Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới



Xổ Số








X ưa nay ông lão Còng là người quen sống “khép kín”, cứ lặng lẽ như một cái bóng. Hàng ngày ông đi ra đi vào qua cái ngõ nhỏ của “xóm liều” mà hầu như không gây cho bất cứ ai một sự chú ý nào. Ông làm nghề gì không ai biết. Ông sống bằng gì không ai hay. Ông cứ thui thủi một thân một mình, không vợ con, không họ hàng thân thích. Ngay cả bạn bè hình như cũng không có nốt. Hàng xóm thấy ông lầm lỳ không thích chuyện trò nên cũng không giao tiếp. Chỉ có thằng bé Còi chừng mười một, mười hai tuổi ở sâu trong tận cùng xóm liều là thỉnh thoảng lại ghé vào nhà ông chơi. Không có tiền nộp học phí nên thằng Còi phải nghỉ học, chơi dài đã mấy tháng nay. Ông không tỏ ra vồn vã, cũng chẳng xua đuổi nó. Nhiều hôm hai ông cháu ngồi hàng giờ mà không nói câu nào. Ông thì lúi húi với cái bếp khói mù. Cháu thì nghịch cái ống điếu đã ngã sang màu bùn bóng nhẫy. Ngoài trời mưa phùn nhớp nhúa. Mỗi lần có ai đi qua là bùn đất lại bắn tung tóe lên cả cánh cửa bằng tôn rĩ nát. Ngoài cái chõng con với manh chiếu sờn thì trong nhà chẳng có cái gì gọi là của nã. À mà hình như có cái hộp sắt cũ to gấp đôi cái hộp mì ăn liền dùng đựng gạo thì phải. Cái hộp luôn đậy kín. Xem ra lũ chuột có thể tự do thoãi mái đột nhập vào đây, nhưng chúng cũng chẳng muốn vào đây làm gì vì khó kiếm cái ăn. Có thể nói đó là một xứ sở biệt lập, biệt lập ngay chỗ luôn xô bồ chen chúc!

Lão Còng tên thật là gì thì may ra chỉ có anh công an hộ khẩu biết. Quê quán lão ở đâu, họ hàng thân thích thế nào thì có lẽ anh hộ khẩu cũng chỉ biết chung chung, lờ mờ vì chưa có việc gì cần tìm hiểu kỷ. Lão đã ở đây khá lâu, từ cái hồi chiến tranh chống Mỹ, khi mọi người đi sơ tán lục tục kéo về. Thời ấy chỗ này là đất hoang, mọi người thoải mái xí phần cắm đất. Xa xưa thì đây là một cái hồ hay cái ao gì đó bị biến thành bãi đổ rác của thành phố. Rác lấp đầy, cỏ dại mọc lên, chỉ có rắn rết chuột bọ sinh sống. Những người sơ tán trở về vì lí do này khác mà mất chỗ ở đều chạy ra đây che lều dựng lán sống qua ngày. Lúc đầu chỉ là tạm bợ nhưng sau thành ra nơi cư trú lâu dài. Bây giờ thì hầu hết đều đã xây dựng kiên cố, cái còn là nhà cấp bốn, cái đã lên lầu. Chỉ còn mỗi nhà lão Còng là như cái lán tạm của bọn phu đào vàng nơi rừng xanh rú đỏ.

Một buổi chiều cuối xuân, trời mưa mờ mịt. Cữ này gió mùa đông bắc còn sót lại thường kèm theo mưa phùn ẩm ướt. Căn lều của lão Còng đậm đặc mùi ẩm mốc quyện với khói bếp và khói thuốc Lào đặc quánh. Thằng Còi vốn quen với không khí đặc biệt nơi đây vậy mà cũng thấy nghẹt thở, nhiều lần ho sặc sụa, nhiều lần nhấp nhổm định ra về. Hai ông cháu đã ngồi lặng yên dễ chừng đến bốn, năm tiếng rồi thì phải. Hôm nay lão Còi không đi đâu, phần vì đau xương đau mình, phần thì vì áo quần ướt ráo không còn cái để thay. Lão gom giấy vụn và đủ thứ linh tinh đốt lửa, vừa để sưởi vừa để hong áo quần. Thỉnh thoảng thằng Còi lại gần như buột miệng hỏi một câu gì đó. Lão Còng thường chỉ lắc đầu hoặc “ừ” một tiếng kéo dài ra như “gừ” rồi không nói gì thêm. Vậy mà lão Còng và thằng Còi hầu như vẫn hiểu ý nhau. Lão Còng lại lim dim nhìn vào cõi xa xăm. Thằng Còi lại mân mê cái điếu.

Bỗng nhiên có một cái đầu phụ nữ ló vào. Đó là cô Mơ, một người bán vé xổ số, nhà ở ngay trong ngõ. Cô Mơ còn khá trẻ, sống cùng con gái nhỏ. Nghe đâu chồng cô ấy là lái xe tải, không may gây tai nạn nên đang đi cải tạo. Cô Mơ cũng là một người nghèo khổ như lão nhưng may còn có cô con gái để có được niềm vui và còn mang nhiều hy vọng. Hàng ngày cô Mơ ngồi ngoài đầu ngõ, kê một cái bàn gấp di động và một cái ghế nhựa, chờ ai qua lại thì mời mua vé số. Vậy mà gần suốt buổi chiều nay cô cứ chịu ngồi lì dưới mưa hàng bốn năm tiếng vẫn không làm sao bán được hết số vé ít ỏi mà cô đã nhận. Sắp đến giờ trả lại vé thừa rồi nên cô nãy ra ý định đi mời hàng xóm mua giúp. Biết là ông lão hiếm khi mua vé số nhưng cô vẫn cứ liều mời xem, may ra được vé nào hay vé ấy.

Sau câu chào hỏi, cô Mơ vào nhà, chẳng biết ngồi đâu nên cứ đứng ngay ở cữa, vừa lóng ngóng vừa lắp bắp mời. Thấy cô gái đang rét run, lão Còng chỉ vào bếp lửa mời cô ngồi sưởi. Cô Mơ ngỏ ý mời ông mua vé số. Ông lão lắc đầu nguầy nguậy. Thấy cô gái thất vọng, ông lần mò trong các túi áo và lôi ra được ba nghìn đồng. Ông nói ông không đủ tiền mua vì mỗi vé tới năm nghìn, nhưng biết cô đang rất cần tiền mua cháo cho con gái nên ông muốn biếu cô. Cô Mơ kiên quyết không chịu nhận. Cô bán vé số chứ có đi xin đâu. Thấy vậy, thằng Còi cũng móc túi xem có còn tiền không. Sáng nay mẹ nó cho tiền ăn quà sáng nhưng nó để dành. Móc túi mãi nó cũng chỉ có 2 tờ năm trăm, vậy là chỉ có một nghìn. Thằng Còi đưa tiền cho ông lão nói là góp vào để mua vé số. Hai ông cháu chỉ có bốn nghìn, vẫn không đủ mua. Ông lão đưa cả cho cô Mơ, bảo cô cứ cầm lấy dùng tạm, khi nào có thêm tiền ông lấy vé cũng được! Cô Mơ cứ tần ngần không biết nên xử lý thế nào cho phải. Cuối cùng cô nghĩ ra một cách.

-Ông ạ, thế này nhé. Ông có ba nghìn, cháu Còi có một nghìn, vậy là còn thiếu một nghìn. Cháu xin góp vào một nghìn nữa là đủ năm nghìn. Ba ông cháu chung nhau mua một tấm vé nhé. Bây giờ ông chọn vé đi, “không may” mà trúng thì ba ông cháu chia nhau. Không trúng thì coi như ông và cháu Còi vừa giúp cháu lại vừa góp phần kiến thiết đất nước. Được không ạ?

Tất nhiên là cả lão Còng và thằng Còi đều tán thành. Cân nhắc mãi cả ba ông cháu mới chọn tấm vé có số cuối là 311, mang ý nghĩa là tỷ lệ góp vốn của ba người. Lão Còng bảo cô Mơ giữ vé nhưng cô Mơ không chịu. Cuối cùng họ quyết định là cuốn tấm vé lại nhét vào trong ống nứa trên mái lều.

Tối hôm ấy, phần vì không có máy thu hình, phần vì say, nên lão Còng đi ngủ sớm và quên luôn tấm vé số nằm phục trên nóc lều. Thằng Còi thì cũng mải chơi nên không nhớ gì đến xổ số. Còn cô Mơ, hàng ngày vì “thói quen nghề nghiệp” thường phải theo dõi kết quả buổi quay số qua đài truyền thanh nhưng tối ấy con bé bị sốt nên cũng không theo dõi được. Vậy là không ai để ý đến kết quả xổ số. Một đêm “bình yên” trôi qua trong tiếng gió xào xạc, tiếng mưa lách tách và tiếng dế kêu lích chích.

Gần trưa hôm sau, trời vẫn còn mưa, gió vẫn còn thổi lay lắt, hai ông cháu vẫn lặp lại cái điệp khúc không lời ngày hôm trước. Thằng Còi táy máy cái hộp sắt của lão Còng thấy vui vui bởi tiếng va đập của cái móc khóa khép hờ. Nó thấy cái hộp đựng gạo có vẻ như quá nhẹ, nghĩa là lão Còng hết gạo. Tò mò nó mở nắp xem. Đúng là gạo gần như hết sạch, may ra chỉ còn được lưng bơ. Nhưng có cái gói gì bên góc hộp. Cái gói bọc bằng tờ báo cũ đã ngã màu vàng đất. Lúc này lão Còng đang mải rít thuốc Lào nên không để ý. Thằng Còi từ từ bóc gói giấy. Nó rất bất ngờ và thích thú khi thấy có những ba tấm huân chương được xếp ngay ngắn trong chiếc hộp nhỏ. Hai cái màu bạc, một cái màu vàng chóe. Đúng là một kho báu. Lão Còng có một kho báu, thật không ngờ! Ở cái xóm liều này đã mấy ai có được dù một tấm huân chương như của lão Còng? Vậy mà ông lão có tới ba tấm huân chương. Siêu thật! Nhiều huân chương nhưng sao lão Còng lại nghèo thế nhỉ? Ba cái huân chương này đem bán chắc cũng được khối tiền mà!

Thằng Còng bỗng nhớ lại, có lần bố nó bảo nhà lão Còng xưa ở Khâm Thiên. Trận bom B52 đã xóa nát nhà lão cùng cả vợ con. Khi ấy lão còn đánh nhau tận Tây Nguyên. Vì quá đau buồn nên về Hà Nội lão quyết không trở lại sống nơi đầy ắp kỷ niệm đó nữa. Sau khi giải ngũ lão đi làm bảo vệ một thời gian rồi về nghỉ mất sức. Bây giờ thì lão phụ trông xe tận trên Yên Phụ, nhưng cũng chỉ được buổi đực buổi cái. Khi khỏe mạnh thì thường thiếu việc. Khi có việc thì lại ốm đau dặt dẹo. Những khi thời tiết ẩm ương thế này lão Còng chỉ biết ngồi nhà. Thật là trời không có mắt.

Bỗng cô Mơ từ đâu chạy thốc vào nhà trước sự kinh ngạc của hai ông cháu. Cô Mơ mặt tái dại thở không ra hơi. Mãi cô mới lắp bắp:

-Ông ơi, vé … vé …

Cả lão Còng và thằng Còi đều ngớ ra, chẳng hiểu chuyện gì. Cô Mơ vẫn thở hổn hển, tay ấp ngực, không thể nói nên lời. Phải mất tới hai ba phút sau cô Mơ mói nói tiếp được:

-Ông ơi, tấm vé …, tấm vé … trúng rồi, ông ạ.

Cả lão Còng lẫn thằng Còi như vẫn không hiểu, cho đến khi cô Mơ chỉ tay về phía ống nứa trên mái nhà. À, thì ra cái vé xổ số hôm qua. Lão Còng từ từ đứng dậy với tay lên rút tấm vé. Lão đưa cho cô Mơ. Cô Mơ liếc nhanh hàng số rồi lại reo lên;

-Đúng rồi, đúng thật rồi ông ạ. Giải năm. Thế là ba ông cháu mình được những hai trăm! May thật!

Nghe đến đó thằng Còi cũng nhảy cẩng lên và hét toáng “Dê!, dê!...”. Riêng lão Còng thì hầu như không có phản ứng gì.

Chiều tối, cô Mơ đem tiền về giao cho lão Còng. Thằng Còi cầm tờ giấy bạc màu hồng ngắm nghía, tỏ ra rất thích thú. Ông lão bảo cô Mơ:

-Cô cầm lấy tiền. Tôi đã bảo là cho cháu mà. Giải thưởng là của cháu bé chứ có phải là của tôi đâu. À mà một phần của thằng Còi, cô chia cho nó.

Dùng dằng mãi rồi cô Mơ cũng đành cám ơn ông lão. Cô lấy bốn chục đồng trao cho thằng Còi. Nhưng thằng Còi cũng lắc đầu nguầy nguậy:

-Cháu không nhận đâu. Cháu cũng cho em bé. Cô nhận đi cô!

Phần thưởng lớn nhất mà tấm vé số dành cho lão Còng và thằng Còi là nụ cười méo xệch và dòng nước mắt vừa mừng vui vừa cảm động của cô hàng xổ số.


3/2012



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 29.10.2017.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004