Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới






CON TÔM CỜ





A nh Tiên bị kỷ luật thải hồi về địa phương được ba năm thì mắc bệnh thần kinh. Bệnh thần kinh có nhiều lọai, nhưng của anh Tiên thuộc loại kỳ quái. Người nhà đưa anh đi các bệnh viện, mời biết bao thầy lang có tiếng chữa bệnh tâm thần, nhưng bệnh vẫn không thuyên giảm, lại có chiều hướng tăng lên. Anh không xé quần áo, không ăn bẩn, ăn quẩn, không chửi bới đánh người... như người tâm thần ta vẫn thường thấy. Nếu gặp anh lúc bình thường, có khi ngỡ anh là cán bộ, hay bác sỹ, kỹ sư nữa kia. Đầu anh lúc nào cũng rẽ ngôi bóng mượt, râu ria tóc tai nhẵn nhụi, quần áo ly là thẳng tắp con ruồi đậu vào, bay lên quạt cánh là đứt. Gặp mọi người anh Tiên cười nói vô tư.

Hầu hết các thầy thuốc đã chữa cho anh Tiên đều chung một nhận định về nguyên nhân sinh bệnh, đó là anh bị stres sau khi bị kỷ luật thải hồi. Cả một đời người hy sinh phấn đấu, leo cây đã đến ngaỳ hái quả, bỗng đánh rầm một cái tuột đánh phù từ ngọn xuống gốc, hỏi có gẫy xương không cơ chứ. Ấy, thần kinh là còn may, thiên hạ chả có người lấy dây tự buộc vào cổ mà treo lên xà nhà đấy ư. Người nhà anh Tiên nghe vậy cũng tự an ủi phần nào.

Thời kỳ đầu anh Tiên về, mất gần một năm anh không ló ra khỏi ngõ. Suốt ngày anh lầm lỳ, lủi thủi một mình. Khi thì đút hai tay túi quần, đứng hàng giờ xem con cuốn chiếu bò từ gốc lên ngọn cây chanh. Lại khi cặm cụi đánh cây này trồng chỗ kia, đào cây kia trồng chỗ nọ. Không còn việc gì nữa, anh lách bờ tre ra cuối vườn đứng nhìn thẫn thờ ra phía đường quốc lộ, dõi theo người đi trên đường không biết chán. Người nhà cũng thương hại, thông cảm không ai nỡ động một câu. Vợ con cũng chiều chuộng, động viên an ủi và chờ đợi một ngày không xa, anh Tiên sẽ quên đi cái đau, cái tủi mà lại tiếp tục làm ăn cho vợ con được nhờ.

Một hôm chị Hạ, vợ anh đi chợ mua về một mớ tôm cờ cực ngon. Đặt cái thúng xuống thềm, chị gọi:

- Bố nó ơi, lại đây mà xem, tôi mua được mớ tôm ngon lắm cơ.

Chị Hạ lật cái vỉ trên mặt thúng ra, những con tôm cờ tươi rói. Những con tôm cờ có cái đầu to sụ, thân và đuôi vuốt nhỏ, hai chiếc mắt lồi ra như hai chiếc ăm- pun. Con nào cũng có hai chiếc càng nghều ngào đen xì như hai gọng kìm. Thỉnh thoảng chúng bật tanh tách, mỗi lần bật là một lần chúng lùi một đoạn.

- Này, bố nó...

Anh Tiên ngoái đầu lại, bỗng anh rú lên như gặp phải ma, và anh bỏ chạy thục mạng. Gặp bờ rào, anh xé tung chui qua. Đụng phải bờ tường anh bật vút như vận động viên nhảy sào. Tới ao chuôm, sông ngòi anh cứ thế ào qua như bị ma đuổi. Phải vất vả lắm, người nhà mới bắt được anh Tiên về phục thuốc.

Thế là từ đó, hễ nhìn thấy con tôm dù một con rất nhỏ là anh Tiên bỏ chạy, bất biết chướng ngại, vật cản, bất biết đêm ngày, bão tố mưa dông...

Chị Hạ thương chồng đành phải cấm kỵ cái món tôm băm chả mà chị ưa thích từ nhỏ. Có lần đang ngồi ăn cơm, anh Tiên múc một môi riêu cá chan, bỗng phát hiện thấy một con tôm nhỏ đỏ lựng cong như chữ u lẫn trong cá, thế là anh vung bát cơm, nhảy vút qua mâm ù té chạy. Từ đó nấu nướng bất cứ món gì, mẹ con chị Hạ phải chọn kỹ, cấm để sót cái giống tôm chết người ấy.

Biết bệnh của anh Tiên sợ tôm, bọn trẻ con tinh quái trong làng hay rình rập trêu. Chúng đút tôm vào túi, rồi lừa ném vào anh Tiên để anh nhảy dựng lên, và chạy vút như một mũi tên, thế là chúng nó vỗ tay cười lấy đó làm thích thú. Thật, đúng là đồ mất dạy.

Một lần, thằng bé trong xóm mò được mớ tôm đựng trong cái rổ con mang về. Trên đường nó gặp anh Tiên, rình cho đến khi anh đi vào cái “ góc chết” ở nách đình, thằng bé chìa rổ tôm ra. Anh Tiên hoảng sợ tháo chạy. Nhưng lao bên phải là đầu đình dựng đứng, lao bên trái là giếng đình sâu hun hút, lao lên trước là nhà kho. Anh Tiên đành khựng lại, quay đầu, mắt long lên như muốn nổ tung con ngươi. Anh vồ lấy viên gạch và hét lên như võ sỹ chuẩn bị xông vào đối phương ra đòn quyết định. Thằng bé sợ quá quăng rổ tôm vắt chân lên cổ chạy. Anh Tiên lao đến dùng viên gạch cứ thế giơ lên, quại xuống như trút căm hờn xuống những con tôm vô tội, kỳ cho đến khi rổ tôm bét nhè như cháo, rồi lại còn vạch quần ra tè vào cái đống nhão nhoét tanh ngòm ấy mới thôi.

Từ đó, hàng ngày anh Tiên tay cầm viên gạch đỏ lịm lang thang khắp ngóc ngách trong làng, ngoài bãi, xông vào cả chợ, gặp người thì vẫn vui vẻ chào hỏi, nhưng nhìn thấy tôm là anh lao đến nghiến răng đập cho kỳ nát bét. Bây giờ chợ làng Bùi cấm thấy ai mang tôm ra chợ bán. Người làng Bùi đang ăn cơm thấy anh Tiên đến, phải khẩn trương giấu niêu tôm, nếu không niêu tôm, mâm cơm sẽ thành bãi chiến trường ngay tắp lự.


* * *


Người làng Bùi thương anh Tiên lắm. Tội nghiệp anh ăn ở hiền lành vậy mà trời bắt tội. Từ nhỏ ai cũng biết anh nhu mì. Học hành chỉ trung bình, hoặc dưới trung bình một tý, nhưng bù lại anh ngoan ngoãn, không bao giờ có lời nói, hành động trái với thầy cô, bạn bè. Ai bảo sao làm vậy. Vì thế anh Tiên được thầy cô, bạn bè thương, nên năm nào cũng được lên lớp. Những năm cuối chiến tranh, hết cấp II Tiên nghỉ học, năm sau anh xung phong vào đại đội thanh niên xung phong của tỉnh.

Hồi ấy tỉnh thành lập một đội thanh niên xung phong đặc biệt để xung kích thực hiện những nhiệm vụ khó khăn chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ ra miền Bắc.

Tiểu đội Tiên co mười hai người. Có hai người gây ấn tượng, ấy là Tiên và Khoáng. Khác với Tiên, Khoáng vốn là người thông minh, học giỏi nhưng lại bị cái tật bướng bỉnh. Ai sai, ai sót gì Khoáng nói liền. Tiểu đội trưởng sai Khoáng cũng: “ Tôi có ý kiến...”, hoặc : “ Theo tôi nên thế này tốt hơn”, hay: “ Tôi làm khác ý tiểu đội trưởng vì tôi thấy cách ấy tiết kiệm, hiệu quả hơn...”v.v...Vì thế tiểu đội trưởng coi Khoáng là đối tượng cần phải rèn luyện, giáo dục. Ngược lại, Tiên được tiểu đội trưởng mến bởi cái tính nhu mì vốn có, việc gì Tiên cũng làm, miễn đó là việc trên giao. Tiên không bao giờ đặt lại câu hỏi, hoặc ý kiến này, ý kiến khác. Đến khi có đợt chọn người gửi vào trường Hạ sỹ quan của tỉnh đội, tên Khoáng bị gạch bỏ, còn Tiên là người duy nhất trong tiểu đội được chọn. Ba tháng sau, Tiên trở về làm tiểu đội trưởng chính tiểu đội của Khoáng. Trong số 12 tiểu đội trưởng của đại đội, Tiên lại là người duy nhất được trung đội trưởng quí mến, bởi anh có sẵn những đức tính nằm trong cái ba-rem tuy không được ghi thành giấy trắng mực đen nhưng lại là nếp nghĩ của tất cả cán bộ từ tiểu đội, đến đại đội. Nghĩa là Tiên không bao giờ biết cãi lại cấp trên; nghĩa là bao giờ Tiên cũng chỉ “ vâng ạ”, “ em sẽ cố gắng”. Chưa đầy một năm sau, Tiên lại được chọn đi học lớp cán bộ trung đội.

Thế là Tiên tiếp tục vào trường. Cứ thế, cứ thế... hai năm sau Tiên lại được cử đi học làm cán bộ đại đội.

Từ một chiến sỹ, Tiên đã leo lên cái chức cao nhất đại đội thanh niên xung phong của tỉnh lúc bấy giờ.

Từ ngày giữ chức đại đội trưởng anh đã lập một kỳ tích đưa đại đội mẫu thành một đơn vị cao nhất tỉnh về tỷ lệ vi phạm kỷ luật. Trước đây người ta gọi là đại đội gió, thì bây giờ người ta gọi là đại đội mưa. Bởi nó đi đến đâu chỉ làm cho địa phương phải phát khóc đến đấy.

Thời kỳ giặc Mỹ đánh phá ác liệt ra miền Bắc. Khu vực đại đội đảm nhiệm có ba trọng điểm: cầu Nha Linh, cửa sông Hàn và ngã ba Đọ. Thường thì máy bay Mỹ đánh phá liên tục cả ba trọng điểm này. Bỗng dưng chín ngày liền chúng chỉ đánh cầu Nha Linh và cửa sông Hàn. Nếu như người chỉ huy bình thường, thì ngày thứ 10 chả dại gì lại đưa đại đội về thi công ở ngã ba Đọ. Nhưng mà Tiên bất chấp lời can ngăn của cấp dưới, kể cả bạn thân là Khoáng, vì Tiên muốn khẳng định khả năng của người đứng đầu đại đội. Anh đã đưa gần trăm con người về bốc đá sửa đường ở ngã ba Đọ. Đúng như dự đoán của Khoáng, hôm ấy máy bay địch quay lại ném bom, bắn phá dữ dội cái trọng điểm bỏ ngỏ gần chục ngày đó. Cả đại đội gần trăm ngừời, thì quá hai phần ba vừa bị thương, vừa hy sinh. Đơn vị tan tác và mất sức chiến đấu. Tiên phải làm kiểm điểm, rồi bị rút về tỉnh Đoàn “ ngồi chơi xơi nước”, thời gian sau thì bị kỷ luật, thải hồi.

Thôi thì cũng còn may, nếu như không có chiến tranh sàng lọc thì có lẽ đường công danh của Tiên còn hoan lộ. Gì chứ, vài năm sau Tiên cầm chắc cái chức Bí thư Tỉnh đoàn. Từ tỉnh đoàn nhảy lên Bí thư Tỉnh uỷ là mấy. Rồi từ Bí thư Tỉnh uỷ bật vút lên cao, lên cao nữa... Lúc ấy sự trả giá sẽ còn lớn hơn nhiều.

Trận ấy, may mắn Khoáng thoát chết. Trước khi tiễn chân Tiên về quê, hai người tâm sự với nhau một đêm. Khi chia tay, người ta chỉ nghe thấy Khoáng an ủi Tiên:

-Lỗi không phải tất cả tại Tiên. Suy cho cùng lỗi là do một cái gì đó vừa vô hình lại vừa cụ thể. Nó giống như một chiếc thang lộn ngược. Cái thang ấy nó đưa những con người như Tiên đáng lẽ ở dưới gốc thì lại lên ngọn, và những người khác đáng lẽ ở trên ngọn thì lại ở dưới gốc.


* * *


Một hôm có một người đàn ông cũng trạc tuổi anh Tiên hỏi thăm và đến nhà anh Tiên chơi. Người đàn ông này tầm thước, mày dài hơn mắt, trán rộng trông thông minh, mũi cao thẳng và miệng cười rất hiền nhưng hóm. Phong thái, tiếng nói đàng hoàng làm người ta có cảm giác đây là một người giỏi giang và đức độ có thể tin cậy được.

Anh Tiên không có nhà, chị Hạ thay chồng tiếp khách. Người khách lạ hỏi chị Hạ rất tỉ mỉ về đời sống, sinh hoạt, bệnh tật của anh Tiên. Nghe trả lời xong, người đàn ông ngồi bóp trán suy nghĩ. Ông bặm môi, rồi nhìn ra xa xăm như để cân nhắc. Một lát, ông bỗng đấm tay xuống bàn nói:

- Hơi muộn, nhưng phải chữa. Nhất định chữa được... Nhưng có một điều... gia đình có quyết tâm không?

- Xin bác làm ơn, làm phúc- chị Hạ đưa cặp mắt cầu xin- Tốn bao nhiêu em cũng lo được. Bác ạ, không chữa, nhà em mỗi ngày một nặng, rồi đến chết người, gia đình tan nát ...mà cả làng cũng nguy chứ bác. Bác làm ơn… khỏi được, gia đình em ơn bác suốt đời.

Mắt chị Hạ rơm rớm. Vẻ cầu xin lộ rõ trên gương mặt, lời nói của người thiếu phụ thương chồng hết mực, mà cũng lo lắng vì bất lực trước căn bệnh lạ kỳ của chồng, làm người khách động lòng nhưng ái ngại vì khó xử. Ông ta động viên chị Hạ mấy lời cho phải lẽ, rồi khoác chiếc túi vải đứng dậy cáo từ đi về hướng ngã ba Đọ.

Hơn một tháng sau, ông ta quay lại đưa cho chị Hạ một cái hộp nhỏ và một tờ báo bảo:

- Thuốc của anh ấy đây. Chị hãy đưa cho anh ấy... Anh ấy khắc biết cách sử dụng.

Người khách đi rồi, chị Hạ run run mở cái hộp, bên trong chỉ là một con tôm cờ to bằng ngón chân cái làm bằng nhựa trong suốt. Về cơ bản, nó giống hệt mọi con tôm, duy có điểm khác là cái phần phân ở trên đầu con tôm được chuyển xuống bụng, và có nơi đào thải cặn bã ở phía dưới. Trong con tôm cờ có lắp một cục pin tiểu, hễ bấm công tắc là con tôm bò tiến lên, chỉ có tiến chứ không có lùi được. Chị mở tờ báo ra xem, trong tờ báo có đăng bài nói về người chiến sỹ lái xe tăng húc đổ cổng Dinh Độc Lập ngày 30 tháng 4 năm 1975, lẽ ra ở lại chỉ huy binh đoàn xe tăng thì lại trở về lái xe lam. Tất cả chỉ có thế.

Lúc đầu, chị Hạ sợ hết hồn không dám làm theo lời người khách, lỡ ra anh Tiên lại lên cơn khùng thì khổ. Cân nhắc mãi, rồi chị cũng đành liều giả vờ để cái hộp và tờ báo ở góc bàn và thập thò theo dõi, nếu có điều gì thì chị sẵn sàng xử lý ngay.

Anh Tiên ra vào ngắm cây, ngắm cảnh mãi rồi vào nhà ngồi vào bàn rót nước uống. Trông thấy tờ báo thì mở ra đọc, vừa đọc anh vừa khóc. Đọc xong thì trông thấy chiếc hộp xinh xinh ở góc bàn, anh Tiên đưa tay cầm lên. Ở trong buồng, nhòm qua khe cửa, tim chị Hạ nhảy dựng, mắt chị như không chớp, xoáy vào bàn tay anh Tiên. Anh Tiên xoay chiếc hộp ngắm nghía vẻ thích thú lắm, rồi anh lại bỏ xuống bàn, cầm tờ báo nhìn như soáy vào nơi có hình người lính lái xe tăng. Xem xong, đặt chéo xuống góc bàn và lại cầm chiếc hộp lên. Anh chuyển chiếc hộp qua tay trái, tay phải xoay mở chiếc nắp. Chiếc hộp hình vuông mà anh lại xoáy, nên không mở được, loay hoay một lúc, cuối cùng nắp chiếc hộp cũng bật ra. Anh Tiên giật bắn người, chiếc hộp rơi xuống mặt bàn, con tôm nhựa rớt xuống. Anh Tiên không bỏ chạy, mà lại cúi xuống cầm lấy con tôm giơ lên ngắm nghía, miệng nở một nụ cười.

Thật lạ, anh Tiên lại thích con tôm này. Anh giữ con tôm trong túi như cái bùa hộ mệnh. Nửa năm sau thì anh Tiên khỏi bệnh hẳn.



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 28.10.2017.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004