Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới

Nguyễn Tuân



NHỮNG MẮT XÍCH

TRONG SỢI DÂY XÍCH THỜI GIAN





C huyện này xảy ra đã khá lâu, khi ở miền Bắc Việt Nam còn có chiến tranh. Sau cuộc dạo chơi bằng xuồng trên con sông Đà cùng với nhà văn Nguyễn Tuân, chúng tôi thu xếp chỗ nghỉ đêm trong căn nhà sàn tre lá. Xuyên qua những khe nhỏ trên tấm tường liếp đan ken tinh tế, những vì sao lấp lánh, treo lơ lửng trên ngọn núi thấp đến nỗi có cảm giác có thể đưa tay với được. Gần bên, trong những vườn cây của nông trường “Cao phương” lấp lánh dưới ánh trăng những trái cam to vàng ươm, giống hệt như những trái thiên đường mà Albrekht Dưurer treo trên những cành cây sau lưng Eva*.

Cụ” Tuân - bạn bè của ông gọi ông như vậy, - lột vỏ không thương tiếc trái cam của Dưurer, đốt lên ba cây hương. Làn khói cay cay của hương phải lập tức tiêu diệt những con muỗi xung quanh, bằng việc đó bác bỏ cái chất lỏng trong suốt với cái tên dài khác thường đựng trong cái ve của tôi được tôi vẩy ra. Bản thân nó, trong cái thế kỷ của chúng ta, được mệnh danh là “thế kỷ hóa chất”, cái thứ như thế này đã được coi là cổ hủ. Tôi thông báo điều này cho cụ Tuân. Thế là cụ bắt đầu nhớ ra mọi thứ định nghĩa của cái thế kỷ XX náo động. Thế kỷ Hạt nguyên tử, Thế kỷ Điện năng, Tụ động hóa, Vũ trụ… Nói chung, chúng ta đã thấy rõ, nếu như thế kỷ XIX còn có được điện khí và hơi nước, thì phần của các thế kỷ khác hầu như chẳng còn có được chút gì. Và chúng tôi đã tranh luận về thời đại chúng ta - thời đại vũ bão, đầy mâu thuẫn và nhiều bộ mặt. Bấy giờ tôi ngạc nhiên ông nhà văn, sống ở một đất nước, mới đây còn bị xếp vào số những nước lạc hậu, và không phải một lần trong đời mình đã nếm trải “nền văn minh tiên tiến” khá là cụ thể - qua những thành quả của nó trong lãnh vực tàn phá và giết chóc, lại hiểu biết nhiều đến vậy về những thành tựu của tư duy con người và các khoa học ứng dụng. Cụ Tuân đã tổng kết cuộc tranh luận của chúng tôi bằng một cách hoàn toàn bất ngờ. “Và tôi còn, - cụ nói, - đọc của một trong số các nhà triết học đương đại nổi tiếng, rằng trong nghệ thuật thế kỷ chúng ta - đó là thế kỷ của thể loại tư liệu, thế kỷ của sự kiện. Hóa ra, tôi như một cây chính luận nói chung - không hề cổ hủ, mà là con người đương thời và hợp mốt. Vậy là tôi bắt đầu, - cụ Tuân nói tiếp, - viết không có các dấu ngắt câu, và cái đó thậm chí đã tới với cậu…”.

Tôi hiểu ra là những lời của tôi không hề làm phật lòng cụ, và điều đó tất nhiên chỉ là chuyện đùa. Nhưng, như người ta thường nói, trong mỗi chuyện đùa… Tôi mãi vẫn không thiếp ngủ được, trăn trở mãi về cuộc tranh luận của chúng tôi. Tất cả các cuốn sách của Nguyễn Tuân, ngoài cuốn cuối cùng, vừa ra sau này, đến lúc đó tôi đã đọc hết - và đọc không chỉ một lần - từ đầu đến cuối, cắt từ cái tạp chí và báo các bài bút ký và tiểu luận của cụ. Tôi xin thú thực, ngay từ đầu, còn ở ghế đại học, khi tôi học tiếng Việt, tôi đã bị hấp dẫn bởi sự trong sáng và giàu hình ảnh trong ngôn ngữ của cụ, sự tinh xảo và hoàn mỹ trong bút pháp của cụ. Nhưng về sau tôi còn đánh giá cao cả một tính cách khác nữa, không kém quan trọng trong văn xuôi của Nguyễn Tuân - đó là tính chất nhiều chiều trong văn chính luận của cụ. Cụ biết không chỉ tái tạo những miêu tả nhiều màu sắc và bao quát “môi trường vật chất” và những chân dung con người, mà còn nắm được một cách tài nghệ “cách đo đạc chiều thứ tư” - cách đo bằng thời gian. Mỗi bài bút ký của cụ - đó không chỉ là một sự kiện đơn giản riêng lẻ, tự thân của nó, mà - cả ở đây, chắc hẳn, đã bắt đầu cái ranh giới giữa phóng sự báo chí và văn xuôi nghệ thuật - cái mắt xích cơ bản trong “sợi giây xích của thời gian”, tổng kết tính chất trình tự liên tục có lôgich của các sự kiện xảy ra, mà đôi khi - là bực thang đi đến tương lai. Nguyễn Tuân bao giờ cũng quan tâm không chỉ đơn giản một “sự kiện” trong cái gọi là, tính bút ký tài liệu của cụ, mà trước hết quan tâm đến cái ẩn sau mỗi sự kiện - cái ý nghĩa lịch sử và tinh thần của nó. Cụ đánh giá các biến cố và các sự kiện theo thang bực các giá trị nhân loại. Toàn bộ văn chính luận của Nguyễn Tuân đặc biệt mang tính chất “tự thân” - không đơn giản ở phương diện lập trường của tác giả, các kết luận và các đánh giá của tác giả, mà trong mỗi bút ký của cụ tác giả nhất thiết là một nhân vật hành động, không phải là người quan sát, mà là người tham gia sự kiện đang diễn ra. Và vì thế mỗi tác phẩm của cụ mang trong bản thân nó một trữ lượng cảm xúc cao, Nguyễn Tuân - cây bút văn xuôi chính luận hướng tới không chỉ, mà đôi khi cả không chỉ tới tri thức và suy tư khỏe khoắn của người đọc, mà cả tới những cảm xúc và trí tưởng tượng của người đọc. Tác động của những tác phẩm xuất sắc nhất của cụ đối với người đọc có thể sánh với tác động của thơ ca, và, chắc hẳn, ở đó là điều bí mật của chuyện, tại sao nhiều tác phẩm trong số những tác phẩm “thời sự cập nhật” nhất của cụ vẫn được đọc một cách thích thú một thời gian lâu dài sau khi tính cập nhật - hình thức của các tác phẩm ấy đã mất đi tính chất bén nhạy của mình.

Tôi nghĩ rằng, đối với các nhà sử học trong tương lai bẩy trăm trang văn chính luận tập hợp trong bốn cuốn sách cuối cùng của Nguyễn Tuân sẽ là một bổ sung đáng kể đối với các tài liệu, các tấm bản đồ và những con số. Những cuốn sách này thấm đượm niềm hân hoan tưng bừng của hai chiến thắng vĩ đại của Việt Nam - cuộc chiến hiện nay và cuộc chiến trước đây đã kết thúc từ hai chục năm trước. Nhưng các tác phẩm ấy còn nói về một điều khác: về cái điều hai chiến thắng kia đã giành được bằng một cái giá như thế nào - về sự kiên cường và lòng dũng cảm, về những hy sinh mất mát và về nỗi đau đớn của những mất mát không thể bù đắp được. Những cuốn sách này - là chứng cứ hai mươi bảy năm lịch sử Việt Nam: từ những trận chiến đầu tiên với bọn thực dân vào cuối năm bốn sáu và cho đến mùa xuân chiến thắng bẩy mươi ba - hai cuộc chiến tranh, khi tự do mới giành được đã được bảo vệ; và nền hòa bình không lâu dài giữa những khoảng trống ở giữa hai chiến thắng ấy, khi đã khẳng định, và, như ngày nay chúng ta thấy, một cách không phá nổi, các cơ sở của chế độ mới xã hội chủ nghĩa. Và vì thế trong văn chính luận của Nguyễn Tuân cảm thấy rõ ràng niềm vui của thêm một chiến thắng vĩ đại thứ ba của Việt Nam - chiến thắng đối với sự bất công và thói hủ lậu cũ đối với thiên nhiên hùng mạnh chống đối lại các dự định sáng tạo của con người, - chiến thắng, giành được không còn bởi sức mạnh của vũ khí, mà là sức lực của lao động và trí tuệ của một nhân dân đã được giải phóng.

Về mặt tinh thần và phong cách sáng tác của mình Nguyễn Tuân, - là một nhà văn đương đại và dường như không giống ai trong quá khứ. Nhưng dù sao đi nữa… Dù sao đi nữa “truyền thống tư liệu” trong văn xuôi Việt Nam tính ra cũng có tới gần tới năm trăm năm (ở đây không kể tới các bộ sử biên niên), mặc dù trước đây nó khác, tất nhiên, không giống như hôm nay. Ta hãy nêu ra bộ Thập giới cô hồn quốc ngữ văn nổi tiếng của Lê Thánh Tông. Rồi sau đó, giờ là ở thế kỷ XVIII, tập Thượng kinh lý sự của Lê Hữu Trác, muộn hơn - Tang thương ngẫu lục của Phạm Đình Hổ và còn nhiều cuốn sách khác… Tôi chỉ nêu ra ở đây những sách, theo tôi, lý thú nhất. Nhiều cuốn được viết theo thể loại bút ký hành trình - Thể loại yêu thích của Nguyễn Tuân. Nhân tiện phải nói thêm, cả trong thơ ca cổ điển Việt Nam, mà Nguyễn Tuân yêu thích và am hiểu tường tận, cũng thấy sự quan tâm đến “tính tư liệu” (tới những sự kiện chính xác, những con người cụ thể, những địa danh rõ ràng); hơn nữa các nhà thơ cố gắng quay ngược sự kiện đã được biết, cái vật quen thuộc phô ra mặt còn chưa quen biết, tìm ra cái lạ trong cái bình thường… Thì “bước đi” yêu thích của Nguyễn Tuân chẳng phải như thế sao? Và đôi khi các bút ký của cụ với những khúc thơ ca dày đặc và những đoạn sáng tác dân gian lồng vào mới thật giống văn xuôi cổ điển với những điểm xuyết thơ ca nhất thiết phải có!

Nguyễn Tuân là nhà văn với tính cách dân tộc được biểu hiện rực rỡ. Cụ viết về Hensinhki, về Moskva hay về Odessa - suy nghĩ của cụ thường xuyên hướng về Việt Nam, nơi cụ khai thác ra những thí dụ tương tự, đem so sánh, ở đó là ngọn nguồn niềm hứng khởi sáng tạo của cụ và người bạn đọc của cụ. Cụ hiểu biết kỹ đất nước của mình. Trên những nẻo đường đất nước cụ đã đi bộ, đi xe ngang dọc vậy là đã hàng mấy chục năm trời rồi. Và đất nước quê hương, nhân dân đất nước ấy - trên miền Bắc và ở miền Nam - đối với cụ luôn luôn là một thể thống nhất: về điều này cụ viết với tất cả niềm say mê nồng nhiệt bản chất của mình, tương lai của Việt Nam đối với cụ không tách rời việc thống nhất dân tộc. Không phải ngẫu nhiên chính Nguyễn Tuân trong quá trình nhiều năm đã giữ mục “Thư vào Nam” trên Đài phát thanh Hà Nội. Xin các bạn hãy cùng nghe trả lời của một trong những người nhận thư của Nguyễn Tuân - nhà văn miền Nam Anh Đức: “Tôi không phải có một mình ngồi nghe bác, bên cạnh tôi cùng ngồi nghe là Lý Văn Sâm(1). Anh ấy thán phục sự khéo léo của bác xây dựng cái nền tư liệu cho bài bút ký của mình, sự phong phú và sáng sủa, sức tưởng tượng của bác và nghệ thuật cổ vũ mọi người bằng sức mạnh của ngôn từ tìm được một cách chính xác”. Đến đây, như người ta thường nói, chẳng còn có thể thêm bớt gì được nữa.

Nguyễn Tuân trong một bài bút ký đã ví mình với một người cần cù đãi vàng ròng của những trái tim con người. Và thứ vàng ấy cụ không chỉ tìm thấy ở các con sông Việt Nam của mình, mà cả trên bờ sông Moskva, Angara, và Volga. Những từ “nước Nga” và “Cách mạng” đối với cụ trở thành các biểu tượng. Cụ đã viết về các thánh địa của tháng Mười - Razlip, “Rạng đông” và Smolnưi, về căn hộ của Lênin trong Kremli và về Quảng trường Đỏ. Đã viết về Lênin, và sự vĩ đại của tư tưởng Lênin, thể hiện trong kế hoạch Điện khí hóa nước Nga, về các tổ máy phát điện Nhà máy Thủy điện Hữu nghị và về những chuyến bay đầu tiên vào vũ trụ. Đối với cụ ái lực và mối giây liên lạc giữa hai cuộc cách mạng - Tháng Mười và Tháng Tám, cũng như giữa cuộc chiến tranh vệ quốc của chúng ta và những trận chiến vì tự do của Việt Nam bao giờ cũng là hiển nhiên. Không phải ngẫu nhiên mà hầm nhà Xtalingrat, nơi Paulus(2) cùng bộ chỉ huy của mình bị bắt làm tù binh gợi cho cụ nhớ đến cái hầm Đờ Castre ở Điện Biên Phủ. Và trong những ngày tháng gian khó của cuộc chiến tranh mới đây không phải một lần cụ đã nhớ tới chủ nghĩa anh hùng của những người Xô Viết, đã bẻ gãy xương sống của con thú phát xít.

Như tất cả các người đồng hương của mình, Nguyễn Tuân đánh giá cao sự giúp đỡ, mà nhân dân chúng ta đã dành cho Việt Nam, lúc đó đang chiến đấu chống bọn đế quốc Mỹ. Con mắt tinh tường của cụ lập tức nhận ra cả ổ bánh làm từ bột mì Xô Viết tại các nhà ăn Hà Nội, cả những cỗ xe zil mới toanh chạy trên các nẻo đường, cả những quả tên lửa nhắm thẳng lên trời, - những quả tên lửa ấy, giống như nông dân Việt Nam, cụ gọi là “những con rồng lửa”. Nhưng hơn hết thảy, theo tôi, cụ thích nhìn ngắm những con tàu dưới lá cờ đỏ búa liềm, đậu ở bến cảng Hải Phòng. Trèo lên boong tàu cụ đã trò chuyện rất lâu với các thủy thủ và xem xét các tấm bản đồ với các tuyến đường đi trên biển. Sự quan tâm chú ý của cụ đối với những con đường đại dương màu xanh hoàn toàn hiểu được, bởi vì sau chiến thắng các chuyến chuyên chở thiết bị cần thiết cho công cuộc hồi phục các nhà máy, đường sá và các thành phố của Việt Nam bị chiến tranh tàn phá và dành cho những công trình xây dựng mới được đề ra, - đúng hơn, là đã đang - vận chuyển theo những tuyến đường này. Cụ mơ ước có một dịp nào đó cả bản thân cụ cũng sẽ được đi theo những tuyến đường này; và tôi nghĩ rằng, niềm mơ ước của cụ sẽ thành hiện thực, bởi vì cụ Tuân như chính cụ thích nói, - “mới” sáu mươi tư tuổi…


Trích lời giới thiệu chùm bút ký của Nguyễn Tuân đăng trên Tạp chí “Văn học nước ngoài”, Liên Xô, số 4, năm 1974 - Thúy Toàn dịch


(1) Lý Văn Sâm - Nhà văn miền Nam, nhà chính luận.

(2) Paulus, Fridric (1890-1957) - Thống chế phát xít Hitle (1943), bị quân đội Xô Viết bắt làm tù binh trong trận Xtalingrat.



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả ngày 13.8.2017.


VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004