cuốc mả cha ông lên cho mà xem. Cắm lân la đến cầu thân hỏi chuyện Gián chuẩn bị cho bé ra đời thế nào và có cần Hợp tác xã Nông nghiệp làng Quan Nhân giúp đỡ gì không, em xua tay bảo, anh tự hỏi anh, còn gia đình tôi không bao giờ nghĩ đến điều đó cả. Nâng đến sau, cô ta đến bên mẹ tôi sẽ sọt bảo, một con ngưạ đau cả tàu chê cỏ, được tin em Bần hy sinh, chúng cháu bàng hoàng hết cả người, không thể ngờ nỗi đau thương này lại rơi vào gia đình mình, thôi mà bác, bác phải gắng lên để lo cho đứa bế ra đời, bác mà đổ là cả gia đình không trụ được đâu. Cháu xin bác! Mẹ tôi nghĩ, các cụ ta bảo, không được ăn thịt ăn xôi cũng được lời nói cho nguôi tấm lòng, bà vui vẻ bảo Nâng, tôi hiểu tấm lòng cô đối với chúng tôi thật quý giá, tôi không quên điều này đâu. Khi họ ra về thì bà lão hàng xóm nói ngay, nghe mồm con đĩ chỉ có mà đổ thóc giống ra mà ăn.


*


Bọc là con người như thế nào? Câu hỏi ấy ập về dằn vặt khiến tôi bất ổn. Tôi không thể lý giải nổi ư, không đúng, nhưng điều đáng nói là lý giải để làm gì? Hôm ấy nếu không gặp Choảng có lẽ tôi đã không nghĩ đến con người này nữa.

Một Chủ tịch xã bụng quá khổ một chút, giọng nói khàn đục, nhưng đôi chân thì guột như đôi ống sậy, chứng tỏ một thân thể phát triển không cân đối do lối sống buông thả lấy rượu làm lẽ sống thường nhật. Bộ mặt lạnh tanh, bước đi khệnh khạng, nhưng không bỏ sót bất cứ việc gì trong căn phòng làm việc bề bộn giấy tờ và các thứ hầm bà làng chồng lộn lên nhau và con dấu. Biểu thị cảm xúc nhất đối với Bọc là hai tấm bằng Tổ quốc ghi công của bố mẹ và những thứ nhà nước tặng cho những người đã anh dũng hi sinh vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc.

Bọc sống bằng các khoản những ai thích tôn thờ và tự nguyện cung phụng. Đó là nguồn kiếm sống hàng ngày của người đứng đầu một làng quê lấy độc canh cây lúa làm chủ đạo. Tuy nhiên, cũng phải nói, đã một thời ngành nghề mở ra, nhưng chưa được bao lâu đã bị cụt hết vốn bởi cơ chế sẵn của tập thể cứ việc họp, cứ việc tiệc tùng xả láng và của chùa cứ việc phóng tay vung vãi, kết cục kinh doanh quay lại số mo.


Dưới trướng Bọc là những kẻ, ăn theo nói leo, trên bảo rằm cũng ư, mười tư cũng gật, không quan tâm đến những vấn đề sống còn của dân là nồi cơm và manh áo. Dưới con mắt Đội trưởng Đa, Bọc vẫn là người đủ tài, đủ đức để Đảng giới thiệu nhân dân bầu vào cơ quan cao nhất làng Quan Nhân bởi cha mẹ Bọc là liệt sỹ đã hy sinh vì Tổ quốc. Đăng quang một khoá rồi, nếu tái đắc cử khoá này nữa Bọc hy vọng sẽ được đôn lên huyện nắm giữ một thứ quyền lực nào đấy cho đến khi cầm cuốn sổ lương sống đời như tất cả mọi người ở tổng Mao Điền. Bọc được mặt trận giới thiệu ứng cử một nhiệm kỳ mới.


Tôi lại đi bầu Bọc vào cơ quan quyền lực nhất làng Quan Nhân. Tôi nghĩ sẽ không có sự thay đổi nào hết, một khi Chi bộ đã giới thiệu Bọc thì Bọc phải đắc cử trăm phần trăm. Không thể ngờ người làng Quan Nhân lại chọn lựa người họ tin cậy xứng đáng nhất để bầu không phải là Bọc. Bọc thất bại trở về với con người thật của mình, không cần phải khám phá làm gì cho mất công. Bọc vẫn còn chút liêm sỉ, thế là mừng. Và, một khi biết mình đứng trên bờ vực thẳm, Bọc đã nhìn ra con đường sống tự lập. Bà con người làng Quan Nhân bảo, thằng Bọc không biết đường tu nhân tích đức chẳng qua là tại thằng Choảng, con Tổng Choảnh và Đội trưởng Đa mà ra cả. Bây giờ nó thất thế, mình cũng phải lượng thứ, dù sao bố mẹ nó cũng là liệt sỹ có công lao đối với Tổ quốc, không thể bỏ được. Đánh kẻ chạy đi chứ không đánh người trở lại.


Đại uý, Bí thư Đảng uỷ Sao giao cho Bọc dựng gánh hát do Ngận làm đội trưởng mua vui cho bà con sau giờ lao động mệt mỏi. Người ca giọng quan họ, kẻ gõ trống, khua phèng, Bọc được cái có giọng hát ngọt lên sân khấu cũng tàm tạm được, cây nhà lá vườn mà. Cũng là một thứ nghề, cứ luyện cho thật khéo, múa may cho thật uyển chuyển, ắt gaí có công chồng chẳng phụ. Làng Quan Nhân từ cổ chí kim bây giờ mới có gánh hát.


Đã có năm trường hợp như trường hợp Bọc bị nhân dân đào thải, trong đó cả năm trường hợp không được xét tiêu chuẩn cán bộ xã nghỉ công tác.Thực ra chuyện này không liên quan đến câu chuyện kể dưới đây, nhưng thấy cần cẩn báo quý vị, tôi mạn phép.


Nâng lên làm Chủ tịch xã. Nô thay Nâng là Chủ nhiệm Hợp tác xã Nông nghiệp làng Quan Nhân. Đỡ, Chánh Thanh tra huyện bố trí cho Nâng, chị gái mình gặp Chủ tịch huyện. Sau cuộc gặp ấy, Nâng thở phào nhẹ nhõm vì mọi việc đều trôi chảy. Chủ tịch huyện đồng ý cho Nâng khoản kinh phí xây dựng vùng lúa cao sản lên hai mươi héc-ta, cung cấp giống mới cho huyện mở rộng thâm canh tăng năng suất, phấn đấu đạt mười tấn một héc-ta hai vụ lúa.


Nâng gặp Trạm trưởng Trạm giống lúa huyện. Cô ngồi xuống cái ghế bành đối diện với Trạm trưởng vui vẻ thông báo huyện sẽ chuyển toàn bộ số tiền thóc giống của hợp tác xã Nông nghiệp làng Quan Nhân về Trạm, trạm chịu trách nhiệm cung ứng đúng số lượng và đảm bảo chất lượng hạt giống. Trạm trưởng, một gã rất sành về việc kinh chuyển thế nào chi phí ít nhất, nghĩa là bất cứ giá nào lợi nhuận cũng phải ba trăm phần trăm bởi phải tính cho đủ phép tính chia ba.Trạm trưởng trạm giống lúa huyện sau khi liên hệ được với Nâng đã ngầm báo cho cô biết cô sẽ được gì trong tấn trò này.


Việc giống má Nâng giao cho Nô, Chủ nhiệm lo toan, nhưng khi thanh toán tay ba: Huyện, Trạm giống lúa huyện và Hợp tác xã Nông nghiệp thì Nâng phải là người có trách nhiệm đứng ra mới xuôi chèo mát mái. Vụ lúa năm ấy, Hợp tác xã Nông nghiệp làng Quan Nhân gieo mười tấn giống lúa cao sản, không biết tại sao lại mọc nhiều loại lúa khác nhau, có loại cao vống lên, có loại lại lùn tịt cấy ba tháng chó chạy còn hở đuôi, không đẻ nhánh được. Không những giống lúa bị pha tạp mà thuốc trừ cỏ còn bị giả. Nô báo cáo Nâng, bón thuốc trừ cỏ cho lúa, không những cỏ không chết mà cỏ còn mọc cao hơn lúa. Trạm giống lúa đổ cho hợp tác xã làm không đúng quy trình kỹ thuật. Hợp tác xã đổ cho Trạm cung cấp giống lẫn không đảm bảo chất lượng vân vân và vân vân. Đục đánh chạm, chạm đục đánh cãi lộn nhau, huyện không giải quyết được hai bên phải ra toà. Chỉ có làng Quan Nhân gánh chịu tất hậu quả. Cả làng đói nhăn.


Đêm hôm ấy trên Đài truyền thanh huyện, giọng cô phát thanh doanh đặc biệt này. Ông ta biết thu gom ở chỗ giá hời nhất và vận viên õng ẹo loan báo, bài học thất bại ở vùng giống Quan Nhân bắt đầu từ phép tính chia, chia mấy, hẳn chia đôi, không được rồi, mà phải chia ba. Một câu hỏi đặt ra, vậy thì đáp số cuối cùng thuộc về ai? Sáng hôm sau, từ lão Trưởng Đài đến cô phát thah viên được triệu hồi về huyện làm kiểm thảo. Phó Trưởng Ban Tuyên huấn được điều sang tạm quyền. Chủ tịch huyện cau có bảo, nuôi ong tay áo, mình chu cấp cho nó mọi thứ để nó xỏ mình, diệt phải diệt từ khi nó còn trong trứng.


Thành thực mà nói, những người đương chốn công đường, đã mấy ai chuẩn bị cho mình lúc thoái lui? Và, như vậy thì đều không tránh khỏi lật đật. Không ai làm quan suốt đời, hưởng lộc suốt đời. Kẻ thức thời mới là kẻ tuấn kiệt, chuẩn bị cho mình hậu hưu bao giờ cũng đúng đắn nhất về mọi phương diện.


Khi Bí thư Huyện uỷ hỏi về vấn đề đầu tư ngân sách cho vùng lúa cao sản làng Quan Nhân, Chủ tịch huyện lựa lời giãi bày rồi mọi chuyện lại qua đi như tiếng loa làng Quan Nhân báo máy bay địch đã đi xa mọi sinh hoạt trở lại bình thường. Tôi không thể nghĩ nên gác chuyện này sang một bên được mà phải nói lại cho dân làng Quan Nhân biết họ đau khổ vì ai? Kẻ gây ra nỗi đau khổ cho dân làng Quan Nhân phải mổ xẻ ra để chúng phải chịu trách nhiệm về những tai ương mà người lương thiện đang phải gánh chịu. Nhưng bão tố qua đi, sau cơn mưa đền cây, trời trở lại quang đãng. Mọi chuyện lại đâu vào đấy, cũng như bãi phân trâu để lâu hoá bùn vây. Và, tôi hiểu ra một điều rất đơn giản là một khi người ta thực hiện phương án lên phép tính chia ba thì chẳng bao giờ có những hạt giống tốt tỷ lệ nảy mầm cao, cây phát triển nhanh và tốt như chúng ta hằng mong muốn.


Người làng Quan Nhân có câu nói cửa miệng thế này: hạt thóc có mắt. Không hiểu sao chính người làng Quan Nhân lại không luận ra mắt hạt thóc nó ở chỗ nào và nó có nhìn thấu con người gieo hạt?


*


Thật như một nhát dao đâm vào mạng sườn, tôi đau đớn khi biết Gián động thai, em nằm liệt trên giường bệnh cắn răng chịu đựng. Tôi thật sự lo cho em không giữ được cái thai trong bụng. Mẹ tôi và Vược quýnh lên, hai bà thông gia chạy mời các thầy lang cao tay chữa bệnh phụ sản, nhưng lúc ấy cứ như gà mắc tóc. Bỗng sực nhớ đến ông Bổn, lập tức tôi lao đi. Phúc gia đình tôi còn rất lớn. Ông Bổn có nhà. Nghe tôi kể sự tình bi đát của Gián, ông vào thưa nhà sư và khẩn thiết kêu gọi lòng từ bi bác ái của nhà Phật.


Gián được cứu chữa. Thai nhi khoẻ. Cả nhà chúng tôi như trút được gánh nặng nguy hiểm. Thế là mọi người hùn sức chuẩn bị cho ngày thiên thần bé nhỏ của chúng tôi cất tiếng khóc chào đời. Mẹ tôi và Vược tất bật lo những thứ cần thiết với những kinh nghiệm của những người từng trải cho em. Gián được động viên an ủi đỡ tủi, em không còn tư lự nhọc nhằn như mấy hôm trước.Trên gương mặt đôn hậu thoảng hiện nét tươi mỗi khi em đặt bàn tay lên bụng, cu của mẹ nói gì mẹ đấy, em khích lệ để hai mẹ vui. Ngôi nhà nhỏ bé lọt thỏm trong luỹ tre vang lên tiếng cười hân hoan thơ trẻ.


Tin tức về bố Phúc “hảo hán” cũng là điều đặc biệt tôi quan tâm. Đã đằng đẵng mấy tháng trời mong mỏi, lòng dạ tôi không lúc nào yên. Lắm lúc thơ thẩn, tôi nghĩ bố đang ở trong nhà, vội chạy về. Không gian tĩnh lặng khiến trái tim bệnh của tôi lại đập nhanh và đau nhói phia bên trái. Tôi sợ bị bệnh mạch vành có thể bất đắc kỳ tử lúc nào, có khi không kịp đón bố trong vòng âu yếm. Mẹ thấu hiểu nỗi lòng con gái, bà lại an ủi tôi. Bà bảo, linh tính mách bảo, ngày nhà ta sum họp đang đến gần, nhưng thời gian cứ thế trôi đi theo quy luật muôn đời của nó, hết tháng rồi qua năm, vết thương lòng lại bắt đầu rỉ máu.



Chương 45


Không hiểu sao cặm cụi từ sáng đến tối chẫm mà Mận vẫn ăn ngon, ngủ kỹ, chẳng mệt mỏi gì sất mà chỉ thấy người khoẻ ra. Sợ vợ vất vả, Ngữ đưa tay vào miệng rồi nhắm mắt lại ra hiệu bảo vợ phải ăn, phải ngủ kẻo ốm. Mận cười hềnh hệch cầm tay chồng đặt lên cái bụng nhum nhủm rồi hôn Ngữ một cái lâu hơn mọi khi. Ngữ lấy cái gối kẹp vào nách ra hiệu bảo vợ lo giữ gìn sức khoẻ cho con sau này. Nhưng khi Mận chỉ tay lên mái nhà rồi lại chỉ tay vào làng Quan Nhân, em ám chỉ, người ta dỡ nhà thì Ngữ khùng lên. Ngữ đập tay liền ba cái vào trái tim rồi khoa hai tay chỉ vào làng Quan Nhân ra hiệu nhà này là của tôi sao lại dỡ đi? Mận đeo cái túi xách vào vai chỉ tay về làng Quan Nhân ra hiệu cán bộ làng Quan Nhân bắt phải dỡ. Ngữ trợn mắt nhìn Mận. Mận đưa cho Ngữ xem quyết định giao sông Cửa Rãnh cho nhà dầu tư có mấy cái triện áp đỏ chói. Ngữ xé nát tờ quyết định rồi giơ tay chém vào không trung, lắc đầu ý bảo không được. Mận chỉ những mảnh vụn tờ quyết định bị xé nát, chắp hai bàn tay vào nhau ra hiệu cán bộ sẽ khoá tay cho vào tù. Ngữ chỉ tay vào bụng vợ gầm lên như con thú bị trọng thương rồi vật ra đất bất tỉnh. Một lát sau, bỗng Ngữ bật dậy, mồ hôi toát ra như tắm, chằm chằm nhìn vợ, quát: Con tôi, con tôi? Rồi Ngữ đổ xuống hai hàm răng cắn chặt bọt rãi xầu hai bên mép. Mận ôm lấy chồng oà khóc nức nở. Anh Ngữ. Anh Ngữ không được bỏ em, không được bỏ em. Mận kêu thống thiết. Bỗng trời đổi gió. Sấm chớp kéo đến ầm ầm. Có lẽ tiếng sét rạch ngang nền trời quật xuống ngôi nhà lợp rạ ở mom sông Cửa Rãnh đã thức tỉnh cơn mê muội của người thương binh câm. Mận. Mận. Con đâu, con đâu? Mận kinh hoàng nghĩ đó là tiếng ma quái nhập vào chồng, em thất thần co rúm người lại rồi bất tỉnh. Ngữ nâng vợ dậy đặt em vào giường, lay gọi, Mận ơi, em có nghe anh nói không, có nghe anh nói không? Ngữ vừa lay gọi vợ vừa khóc, tiếng khóc của người lính câm bật lên từ trái tim nhân hậu.


Người ta nói Thiên vô mục, nhưng tôi lại nghĩ Trời có mắt.Trời có mắt, thấu nhìn nỗi đau mất sông Cửa Rãnh tiệt kế sinh nhai của đôi vợ chồng người thương binh câm mới sai ông Thiên Lôi xuống trả lại tiếng nói cho Ngữ. Nhân dân làng Quan Nhân mừng hạnh phúc cho họ, ai cũng nói như thế, bởi bà con tin cõi tâm linh, ở hiền gặp lành.


Vợ chồng Ngữ vào nhà Chiến thắng, nơi mà đáng ra người thương binh câm phải được tôn trọng vì anh đã đổ máu cho chiến thắng vĩ đại của dân tộc, nhưng người đứng đầu xã, bà Chủ tịch Nâng nói rằng, anh thuộc diện giải toả, làng Quan Nhân sẽ cấp cho anh một xuất đất để anh xây nhà. Số tiền được đền bù đắp tất vào đất đã không đủ, lấy tiền đâu làm nhà? Ngữ vặc lại. Đấy là việc của gia đình anh, chính quyền chúng tôi không thể can thiệp. Chủ tịch xã nói. Mận bảo, tôi có cần người ta đền bù để lấy chỗ tôi đang sống đâu, dẫu ở đấy sống cực nhọc mấy chăng nữa vẫn là chỗ sống đã ổn định và sẽ mãi mãi ổn định.


Trên đời này mà tồn tại người giàu và kẻ nghèo thì người giàu có thể làm bất cứ việc gì họ muốn, thậm chí họ làm cả việc ác, kẻ nghèo cũng không có lý do nào để tự bảo vệ. Người giàu luôn luôn có người thế lực đứng sau. Chủ tịch xã đứng sau nhà đầu tư thì chẳng bao giờ có tiếng nói trung thực.


Ngữ không dời nhà đi nơi khác, người ta đưa lệnh cưỡng chế ra đồng thời với những tay súng thi hành lệnh cưỡng chế. Ngữ bảo vợ, anh đã từng chọi với một trung đội lính Mỹ, nhưng ở đây, anh không thể cưỡng được một tên mang danh nhà đầu tư. Em yên tâm đi. Anh còn những người lính Cụ Hồ, không chết được đâu, em yên trí theo anh.


Người vợ theo chồng, đi mãi đi mãi đến khi sinh ra một thằng cún như một con mèo hen, da đỏ quạch, đầu lúc nào cũng ngúc ngoắc như con lật đật. Mấy ông bác sỹ khám bệnh kê toa thuốc cho bé những vị thuốc chống nhiễm chất độc da cam. Bố mẹ bé không hiểu bệnh da cam là bệnh gì. Đời kỵ, đời cụ, đời ông, đời cha, năm đời truyền nối không một ai mắc chứng đó, sao lại nói bé mắc bệnh di truyền? Tôi biết nói gì, biết làm gì giúp ích cho vợ chồng người thương binh ấy dù chỉ là mỗi bơ gạo như bơ gạo cứu đói năm xưa?


Tôi chợt nghĩ đến Phóng và Lâm Tình. Phóng ra nhà thương huyện, nghe nói trở dạ hai hôm nay rồi không biết sinh con trai hay con gái, còn Lâm Tình thì lên Hà Nội nhờ người chị gái làm y tá ở Bệnh viện Bạch Mai. Chúng mẹ tròn con vuông về thì phúc, nhỡ ra có chuyện không may như Mận thì khổ thân quá. Không nghĩ thì thôi mà đã nghĩ đến chúng nó, tôi lại cảm thấy điều gì đó bất an.


Thật khủng khiếp. Tôi không thể tưởng được. Phóng và Lâm Tình đều sinh con trai, nhưng cả hai bé đều bị dị tật không hoàn chỉnh kiếp người như bé của Mận. Bấy giờ tôi mới nhớ ra, chồng chúng nó chiến đấu ở một chiến trường bị giặc Mỹ rải chất độc làm chết hết cây cối, có lẽ cả ba ông tướng đều bị nhiễm thứ chất độc đó để lại di chứng cho con mình. Những người lính Cụ Hồ ở làng Quan Nhân, thương đời lính với nhau, nhưng không có đồng tiền bát gạo nói không nặng cái cán cân, khổ vậy.


Bà Chủ tịch xã mở rộng cánh cổng cho xe mẹ, xe con ba chấm, bốn chấm lao vào tận sân, phòng bọn trẻ con nghich giặc vẽ bậy, viết bậy. Hôm ấy mới sáng ra, chiếc xe màu én bạc đã từ từ lăn bánh vào sân nhà Chủ tịch Nâng. Người lái xe nhanh chóng bước xuống mở cửa xe cúi đầu chào sếp. Chủ nhà mặt tươi rói chạy tới chộp lấy bàn tay khách hoan hỉ. Anh Tạng. Em vừa nghĩ đến anh thì anh đã có mặt. Anh thiêng thật đấy. Nâng bậc miệng biết mình hớ. Em xin lỗi. Nâng nói. Nhiều đối tác cũng bảo tôi thiêng chứ không riêng em. Chủ lẫn khách mới chỉ gặp nhau lần đầu, qua mấy phút giao đãi đã có sự đồng cảm. Nâng đon đả mời khách uống ly rượu vang Pháp, ăn một chút hoa quả rồi cả chủ lẫn khách bon tới sông Cửa Rãnh. Nhà đầu tư Tạng chỉ tay về phía ngôi nhà vợ chồng người thương binh câm hỏi, họ thắc mắc gì nữa, đối với họ thì không cần nói nhiều, hãy để tiền nó nói. Em hiểu không, tiền không mua được thì mua bằng nhiều tiền, nhiều tiền không mua được thì mua bằng rất nhiều tiền, có thế thôi, mua được hết! Chiếc xe màu ánh bạc quay lại xã. Đại diện quân dân chính đảng đã có mặt đông đủ trước nhà Chiến Thắng đón vị khách khả kính vào bậc nhất.


Nhà Chiến Thắng kẹt những khuôn mặt đỏ phừng chúc tụng những lời tốt đẹp, những người lương thiện ở làng Quan Nhân trông vào, họ đều hiểu rằng, đó là thời khắc dự án sông Cửa Rãnh đã an bài không thể khác.


Đau khổ đâu mỗi mình Ngữ chịu mà cả lũ dân chuyên nghề đăng đọn thuộc Đội đánh bắt và chế biến hải thuỷ sản của Hợp tác xã Nông nghiệp làng Quan Nhân. Không còn chỗ cắm hàng cọc cài những lá phướt, phải bỏ thuyền, bỏ lưới hai bàn tay trắng, họ quay về nơi xuất phát điểm “tám thước ruộng mỗi khẩu.” Ngữ càng xót xa, đau đớn. Họ không muốn thế, nhưng những người ra quyết định giao sông Cửa Rãnh cho nhà đầu tư nuôi cá dâng vua, một vốn bốn lời, gạt họ sang bên kia bờ vực khổ. Hợp tác xã mất nguồn thu lớn lại lâm vào con đường “tái” độc canh cây lúa, tay không đủ vày lỗ miệng đồng cảnh với vợ chồng Ngữ, không thương lấy nhau thì ai thương vào đấy?


Những người đàn bà học cày bây giờ phải gồng mình lên nuôi những đức ông chồng nông dân cày ruộng trên nước để họ rểnh rang khoanh chân trên chiếu bạc sát phạt nhau thâu đêm suốt sáng, bởi việc đồng áng không phải mó tới thì phải bới việc ra làm, nếu không, lại lâm vào tình trạng nhàn cư vi bất thiện để rồi vào nhà đá ngồi bóc lịch. Con sông Cửa Rãnh mất từ đấy. Bây giờ nó chỉ còn là hoài niệm của lớp người như tôi bị quân xâm lược Pháp chặt đầu bêu giữa chợ.

Người làng Quan Nhân kháo nhau, đúng như các cụ ta nói, một người làm quan cả làng được cậy, không sai. Đỡ được bổ nhiệm chức Chủ tịch huyện. Thấy nhiều nơi lãnh đạo giải chiếu hoa mời các nhà đầu tư, Chủ tịch huyện bức xúc. Trong lúc anh cấn cái, Dậy sang chơi. Anh than phiền một số nhà đầu tư đến rồi họ bỏ cuộc chơi. Dậy bảo, em có thằng bạn nối khố có ý đồ đến huyện ta đầu tư sân golf, anh xem có khu đất nào ngon, có thể cấp phép thì em gọi nó ra. Đỡ hỏi, nó ở đâu, tên là gì? Thằng Năm, anh quên nó rồi sao? À, à, tôi nhớ ra rồi. Chú bảo chú ấy ra ngay đi. Dậy điện vào cho Năm, nhưng chưa biết hay dở thế nào, Năm chỉ gửi dự án cho Dậy. Năm dặn, cậu đưa dự án cho anh Đỡ xem trước, nếu thấy ngam ngám, cậu điện cho mình ngay, mình sẽ ra.

Dậy đưa bản dự án sân golf của Năm cho chị dâu. Chị dâu mừng rơn. Chồng về, thị đưa lại và bảo, ông trả lời ngay người ta. Mất cơ hội này, xem như ông tuột xích. Đỡ xem qua rồi sai người giúp việc điện mời Nam ra. Nhà đầu tư ra gặp Đỡ. Đỡ đưa nhà đầu tư về ngay làng Quan Nhân. Đỡ hớn hở khoe, khu đất này ngon cực. Ông có thể gom tất cả dân làng này làm đầy tớ cho ông. Sướng chưa? Đỡ vỗ vai Năm nói. Hôm sau, Năm đưa thầy địa lý xem phong thuỷ khu đất định xây dự án sân golf. Thầy địa lý phán: Đất này hợp long, đất phát, ông phải động thổ trước khi ông bước sang tuổi Tuất.

Nhà đầu tư này thuộc loại kỳ phùng địch thủ. Dáng người đậm, mặt choắt tai rơi, giọng the thé. Cũng như nhà đầu tư Dự án sông Cửa Rãnh, ông ta đến nhà Đỡ vào lúc hai mươi ba giờ, mọi người đã ngon giấc. Đó là thời khắc cốt tử mà nhà đầu tư chọn theo sách Con Cáo Biết Nói của nhà chiêm tinh học. Là một nhà đầu tư có sạn trong đầu, Năm biết đây là vùng đất thiên thời, địa lợi, nhân hoà. Lần đầu tiên, Năm nhìn thấy chín tầng dầy của đất. Năm sẽ đem lại cho dân làng Quan Nhân hạnh phúc là họ được chung sống với sân golf. Nhưng Năm vẫn là người đến sau, không thể nói được câu nói bất hủ như nhà đầu tư sông Cửa Rãnh: Tiền không mua được thì mua bằng nhiều tiền, nhiều tiền không mua được thì mua bằng rất nhiều tiền, có thể thôi, mua được tất. Và, thực tế họ đã mua được hết.

Tiếng còi xe như tiếng sét lạnh. Chiếc xe đen bóng xịch lại. Người lái xe xuống mở cửa, một quan chức bụng phệ mặc bộ com-lê đen, cổ thắt lơ tiến thẳng vào nhà Chiến Thắng. Pháo tay vang lên như sấm. Mấy đứa trẻ quần áo rách rưới chỉ trỏ vị khách quý của làng Quan Nhân. Lão lái xe lừ lừ nhìn chúng. Cút. Cút. Lũ trẻ chạy tán loạn. Bay ơi, ông ấy vẽ lại bản đồ làng ta, về thôi, ông ấy mà quay lại thì bỏ bố.

Hai ông già ngồi trong cái quán dưới gốc đa đầu làng hóng chuyện. Ông già chột mắt hỏi, ông không hiểu như? Không. Ông già có chòm râu bạc trả lời bạn. Vậy, uống, uống đi, uống cho đã để quên mẹ nó sự đời. Ông già chột mắt giật chai rượu trong tay bà chủ quán rót đầy be. Hai ông chuốc rượu nhau tâm sự. Mình chỉ là người được giao quyền sử dụng chứ không phải ruộng của ông cha mình để lại, ông hiểu chưa? Người ta lấy ruộng là quyền của người ta, mình không thể cưỡng được. Lý thuộc về người ta, ông hiểu không, mình chỉ có cái lý nghe người ta nói và cấm không được cãi. Ông già chột mắt lải nhải. Sao ông giời còn thương hại cái thân tôi làm gì mà không chọc luôn cái mắt này cho đui hẳn để khỏi phải trông thấy người ta lấp sông Cửa Rãnh? Làng Quan Nhân này mang hàm ơn con sông đã từ bao đời, ông có hiểu không? Ông còn cả hai con mắt mà chẳng biết cái quái gì, cả bà bán cái say này nữa, cũng chẳng biết cái quái gì, người ta đang vẽ lại bản đồ làng Quan Nhân. Hu, hu. Ông già ôm mặt khóc.


Tôi xin bà chủ quán bát nước chè xanh. Con chào hai ông. Tôi cúi chào hai vị cha bác. Ngước con mắt hom hem lên, ông già chột mắt chỉ à lên một tiếng. Ong già râu bạc chỉ tay ra hiệu tôi ngồi xuống cái chõng tre bên cạnh, hất hàm nói. Chị chẳng biết cái quái gì, người ta lấp xong sông Cửa Rãnh rồi tiếp tục phá làng Quan Nhân mà chị chẳng biết cái quái gì. Bỗng ông già chột mắt đứng phắt dậy móc túi lấy tờ giấy bạc hai ngàn đưa cho bà chủ quán. Ông khật khưỡng bảo.Thiếu bà chị năm trăm, mai thằng em này có tiền đền bù đất xin hoàn trả bà chị. Bà chị yên trí, thằng em này có tiền triệu cược vào cái quán của bà chị để uống rọợu dần. Ha, ha, ha. Ông già có chòm râu bạc vịn vào vai người bạn già.


Bà chủ quán bao thằng cún Bần giống bố như hai giọt nứớc, đúng là giỏ nhà ai quai nhà ấy. Bà Nhã có lên giúp con dâu hay cho mẹ con nó về Quan Nhân? Dạ, mẹ cháu lên trên ấy với mẹ con Gián. Tôi nói. Thế là phải, bên ngoại có điều kiện cho mẹ con nó cậy, không gì bằng. Tôi bưng bát nước chè xanh chiêu từng ngụm. Bà chủ quán ghé sát tai tôi bảo. Hai lão này nằm trong diện giải toả, nghe đâu được đền bù những mười hai triệu một sào, ruộng nhà lão thuộc hạng thượng đẳng điền đấy. Tiền hết rồi biết làm gì ăn bây giờ. Hai lão ấy ngày nào cũng khướt thế, biết vậy, nhưng không bán, các lão chửi vỗ mặt, chả dại, say chết, kệ hoét các lão. Bà chủ quán ra đò mình là người nắm bắt nhiều thông tin quan trọng, nói. Tôi nói, cô bỏ ngoài tai, chớ môi hở răng lạnh là chết đấy, làng Quan Nhân sắp bị lấy sạch trơn ruộng rồi. Chỉ nay mai, bà Chủ tịch ký là xong. Người ta bảo sẽ đưa đám thanh niên vào trường học nghề golf, sau này ra làm công làm việc ngay tại làng, không phải đi đâu xa, khỏi chân lấm tay bùn, thế cũng sướng cái thân phải không cô? Ngừng một lát, bà buông tiếng thở dài, liệu có phải đấy là miếng bánh vẽ không hở cô?


Tôi nghe chỉ để bụng, không dám môi hở răng lạnh như lời bà chủ quán dặn, nhưng khi về đến nhà mới vỡ toé loe ra, không phải như lời bà chủ quán nói mà, sau khi bà Chủ tịch bàn giao mặt bằng xong, người làng Quan Nhân đã nhận hết trăm phần trăm tiền đền bù bởi làng mình mang danh một làng "Trung, Tín, Nghĩa" phải làm gương cho các làng khác noi theo. Bắt đầu tự vụ này nông dân làng Quan Nhân không phải cày cấy gì nữa gạo chợ nước sông, chẳng lo cái quái gì.


Người nông dân làng Quan Nhân chỉ là đối tượng bị thu hồi đất, chứ không phải đối tượng họ phải lo để phát triển kinh tế xã hội. Biết đâu trong tay có tiền bán đất sẽ loạn từ trong nhà loạn ra. Và, một khi trở về với hai bàn tay trắng không còn chỗ đất cắm dùi, họ sẽ sống ra sao? Ai biết điều khốn khổ sẽ không thể xảy ra?


Điều quan tâm nhất đối với tôi bấy giờ là ba đứa bé tật nguyền, con ba ông tướng thương binh. Tôi dẹp bỏ tất cả mọi thứ đồ đạc, lấy chỗ cho chúng về chung sống với người đàn bà bất hạnh trong quãng đời còn lại để cha mẹ chúng rảnh tay lo cuộc sống mới ở một làng quê bước sang giai đoạn hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn.


Đại uý, Bí thư Đảng uỷ Sao giọng sang sảng nói, làng Quan Nhân ta có cả thảy trăm người xung phong giết giặc, chín mươi chín người đã được tôn vinh? Phải dựng tượng đài thật hoành tráng.

Ôi cái màu trắng, tại sao nó lại do bẩy sắc màu hợp lại nhỉ?


Làng Quỳnh Biểu – Một Mùa Đông khắc nghiệt.



@.Cập nhật theo bản mới của tác giả chuyển từ QuảngNinh ngày 31.10.2017.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004