Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới



Niềm Hạnh Phúc Đơn Sơ

Giữa Một Thời Cơ Cực









K hỏang đầu năm 1947, Pháp đánh chiếm quê tôi ( Quảng Trạch - Quảng Bình ), gia đình tôi phải tản cư ra Nghệ An. Trải qua mấy tháng trời long đong vất vả, chịu bao đau thương mất mát, ăn mít nài, củ chuối, vượt khoảng đường rừng, đường ruộng hơn 200 cây số chân đất, cha mẹ tôi mới đưa được 3 anh em chúng tôi đến vùng tự do. Khi ấy tôi mới hơn 4 tuổi, thường ngồi thu lu trong thúng để mẹ tôi gánh đi ... “Đoạn trường thuở ấy bây giờ còn kinh ! “ 

Nhờ một người bạn của người anh thứ 2 đang công tác tại Liên Khu bộ Liên Khu 4 giúp, chúng tôi về sống ở một xóm chài thuộc huyện Quỳnh Lưu. Trong hoàn cảnh kháng chiến đầy gian nan khổ hạnh, với người lớn thì có biết bao vất vả, lo toan, bao hy sinh, mất mát ... Nhưng với một đứa trẻ như tôi thì gần 2 năm sống ở đây lại là thời kỳ hạnh phúc nhất, thời kỳ mang đầy kỷ niệm đẹp vui - rất hiếm hoi trong thuở ấu thơ !

Cuộc sống mới của gia đình tôi được bắt đầu từ tay trắng và bằng sự đùm bọc chân tình của bà con vạn chài. Cha tôi vốn là một nhà nho nên việc cấy cày không thông thạo lắm; chài lưới lại càng không hay. Bốn anh trai lớn đã thoát ly đi công tác và chiến đấu ngay từ những ngày đầu kháng chiến. Ba anh em còn lại nhỏ bé chưa giúp được gì. Mọi gánh nặng lo toan hầu như đều do mẹ tôi gánh vác. Tuy tuổi mới gần năm mươi, mẹ tôi rất gầy yếu bởi sự vất vả, bởi nỗi nhớ thương, bởi cuộc tảo tần và lo toan dằng dặc ... Mấy năm sau, về quê, do sức yếu lại đi công việc xa, bị mắc bệnh thương hàn, mẹ tôi đã ra đi, không thể chờ đến ngày gia đình đoàn tụ !

Nơi chúng tôi đến sinh sống là một xóm chài với khoảng chục nóc nhà tiều tuỵ. Sau trận đói năm Ât Dậu, nghe nói làng này đã vơi đi gần một nửa. Xóm nằm lọt giữa một lạch sông và một cái đầm rộng. Hàng ngày nước thuỷ triều lên xuống, xóm lúc rộng lúc hẹp, lúc là đất liền, lúc là đảo nhỏ. Tuy là xóm chài nhưng có rất ít thuyền, chỉ dùng bè tre là chính. Tại xóm quá nghèo chăng? Gia đình tôi vẫn làm ruộng vì đã quen tay, nhưng sống với xóm chài nên không bao giờ lo thực phẩm. Bà con ở đây sống rất chân tình và tốt bụng; tốt bụng đến ngạc nhiên. Sáng sớm trước khi gánh cá đi chợ, họ thường gọi mẹ tôi để cho lúc mớ cá, lúc bát tôm. Thực ra thì thời ấy những thứ này giá trị chẵng bao nhiêu, nhưng quý ở tấm lòng rộng rãi. Suốt hai năm ở đấy ngày nào cũng vậy. Có lẽ ngoài thịt và đường, không cần mua gì nữa! Đường rất cần để rang tôm, làm nước hàng kho cá. Nếu muốn tự bắt lấy tôm cá thì cũng chẵng khó khăn gì. Một đứa trẻ 5, 6 tuổi như tôi vẫn có thể xuống sa ngồi nhặt cá, bốc tôm. Cửa đập mở, nước chảy mạnh hất những con cá, con tôm lên mặt sa, quờ tay là bắt được. Tôi thường chỉ bắt cá to và ngon như cá buôi, cá đối. Vùng này có cá vược và cá chép nước lợ cũng khá ngon và thường gặp. Nếu muốn ăn cua bể chẵng khó khăn gì. Chúng tôi ra ngoài bãi khi nước triều xuống tìm những nơi có màng đất trắng (người ta gọi là mà) cạnh bờ là gặp hang cua, dùng một cái que nhỏ thọc vào, lừa cho cua cắp rồi kéo ra. Khi bắt cua phải nhanh tay nhanh mắt không là bị càng cua cặp đứt tay! Lâu lâu  người ta lại tháo cống cho cạn nước đầm, cua cá ê hề không có sức mà bắt. Cua cá ở đây sao mà lắm thế! Có lần tháo cống, anh em tôi chỉ tìm kiếm quanh cửa sa mà bắt được gần trăm con cua bể, chưa nói gì đến cá. Đừng tưởng là chúng tôi thu lợi lớn. Hồi ấy cua cá rất khó bán, mặc dù rất rẻ mạt. Mà ăn mãi rồi cũng chán. Với anh em tôi thì bắt cua cá gần như chỉ đơn thuần là một trò giải trí. Tôi đi câu bằng một sợi dây chuối, buộc một con tôm làm mồi câu mà không cần đến lưỡi câu. Ơ đây có loài cá bớp khá to, giống như cá bò, mồm rộng hoác, đen trùi trũi, rất háu ăn; chỉ cần thả mồi câu xuống là chúng đớp liền và nuốt ngay vào bụng! Loại cá này chẵng thấy ai ăn, có lẽ vì tanh và không ngon. Chúng tôi thường câu rồi vất, chỉ để vui. Có loại lươn biển mà người ta gọi là con lệch cũng tham ăn như vậy. Loại này sau khi đớp mồi là chui vào hang đá, vất vả lắm mới lôi lên được. Chúng to bằng cổ tay và dài chừng mét rưỡi. Chúng tôi cũng chỉ câu để nghịch chứ không ăn. Vào khoãng tháng tám mùa rạm đi thành bè cũng thật thú vị. Rạm thường kết thành từng đàn lớn có tới triệu con và tạo thành từng mảng trôi theo dòng nước. Những đêm có rạm bè, cả xóm như vào hội. Mọi người tụ tập gần cửa cống, đứng thành hàng dài làm một dây chuyền. Tất cả thúng mủng bồ bịch, thùng vại trong xóm đều đem ra hết để chứa rạm. Hai người khoẻ mạnh và nhanh nhẹn ngồi hai bên thành sa, trong tay cầm sẵn cái rỗ to. Cửa cống mở, nước chảy ào ào, đẩy đàn rạm xuống, dày như những đám bèo tây. Hai người ngồi dưới sa thi nhau hốt đầy vào thúng rồi trao lên bờ, nhận cái thúng khác để xúc tiếp. Công việc cứ tiếp diễn cho tới khi những tấm cót, những cái bồ, cái sọt chất đầy rạm thì thôi. Tất cả mọi người từ ông bà già tới trẻ con đều tham gia vào cái “dây chuyền khai thác “ này nên vui như đêm hội. Mỗi đêm như vậy xóm thu hàng tấn rạm. Không kiếm đâu ra đủ chum vại để muối. Rạm tươi muốn bán thì trước hết phải mất công cắt bỏ càng chân rồi rang qua . Nhưng một gánh rạm gánh đi suốt ngày chưa chắc đủ mua nỗi cân gạo, có lúc gánh về già nửa! Cá tôm còn khó bán nữa là ... Người ta kể rằng hồi năm 45 vì không thể chỉ ăn cá mà sống được, dân xóm chài đã phải đưa nhau lên ngọn núi cạnh làng Nhân Huống nhặt rau má. Lúc này thì họ cũng chỉ ăn cá với ngô khoai, chẵng mấy khi đủ gạo .

Cái đầm rộng mông mênh này là nơi chăn vịt rất lý tưởng. Trong xóm cứ đến mùa mỗi nhà lại thả chừng vài trăm con. Nhà tôi cũng vậy. Vịt thả giữa đầm, tự kiếm tôm cá mà ăn, đến bữa cho ăn thêm thóc, tối lùa vào chuồng là được. Cá tôm cua cáy nhiều nên vịt rất chóng béo. Gần vùng này có một nhà địa chủ, nghe nói giàu lắm, phất lên nhờ nuôi và ấp trứng vịt. Thỉnh thoảng tôi có thấy người con trai ông ta cưỡi ngựa chơi rông qua xóm. Hồi ấy mà cưỡi ngựa thì oách ghê lắm! Người ta đồn cậu ấm này chỉ mới ngoài hai mươi mà đã có tới ...7 cô vợ ! Chuyện thật hay chỉ đồn bậy thì tôi đâu biết. Nhà ông địa chủ  nuôi rất nhiều vịt đẻ. Đàn vịt cũa ông ta thường thả ở đầm này, đông tới vạn con. Hàng ngày sau khi vịt ăn no, nhiều con đẻ rơi ngay trên bãi, hầu hết là trứng non, vỏ mềm . Nhiều hôm đi học về, chúng tôi ra bãi, đi một lượt là thu được non rổ trứng. Hôm không thích nhặt trứng thì đi tìm cua bấy. Cua bấy là cua mới thay áo, toàn thân mềm nhũn, ăn rất tuyệt. Sau này tôi đi nhiều nơi, ở nhiều vùng mà không thấy một nơi nào nhiều cua lắm cá như ở nơi đây. Hồi ấy tôi cũng mải chơi, có lúc say nhặt trứng, bắt cua, quên luôn giờ giấc, tối mịt mới về. Nhiều lần hí hửng mang một rổ đầy cua và trứng về nhà, chẵng những không được khen còn bị mẹ mắng cho một trận. Không bị đòn đau nhưng vẫn thút thít suốt chiều! Mẹ tôi chẵng bao giờ đánh con, lại thường hay kể chuyện và dạy tôi học ca dao tục ngữ. Tuy chưa đến trường nhưng cha mẹ và các anh tôi đã dạy tôi học chữ . Cha tôi còn dạy tôi làm thơ, từ thơ lục bát tới thơ Đường luật, ngay từ khi tôi mới biết đọc biết viết. Cũng nhờ cha tôi mà tôi thuộc rất nhiều thơ của Hồ Xuân Hương, Tú Xương, Yên Đỗ ... Tôi còn thuộc nhiều thơ của cha tôi. Tôi thích thơ và trở thành nhà thơ có lẽ là do ảnh hưởng của cha tôi từ ấy .

Hàng ngày tôi thường trèo lên cây tra mọc trước sân, cành vươn ra đầm, ngồi ngắm đất, ngắm trời, nghêu ngao đọc, rồi nhảy tùm xuống nước bơi lặn. Tôi đã thành một chú bé xóm chài thực sự. Cây tra quanh năm rợp bóng, lá xanh mướt là chổ nghỉ mà tôi yêu thích nhất. Những ngày hè nắng gắt tôi hầu như không rời khỏi cây tra, có lúc nằm ngủ ngay trên cành cây. Trước khi rời mảnh đất này về quê, tôi ngồi lỳ trên cây suốt một ngày, như không thể nào rời xa được. Chẵng biết vì tôi yêu cây hay vì cây quyến luyến cùng tôi! Gần trọn năm chục năm rồi mà tôi như còn nhớ rõ cây tra xanh mướt mang đầy kỷ niệm ấu thơ này.

Khoảng gần cuối năm 1948, cha mẹ tôi cho tôi đi học lớp 1 ở làng Ngoạ Trường gần đó. Tôi chỉ học ở đây chừng năm sáu tháng. Thế là tôi có thêm khá đông bè bạn. Trong số bạn bè tôi nhớ nhất một người bạn trai có ngón chân út bị cụt. Hồi 3 tuổi do nghịch cuốc, tôi cũng bị cụt một ngón chân như thế! Nhưng khi biết tôi có tới 7 anh em trai, bạn ấy rất ngạc nhiên. Thì ra ở vùng này những gia đình hiếm hoi do mê tín thường cắn cụt ngón chân út của đứa bé trai khi mới lọt lòng! Cái tập tục này thật man rợ, nghĩ tới mà ghê người. Chẵng biết bây giờ còn ai làm thế nữa không? Còn có một tập tục lạc hậu nữa mà tôi nhớ mãi. Đó là tệ tảo hôn! Nhiều đứa bạn quanh xóm tuy mới lên năm lên sáu mà đã có vợ, có chồng. Một bà hàng xóm nói với mẹ tôi là định cưới vợ cho thằng con lên bốn để nó có bạn ... trông gà !

Tôi ở đất Quỳnh Lưu chỉ gần 2 năm, nhưng đó là thời gian hạnh phúc nhất mà tôi có được trong thuở thiếu thời. Sau ngày hồi hương, chạy giặc liên miên, tôi hầu như không còn biết đến những niềm vui trẻ nhỏ. Làm ruộng, đào hầm, vót chông, canh gác, đi trinh sát và liên lạc ... Chiến tranh đã tước đoạt mất gần trọn tuổi ấu thơ của tôi và của biết bao nhiêu bạn trẻ như tôi. Thế hệ chúng tôi là vậy! Phải chăng đó chính là sự trả giá trước cho những niềm vui mà các thế hệ con cháu chúng tôi có được sau này?

Chắc bây giờ các em nhỏ nơi xóm chài mà tôi ở ngày nào đã có trọn niềm vui trẻ nhỏ mà tôi hằng nuối tiếc ... Ôi, niềm hạnh phúc đơn sơ của một thời cơ cực, tôi có thể nào quên !

 

Thu 1997



VỀ THĂM LẠI CHỐN XƯA

 

Không là quê mà như đã là quê

Tôi từng sống nơi đây suốt hai năm thuở nhỏ

Cái xóm chài chỉ chừng mươi nếp rạ

Và dăm con thuyền lá gió lay rung.

 

Gia đình tôi thuở ấy khó vô cùng

Giặc đuổi chạy, tay không ra xứ Nghệ

Cái xóm nhỏ đơn sơ và quạnh quẽ

Đã đắp đùm những ngày tháng bơ vơ!

 

Tôi đã từng đi xúc rạm mò cua

Bắt con tép con tôm bằng bàn tay nhỏ xíu

Không thể kể hết nhọc nhằn túng thiếu

Mà mẹ tôi xoay xở suốt đêm ngày...


Thành cư dân của xóm nhỏ thuyền chài

Tuy thiếu gạo nhưng cá tôm dễ kiếm

Gặp con nước rạm bè đông như kiến

Cả xóm nghèo mở hội dưới m trăng!

 

Sông Lạch Quèn như dải lụa loằng ngoằng

Tôi bơi lặn từ ngày lên năm tuổi

Cha tôi dạy "có phúc thì hay lội"

Nên tôi bơi tôi "nhởi" với dòng sông.

 

Rời xóm chài đã ngót bảy mươi năm

Từ trẻ nít nay lưng còng tóc bạc

Tôi vẫn nhớ, vẫn yêu, vẫn coi là thân thuộc

Một xóm chài nghèo khó đất Quỳnh Lưu!

 

Nghệ An 1/2015

 

*Trong cuộc kháng chiến 9 năm gia đình tôi đã tản cư ra Nghệ An, sống 2 năm tại xóm chài

làng Ngọa Trường, Quỳnh Diễn, Quỳnh Lưu, Nghệ An (từ1947-1949). Sau 66 năm tôi mới

có dịp về thăm lại mảnh đất này.



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 10.9.2017.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004