Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





Đãi Sỏi Tìm Vàng



Tây Hồ



D ời khỏi làng Nghi Tàm, tôi đi sang Tây Hồ, đến làng Tây Hồ cổ xưa, nay mang tên mới là “ngõ 31 đường Xuân Diệu” mà bâng khuâng một nỗi buồn hoài cổ :

Bây giờ về Tây hồ ta hỏi nhau

Ai còn nhớ ai quên lời thơ cũ:

Tôi ở Tây Hồ bán chiếu gon

Cớ chi ông hỏi hết hay còn ”

Hãy khoan tìm bóng một cuộc tình 600 năm về trước giữa Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ để rồi gây nên vụ thảm án dưới thời vua Lê Thái Tông: Sự việc được chép tóm tắt như sau “ Ngày 27 tháng Bảy năm Nhâm Tuất (1442) vua đi tuần ở miền Đông, duyệt quân ở thành Chí Linh, Nguyễn Trãi đón vua ngự ở chùa Côn Sơn là nơi ở của Nguyễn Trãi. Ngày 4 tháng tám vua về đến Lệ Chi Viên thuộc huyện Gia Định (nay thuộc huyện Gia Lương Bắc Ninh) Cùng đi với vua có Nguyễn Thị Lộ là người thiếp của Nguyễn Trãi năm đó 40 tuổi được vua Thái Tông yêu quý vì sắc đẹp, văn hay luôn được vào hầu bên cạnh vua, khi về đến Lệ Chi Viên vua thức suốt đêm với Nguyễn Thị Lộ rồi băng hà (lúc này vua mới 20 tuổi). Các quan bí mật đưa thi hài vua về Thăng Long, nửa đêm ngày sáu tháng Tám mới phát tang, triều đình nghị án quy tội Nguyễn Thị Lộ giết vua. Ngày Mười hai tháng Tám triều đình tôn hoàng tử Bang Cơ lên ngôi, Nguyễn Trãi và gia đình bị kết án thí nghịch bị hành tội tru di tam tộc. (theo ĐVSKTT và Các triều đại Việt Nam của Quỳnh Cư và Đỗ Đức Hùng) Thảm án Lệ Chi Viên cho đến nay được nhiều nhà sử học, nhà văn, nhà thơ viết nhiều trang luận chiến để minh oan cho bà Nguyễn Thị Lộ. Năm 2004, nhà xuất bản Văn hóa thông tin đã xuất bản tập Kỷ yếu Hội thảo mang tên “Lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ với thảm án Lệ Chi Viên”, nên trong bài này chúng tôi không đưa tư liệu đó vào, mời quý độc giả tìm đọc. Bây giờ về Tây Hồ chỉ có phủ Tây Hồ nơi ghi dấu thoại thi giữa Trạng nguyên Phùng Khắc Khoan và bà tiên Quỳnh Hoa tiên nữ Làng Tây Hồ có một bán đảo nhô ra giữa Hồ Tây với dáng hình như mỏ phượng, ở đó có xóm Cung và đền thờ Liễu Hạnh công chúa (còn có tên là Quỳnh Hoa) Đời Lê có trạng Bùng Phùng Khắc Khoan cùng mấy bạn thơ đã đi chơi thuyền trên Hồ, trong lúc lênh đênh trên sóng, các vị đã gặp một cô gái và trên hồ đầy trăng gió đã có một truyện tình thơ được ghi trong truyện “Vân Cat thần nữ” của danh sĩ Đoàn Thị Điểm. Nhà văn Ngô Văn Phú cũng viết truyện ngắn “Cuộc gặp mặt ở Tây Hồ” để ghi lại cuộc thi thoại thần tiên ấy. Xin phép trích một đoạn văn kết của truyện:

Lạ thay từ ngày quán hàng của nàng Liễu mở ra dân trong vùng có rất nhiều người lui tới. Rồi quán nối quán mở theo Vùng Tây Hồ có cả khách thương có hạng của băm sáu phố phường lui tới ... Làng Tây Hồ làm ăn buôn bán cũng thịnh vượng hẳn lên ... Riêng cô bán hàng thì chẳng thấy mở quán. Liếp nứa che im, người đi đâu chẳng ai rõ. Một bữa sau ba văn nhân được lúc rỗi rãi quay trở lại, họ xăm xăm đến thăm quán Liễu Nương. Nhưng người đẹp đã không còn ở đấy, và cả ngôi quán cũ lạ thay cũng biến đi đằng nào, trên cây còn lại một bài thơ, dùng trâm ngọc viết lên vỏ cây tươi, nét chữ hình lên sau hàng nhựa ứa Phùng nhẩm đọc:

Vân tác y thường phong tác xa

Triêu du Đâu xuất, mộ yên hà

Thế nhân dục thức ngô danh tính

Nhất đại sơn nhân Ngọc Quỳnh hoa

Người bạn cùng đi dịch luôn:

Mây làm xiêm áo, gió làm xe

Đâu xuất ngao du khói sóng nhòa

Muốn biết tên ta người dưới thế

Một đời ở núi Ngọc Quỳnh hoa

Phùng nói : Nhất đại ghép đôi là chữ thiên, sơn nhân ghép đôi là chữ tiên. Vậy là nàng đã chẳng xưng tên của nàng là bậc tiên đẹp nhất trên đời đó sao, không còn nghi ngờ gì nữa... Phải chăng chính nàng là Vân Cát thần nữ. Ba ông trải lá sen làm mâm, rút giấy hoa tiên bữa trước viết trọn khúc liên ngâm bốn người, kiếm hoa quả vàng hương khấn Vân Cát thần nữ, rồi đem bài thơ đốt theo để tưởng vọng Nhất Đại Sơn Nhân Ngọc Quỳnh Hoa. Người trong làng Tây Hồ đã biết quan Trạng dạo chơi bữa trước liền đem đèn đuốc vây quanh, có người đem giấy xin ba ông chép cho bài thơ. Lại có người hay đàn liền lựa vào thơ buông đàn bắt nhịp mà ngâm vịnh. Mọi người lắng nghe, ai nấy cùng xúc động, quan Trạng lại đọc thêm bài thơ để lại cho mọi người nghe rồi kể lại sự tích ông đã gập nàng ở Lạng Sơn khi đi sứ. Những người già và hào lý nghe thế đều nhất loạt xá quan Trạng và nói: Duyên làng Tây Hồ mới được Liễu Hạnh công chúa hiển linh và quan Trạng cùng hai bậc văn nhân đến du ngoạn, để tưởng niệm công chúa, chúng tôi xin lập đền thờ. Phùng Khắc Khoan mừng lắm, Ông vái tạ dân làng mà nói rằng: “Nàng là người đẹp ở chốn thanh tao. Chúng ta là người trần tục thờ người đẹp vẻ thanh tao để luôn hướng về há cũng chẳng là phong tục tốt đẹp sao!” và cắm hướng vẽ kiểu để lại rồi mới cùng hai bạn văn Ngô, Lý ra về.. Dân làng đem theo đàn sáo tiễn đưa sôi nổi vang lừng.”

(Theo Hồ Tây - Phủ Tây Hồ)

Phủ Tây Hồ ban đầu được dựng lên là nơi ghi dấu cuộc gập gỡ giữa Trạng Bùng Phùng Kắc Khoan và Tiên nữ Quỳnh Hoa, rồi qua thời gian thành nơi đạo Mẫu đến với dân chúng Thăng Long. Theo cụ Hoàng đạo Thúy thì phủ Tây Hồ lúc đầu chỉ là một ngôi đền nhỏ do dân chúng ngưỡng mộ chúa Liễu mà dựng lên. Đền ban đầu lợp bằng tre nứa lá đến năm 1947 thì được dựng bằng gỗ lợp lá. Năm 1952-1957 lại được tôn tạo và đến nay đền thờ được tạo dựng bằng gạch ngói, cổng phủ có chữ Hán đề rằng “Phong Đài Nguyệt Các” (nghĩa là đài gió gác trăng), cổng này mới xây năm 1991. Ông Ngô Văn Phú đã miêu tả “toàn bộ phủ Tây Hồ tọa lạc trên một mảnh đất chừng một sào Bắc Bộ có nhà Chờ, Phủ, Động Sơn trang nhà làm việc và trạm tiếp đón”. Ông Văn Hậu viết trong Lễ hội Thăng Long mô tả hệ thống tượng trong Phủ và cho rằng “đến ngày nay còn là câu đố đối với các nhà nghiên cứu tôn giáo”, tất cả những câu hỏi đều được giải thích khi tôi theo giáo sư Trần Lâm Biền vào Thanh Hóa dự hội thảo về đạo Mẫu, ông nói: “Đạo thờ Mẫu là đạo đi cùng với chiều dài lịch sử Việt Nam. Tất cả các tôn giáo khi du nhập vào Việt Nam nếu không tôn trọng đạo Mẫu thì không thể phát triển được. Chúng ta có đạo Phật khi truyền vào Việt Nam nhưng người Việt Nam lại chú ý đến Phật bà Quan Âm bởi Phật bà Quan Âm chính là hiện thân của Mẫu. Đạo Gia tô cũng phải tôn trọng vai trò của Mẫu nên người Việt Nam theo đạo quan tâm tới Đức Mẹ Maria hơn là Chúa Giê Su. Sự tích của bà Thượng Ngàn cũng là sự tích của Đức Bà Ma Ri A tại nhà thờ La Vang Quảng Trị”. Về các vị thần trong ban thờ Mẫu, ông Trần Lâm Biền cho biết hệ thờ gồm các vị:

+ Hệ Sáng tạo gồm các vị : Bà Thượng Thiên, Bà Chúa Thượng Ngàn, bà Mẫu Thoải và bà Mẫu Địa

+ Hệ thứ hai là: Ngũ vị Tôn Ông, trong đó có bốn vị thực hiện các ý đồ của Mẫu, còn một vị ở lưng chừng Trời là Quan Lớn đệ Ngũ kiêm tri đôi nước.

+ Hệ thứ ba là Tứ phủ ông Hoàng, Tứ phủ Chầu bà. Các vị trong Tứ phủ là những nhân vật lịch sử, đều là những người có công với dân với nước, dân ta thờ các vị để phát huy công đức các Ngài và qua đó để dân ta biết sử nước ta. Ví dụ ông Hoàng Hai tức là Quan lớn Triệu Tường Nguyễn Hoàng đã đưa dân vào miền Nam khai phá. Bà Bat Nàn cũng là một nữ tướng của Hai Bà Trưng.

+ Hệ thứ tư là: Các Cô, các Cậu là những người có tâm và có tài, khi chết được tái sinh thành những thiên thần nhỏ bé trong cửa Mẫu, Điều đó dạy chúng ta rắng nếu con người sống tốt thì khi chết đi đều là con của Mẫu Tại cửa điện thờ chúa Giêsu cũng có các vị thiên thần như ở điện Mẫu.

(Trích tư liệu ghi chép tại hội thảo ở Thanh hóa 2007 do dòng họ Lê Trung Giang tổ chức năm 2007

Tại phủ có tượng chúa Liễu dáng từ bi, trên cao có bức đại tự đề “Mẫu nghi thiên hạ”, hai bên có tượng Chầu Bà. ở giữa có tượng vua cha Ngọc Hòang cùng hai quan Nam tào Bắc đẩu, dưới nữa là các ban trong Tứ phủ..

- Trong sách Danh tích Tây Hồ do Uỷ ban nhân dân quận Tây Hồ xuất bản năm 2000, các tác giả chú ý mô tả về phần vật chất của phủ mà quên không mô tả lễ hội của Phủ, sách viết: “Về mặt kiến trúc, phủ Tây hồ hoàn tòan mang phong cách hiện đại, chất liệu bê tông giả gỗ, phủ chia làm hai tòa riêng biệt”.

+ Phủ chính: Phủ chính gồm một tòa nhà nối liền nhưng được chia làm ba theo kiểu chữ tam.Tiền tế thờ công đồng, trung tế thờ vua cha Ngọc hoàng và Tam tòa Thánh mẫu (thờ bài vị) Hậu cung thờ ba vị Thánh Mẫu bằng tượng là Mẫu Liễu, Mẫu Thượng Ngàn và Mẫu Thoải”.

+ Điện Sơn trang: “ Điện Sơn trang mới được xây bằng chất liệu bê tông giả gỗ kiểu chông diêm hai mái ngói Tầng trên thờ Phật và Tam tòa thánh Mẫu, tầng dưới thờ Mẫu Thượng Ngàn và Hai mươi bốn cô sơn trang. Nói là điện Sơn Trang nhưng thực ra đây là nơi thờ Phật vì Phật tức Tiên, Tiên tức Phật. Quan niệm dân gian Viêt Nam là thế ”.

+ Sách “Hồ Tây - Phủ Tây hồ” viết về Lễ hội ở Phủ như sau: “Phủ Tây hồ tiến hành lễ hội vào ngày mồng Bảy tháng ba âm lịch hàng năm

Theo quan niệm dân gian: Tháng Bảy giỗ Cha, tháng Ba giỗ Mẹ, người Việt Nam đã chọn Cha là một vị tướng tài võ công hiển hách nhất trong lịch sử là Trần Hưng Đạo đại vương và chọn Mẫu Liễu Hạnh là Mẹ, là bậc Mẫu nghi thiên hạ. Trước Cách mạng tháng Tám, Lễ hội Phủ Tây Hồ gồm tới mấy làng thuộc tổng Vĩnh Thuận là Tây Hồ, Nghi Tàm, Quảng Bá, Yên phụ, Nhật Chiêu và Xuân La. Thường thì có một xã đăng cai, các xã khác thì cùng cử đoàn lễ đến rước Mẫu, mỗi đám rước đều có các bô lão đem những lễ vật chay tịnh đến lễ Mẫu, những bát hương bài vị do từng làng mang theo đều đặt trong những kiệu nhỏ. Xã đăng cai thì có kiệu Long đình do các nam thanh nữ tú khiêng, lễ rước khởi hành từ Phủ do làng đăng cai dẫn đầu, tuần tự đi đến từng làng, đám rước đi nhanh hay chậm là do sự chỉ huy của một đội trống chiêng đánh nhịp. Đám rước đi qua đê Yên Phụ, qua đê Cổ Ngư tới đền Nghĩa Lập ở phố hàng Đậu để lấy mã (quần áo xe ngựa bằng giấy) đưa lên kiệu tiếp tục rước về Phủ sau đó các bô lẫo và dân các làng vào Phủ làm lễ dâng hương”.

Người ta thường kể về cụ Hà Trọng Chương đã từng nhiều lần chịu trách nhiệm tổ chức lễ hội, Tại Phủ Tây hồ còn lưu giữ băng ghi âm lời ca của cụ Khiêm hát 98 câu ca trù trong ngày lễ. Trước kia, cứ hai năm một lần, tại Phủ lại tổ chức thi hát văn... Phủ Tây Hồ rất được dân chúng thủ đô và các nơi hâm mộ, lúc nào cửa Phủ cũng đông khách thập phương đến lễ.

Câu đối tại phủ Tây Hồ:

Đến phủ Tây Hồ, khách thập phương thường chú ý tới những câu đối tại trước, trong và nơi thờ Thánh Mẫu. Xin trích vài đôi để độc giả được biết:

Long hổ phùng nghênh tứ diện hoa hoàn thủy nhiễu

Quy xà hình thế ức niên nhân kiệt địa linh

dịch là:

Rồng hổ bái chầu bốn mặt hoa thơm nước biếc

Rắn rùa tạo thế ngàn năm người giỏi đất thiêng

Câu đối Nôm viết rằng:

Thơ họa Tây Hồ thần nữ vang lừng ba bẩy cõi

Danh truyền Nam sử dấu tiên rực rỡ mấy ngàn thu


Câu đối chữ Hán viết về thân thế của Mẫu:

Tối linh nhi linh, Thiên Bản bồi hoàn chân cảnh tịnh

Chúng Mẫu chi mẫu, Tây Hồ hương hỏa biệt từ tôn

dịch là:

Linh thiêng của linh, Thiên Bản trang hoàng tiên phủ đệ

Mẫu trong các mẫu, Tây Hồ hương hỏa chốn từ tôn


Vế cổ tích, sách Tây hồ chí còn chép truyện xưa làng Tây Hồ có đền Kim ngưu (Trâu vàng) để thờ thần núi Phục Tượng huyện Duy Xuyên vào cuối đời Đường thần Kim ngưu hiện hình chạy ngược dòng sông vào Hồ Tây (nên có người đã gọi hồ Tây là hồ Trâu vàng). Nay hỏi các cụ đều nói là đã bị đổ nát, chỉ còn vết tích tại nơi gốc đa to ngay lối rẽ vào phủ Tây Hồ, Ban di tích làng Tây Hồ còn giữ được đạo sắc năm Cảnh Hưng nguyên niên ghi “Thần Kim Ngưu là chính thần âm phù giúp nước đã nhiều lần hiển linh tại làng Tây Hồ phủ Vĩnh Thuận, nay phong làm Kim Ngưu đế quân ”. Bây giờ làng Tây Hồ đã đô thị hóa, không còn tìm được con đường làng xây gạch Bát Tràng nghiêng nghiêng nối nhau mà đường làng đã thay bằng đường bê tông, lối xưa có rặng ổi mọc ven đường nay đổi tên là đường Xuân Diệu, và lối rẽ vào làng mang một cái tên lạ “ ngõ 31 đường Xuân Diệu” làm cho nhiều cụ đượm buồn bởi nỗi mất hết “lối cũ Làng xưa”. Tôi được mọi người chỉ dẫn đến đình làng để gập cụ Chuyển (Hội người cao tuổi) và cụ Đức (Trưởng ban di tích), các cụ chân tình tiếp tôi tại Đình làng. Thú thật, nếu không gập các cụ, tôi cũng chưa hiểu được về thần tích của các vị Thần được thờ tại dình làng. Ngôi đình nay đã chuyền vào giữa làng để tránh bị xói lở, cửa đình có đôi câu đối:

Miếu vũ uy nghi tam vị linh từ tân cảnh sắc

Long thành tráng lệ, Tây hồ thắng tích cổ danh lam

Đây là nơi thờ các vị thành hoàng có tên húy là: Quảng Bác Minh Khiết đại vương, An Dương triều đình Cương nghị đại vương và Tiết nghĩa Bảo trung dại vương (có sự trùng lặp với bản dịch của Cung khắc Lược về thần tích Nghi tàm?). Làng Tây Hồ có ba giáp, đình làng ở Giáp Nhị, chùa Tây Hồ ở Giáp Tam, cũng ở Giáp Tam có Phủ Tây Hồ mà chúng tôi đã mô tả. Làng Tây Hồ xưa là nơi có đủ các di tích thờ Thần, Phật, Tiên, Thánh, ngoài những điều mà tôi được biết, lần gặp này tôi lấy tập Hương ước làng Tây Hồ lập năm Khải Định thứ 5, ngày 24-10-âm lịch (4-12-1920) có điều về sự giáo dục để hỏi các cụ. Theo bản hương ước này, có các điều lệ quy định:

+ Điều 97: Trong làng dạy trẻ em phải có học thức phổ thông là nghĩa vụ người làm phụ huynh, không ai được từ. Nhưng làng chưa có tiền xây dựng được trường, hễ khi nào xây dựng được trường thì tuân theo các điều sau đây.

+ Điều 98: Thường năm dân trích tiền công chi tiêu việc trường và lương thày giáo.

+ Điều 99: Trẻ con trong làng đúng 8 tuổi phải đi học cả.

+ Điều 100: Làng lấy tiền công mua bút giấy cấp cho những con nhà nghèo mà Hội đồng xét thực không thể (có tiền) mua được.

Cụ Chuyển tự hào nói: Làng tôi vốn là đất có nghề, có học. Tại bia Văn Miếu còn ghi Ngài tiến sĩ Phan Đình Mục đã trúng thí khoa Nhâm Tuất (1502) năm Cảnh Thống thứ 5. Đến thời Nguyễn có các cụ Tú Giao, cụ Tú Nguyên. Khi chưa bỏ chữ Nho, làng có nhiều cụ đồ Nho đến dạy học mà các cụ còn nhớ tên là : cụ đồ Tạch, cụ đồ Huyền, cụ đồ Thụy, cụ đồ Cung, cụ đồ Bổng, cụ đồ Và, cụ đồ Chúc… Đến khi đổi sang học chữ quốc ngữ, ngoài bản hương ươc quy định về nghĩa vụ chăm nom sự học, các cụ còn nhớ những ông hương sư dã dạy trẻ là hương sư Hà Ngọc Thư, thày giáo Chấm, thầy giáo Trác. Thuở ấy, học sinh học Sơ học yếu lược ở giải vũ đình làng, khi học cao hơn thì sang học ở Yên Phụ,

May mắn là tại Tây Hồ, tôi có người quen là bà Tiếp nay đã hơn 80 tuổi vốn là một cô thợ làm chỉ ,nhân dịp đi tìm hiểu thêm về làng nghề năm xưa, bà Tiếp nói: “Người làng Tây hồ năm xưa có nghề xe chỉ màu và nhuộm chỉ đi bán các chợ . Các cô gái trẻ làng Tây Hồ mặc áo tứ thân, thắt lưng hoa lý, gánh bồng bềnh đôi bồ nhỏ đựng chỉ ngũ sắc đến chợ ngồi bên các hàng luạ bán tấm.” Bà cho xem mấy con dọi bằng chì rồi giải thích: Chúng tôi có nghề xe chỉ khác với xe sợi, từ nhiều sợi tơ nhỏ treo thẳng, đầu sợi có con dọi bằng chì nặng để giữ căng dây, người xe chỉ dùng hai bàn tay xiết vào nhau để xe dây chỉ, nhiều sợi nhỏ kết thành sợi chỉ to, xe xong, nhuộm màu, cuộn thành con chỉ. Cũng như người làng Yên Thái bên kia hồ con gái đứng xeo giấy suốt ngày tỳ tay vào thành tàu seo nên thành chai dầy, thì ở bên này hồ, con gái làng Tây Hồ có mấy đầu ngón tay đều bị thành chai vi se sợi! Sau này người Pháp mang hàng chỉ đẹp, nhiều và rẻ sang bán nên các bà chuyển nghề làm hàng xáo. Chính do làm hàng xáo mà chị em bà Tiếp đã có người lấy chồng làng Thái bên chợ Bưởi.

Trở lại đình làng, hỏi chuyện các cụ về các vị lang ngày xưa, các cụ nói: Làng Tây Hồ cũng có nhiều cụ làm thuốc giỏi, triều vua Nguyễn, có cụ Điều Hộ năm xưa được mời vào cung để chữa bệnh cho Đức Từ (mẹ Vua). Ông chữa khỏi, được phong hàm Cửu phẩm. Ngoài cụ Điều Hộ, còn có các cụ như cụ Lang Lam, cụ Cai Tứ (chữa gia truyền các bệnh) cụ Phó Yên (chữa đau bụng đi ngoài) cụ lang ếch (chữa đậu lào, cảm cúm, chết đuối, chết ngạt và chó dại cắn) cụ lang Tòng (chuyên về thảo dược chữa đinh râu chín mé), cụ lang Bà Nguyễn Thị Vân (có bài thuốc chữa hậu sản ), cụ Nguyễn Thị Ty cũng là một bà lang giỏi.


(Tài liệu tham khảo: Hồ Tây Phủ Tây hồ, Danh tích Tây hồ, Lãng đãng Hồ tây).


... CÒN TIẾP ...



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 09.10.2017.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004