Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới






CHA CHUNG AI KHÓC?







N ửa đêm trời đổ mưa. Mưa không lớn nhưng rả rích kéo dài cuốn theo nhiều gió lạnh.

Ông cụ lại ho, tiếng thở khò khè vẳng lên gác làm Thanh bồn chồn. Anh có cảm tưởng buồng phổi già nua của cụ chẳng mấy chốc mà nhũn ra thành nước.

Lần từng bước xuống thang gác, Thanh lại bên bàn tìm vỉ thuốc đem đến giường cho cụ.

Vừa cố gắng nuốt trôi những viên thuốc một cách khó nhọc, ông cụ vừa thở hổn hển nắm nhẹ lấy bàn tay anh tỏ ý cám ơn, cái nắm tay lỏng lẻo của một cơ thể tàn lụi sinh lực.

-Ông ngồi lên cho dễ thở.

Thanh đỡ cho ông cụ tựa lưng vào tường, tư thế nửa nằm nửa ngồi. Lưng áo người ốm râm rấp mồ hôi mà hai bàn chân thì lạnh ngắt. Cố giấu tiếng thở dài, Thanh nhẹ nhàng xoa nhiều dầu lên lưng và ngực cụ.

Với gia đình ông cụ, Thanh chỉ là người dưng. Năm ngoái, được người bạn giới thiệu một căn gác cho thuê khá rộng, địa điểm gần trường lại yên tĩnh thích hợp cho sinh viên học hành, Thanh đến xem ưng ý ngay. Anh thuê trên gác còn ông cụ một mình ở nhà dưới.

Những lúc khỏe, ông cụ nhận làm chổi gia công cho cơ sở của một người đồng hương, nghề chính của vợ chồng cụ từ ngày còn trẻ. Góa vợ sớm, cụ nhiều năm gà trống nuôi con bằng công việc này.

Thanh là sinh viên nghèo, đồng lương gia sư buổi tối khiêm tốn cộng với số tiền ít ỏi mà mẹ anh dưới quê chắt chiu gửi lên rất thất thường, khiến anh nhiều khi khốn đốn. Biết hoàn cảnh Thanh như thế, thời gian sau này ông cụ không thu tiền nhà nữa, cụ bảo chỉ cần có anh ở chung cho bớt cô đơn thôi.

Giữa hai người nảy sinh một tình cảm đặc biệt. Họ lo lắng, an ủi lẫn nhau, gắn bó như ruột thịt thật sự. Nhất là Thanh, ngoài chia sẻ mọi buồn vui với ông cụ, anh còn tận tâm chăm sóc mỗi khi cụ đau yếu, nằm thui thủi một mình.

Nhưng ông cụ chẳng phải hoàn toàn cô độc đâu. Cụ có ba con, hai trai một gái: Trung, Thảo và Lễ.

Mấy chục năm về trước, vào một đêm tối trời, Trung -con trưởng của ông cụ- trốn nhà theo bạn bè lên một chiếc thuyền vượt biên để rồi từ đó biệt tăm biệt tích. Nhiều năm sau mới nghe phong phanh rằng chuyến ra khơi ấy xuất phát chẳng bao lâu thì gặp sự cố, bị chết máy lênh đênh nhiều ngày giữa trời biển mênh mông cho đến khi gặp… hải tặc.

Tin dữ khiến cả nhà vừa đau buồn vừa thất vọng, tin chắc Trung đã gửi thân trong hàm cá mập.

Trung đi được chục năm thì Thảo lấy chồng. Chồng cô là con trai độc nhất nên đương nhiên thừa hưởng cơ nghiệp kinh doanh của cha mẹ anh. Công việc khiến hai vợ chồng Thảo quay cuồng, bận túi bụi. Họa hoằn lắm, mới tạt về thăm ông cụ với ít tiền và bọc quần áo cũ của chồng thải ra, hồn nhiên bảo:

-Ba thích thì mặc, cái nào không thích thì làm giẻ lau nhà.

Còn Lễ sau mấy năm kiên trì học nghề thợ bạc tại một tiệm vàng tư nhân, duyên phận đẩy đưa anh rơi vào “tầm ngắm” của cô con gái nhỏng nhảnh của bà chủ. Cưới xong, được mẹ vợ tín cẩn giao cho toàn quyền trông coi tiệm vàng, Lễ đổi đời nhanh chóng. Công việc mới mẻ vô cùng hấp dẫn ấy chiếm hết thời gian nên anh rất ít khi về nhà thăm cha.

Thời gian đầu, Lễ cũng nhớ gửi tiền giúp đỡ ông cụ, sau phần vì thái độ khó chịu lộ liễu của vợ, phần vì cụ khí khái không nhận, nên anh thưa thớt dần. Mỗi lần nhắc đến Lễ, ông cụ lại chặc lưỡi, bảo:

-Cái thân “chó chui gầm chạn”, sung sướng gì?

Cứ thế, lâu ngày chầy tháng, cả Lễ và Thảo lãng quên dần nghĩa vụ với người cha cô quạnh. Suốt ngày, họ lao vào kinh doanh, giao tiếp để làm giàu. Tình cảm của họ như mầm lá non bị cơn lốc vật chất cuộc đời vùi dập. Quay cuồng với trăm công nghìn việc, đôi khi họ còn quên ngay chính bản thân họ nữa kia!

Hai chị em nhiều lần vẫn đổ trách nhiệm cho nhau. Người này vạch lỗi người kia và người nào cũng quả quyết rằng người kia thiếu sót hơn mình. Bất phân thắng bại. Cuối cùng, cả hai quay ra kết án người vắng mặt, là Trung. Họ tin Trung vẫn còn sống ở nơi nào đó, chỉquá ích kỷ và vô trách nhiệm nên anh ta bỏ quên cả cha lẫn các em đấy thôi.

Mỗi khi bất đắc dĩ phải chứng kiến cuộc đấu khẩu của các con, ông cụ lòng đầy phiền muộn nhưng chẳng hề trách móc gì. Trái lại, như một luật sư, cụ ra sức bào chữa cho từng đứa. Các con cụ đứa nào cũng ngoan ngùy hiếu thuận cả, chỉ vì cơm áo mà tản mác như chim non xa tổ đó thôi. Cụ tránh để không phải nói thêm rằng: chẳng những xa tổ, chúng còn quên cả tổ nữa kia.

Thành thử mỗi khi nghe Thanh báo tin ông cụ ốm, Thảo và Lễ đều cảm thấy... khó chịu. Như bị quấy rầy, như chính ông cụ là người chịu ơn họ và lại sắp sửa làm phiền họ.

Lễ cho rằng Thảo cáng đáng bổn phận chăm sóc người cha bệnh hoạn mới hợp lý. Còn Thảo viện dẫn những lý do “bất khả kháng”, than vãn con đang đau chồng đang yếu để chối từ. Chẳng biết làm thế nào cho ổn thỏa, cuối cùng họ đành ngọt nhạt đẩy đưa nhờ Thanh chăm sóc ông cụ giúp họ, dĩ nhiên không quên kèm theo ít tiền để anh lo thang thuốc. Thậm chí ngay tháng trước đây, khi ông cụ phải vào bệnh viện nằm điều trị bệnh phổi trở nặng, thì hai chị em cũng không thu xếp chuyện nhà được, chỉ có thể vài ngày một lần nhoáng nhoàng đảo vào thăm chừng tình hình rồi lại sấp ngửa ai đi việc nấy. Ngoài giờ đến trường, Thanh lại có mặt trong phòng bệnh cho tới khi ông cụ xuất viện về nhà.

Một năm sống chung với ông cụ, Thanh thấm thía bài học sống động về tấm lòng trời biển ca người cha. Trước những đứa con lỗi lầm bạc bẽo thì lòng cha vẫn nhẫn nhục, ăm ắp bao dung. Nhìn vào cụ, Thanh lại tưởng tượng đến cha mình, đã mất sớm từ khi anh còn là đứa bé chưa đầy ba tuổi. Hình ảnh lưu giữ chẳng còn gì, nhưng anh vẫn đinh ninh mình cũng có người cha giống y như thế: khoan dung rất mực, đằm thắm yêu thương và hết lòng tha thứ.

Trong thâm tâm, Thanh thầm cám ơn ông cụ. Nhìn vào cụ, mắt anh sáng ra, lòng anh rộng mở. Anh học được thật nhiều, hơn mọi giáo điều trong sách vở mười mấy năm ngồi ghế nhà trường. Anh cũng cảm nhận tình yêu mẹ dâng dào dạt. Cần cù mưa nắng, người mẹ ấy góa bụa từ ngày còn rất trẻ nhưng tuyệt không màng đến hạnh phúc riêng tư, lặn lội thân cò chắt chiu nuôi anh ăn học. Liệu rồi mai sau anh sẽ đền đáp được gì?

Ông cụ rất hay tâm sự với Thanh. Hàng buổi trời, cụ say sưa thổ lộ ý nguyện của mình. Sức khỏe ngày càng suy yếu, cđề cập nhiều v cái chết “đang đến rất gần”. Cụ muốn tang lễ của mình phải hết sức gọn nhẹ, tuyệt đối không phô trương hay kéo rình rang nhiều ngày gây tốn kém. Nhất là không kèn trống ầm ĩ “làm phiền hà hàng xóm”. Không chỉ dặn dò, cụ còn chuẩn bị cho cái ngày phải đến ấy một cách tỉ mỉ và buồn cười: cụ gói ghém tất cả khăn áo, đồ dùng riêng còn mới vào một bọc, bảo để sau này đem giúp lại những hoàn cảnh cơ nhỡ chứ đừng bỏ theo vào quan tài mà... lãng phí. Cụ còn bài bác chuyện cúng giỗ linh đình, vì với cụ “mâm cao cỗ đầy có ích gì cho người chết nữa đâu? Chỉ ly nước nén nhang cũng đủ ấm lòng!”


* * *


Hai tuần sau, ông cụ qua đời. Nhưng tang lễ đã không đơn giản như ý nguyện của cụ.

Nghe Thanh thuật lại từng lời dặn dò của cha, cả Lễ cả Thảo đều kịch liệt phản đối. Ừ thì người chết không cần nghi lễ nhưng người còn sống vẫn phải hàng ngày giao tiếp với nhiều thành phần trong xã hội thì rất cần. Lễ tang cha tổ chức sơ sài quá còn ra thể thống gì? Để người ta “trông vào” chê bai giễu cợt họ ư?

Thế là ông cụ được đặt nằm trong chiếc quan tài loại thượng hạng, trạm trổ hoa văn rồng phượng uốn lượn hết sức cầu kỳ trên lớp vẹc-ni bóng nhoáng có thể soi gương được. Có đến hai giàn kèn tân và cổ thi nhau khua ầm ĩ, làm hàng xóm xung quanh một phen hốc hác vì mất ngủ. Các vòng hoa tươi, hoa cườm la liệt ngổn ngang, của khách viếng đem đến cũng có, của gia chủ tự mua cũng có. Trên bàn thờ đèn nến sáng choang, nghi ngút khói hương, chân dung ông cụ sang trọng trong bộ veston đắt tiền gần như bị hai mâm trái cây đầy lù lù nuốt mất.

Không hiểu sao, tự nhiên Thanh sợ hãi. Anh không dám nhìn thẳng vào chân dung ấy, như sợ chạm vào một nỗi đau. Cả ngày, anh nằm vùi trên gác. Như người lính đã hoàn thành nhiệm vụ, người vẫn cần anh nhất đã không còn cần đến anh nữa, nên anh được thong thả nghỉ ngơi.

Tiếng khóc ai oán từ dưới nhà chốc chốc lại vọng lên xoáy vào tim làm lòng Thanh quặn lại, rưng rưng nghẹn ngào hình dung mình cũng có một người cha như thế. Anh chạnh lòng thương tất cả: thương ông cụ đang bình yên ngủ giấc sâu trong quan tài, thương các kịch sĩ bôi mặt diễn tuồng phía dưới, thương mẹ anh lam lũ miền quê và thương chính thân anh nữa.

Quan tài quàn suốt tuần lễ để “chờ ông anh tôi từ nước ngoài về”, Lễ vờ vĩnh đưa lý do thế và nhiều người cũng vờ vĩnh tin như thế.

Trong tuần lễ ấy, tang gia luôn đầy ắp tiếng khóc than thống thiết của hơn chục mái đầu khăn áo trắng toát như đàn cò. Người ôm một góc áo quan vật vã kêu gào đòi cha. Người rũ rượi phục dưới bàn thờ oán trời trách đất. Người giãy đùng đùng như lên cơn co giật, ấy là vì giận dỗi cha sao nỡ tuyệt tình bỏ đàn con dại? Người nửa hờ nửa ngâm nga khúc bi ca, đại ý kể lể công đức ngọn Thái sơn. Lại có người khẩn thiết nài xin cha linh hiển quay về dắt con theo, như vẫn được cha dắt tay dẫn đi chơi ngày còn thơ bé… Ôi, xót xa bi thảm thế là cùng, hỏi sao khách viếng tang thể cầm lòng mà không để rớt ra vài giọt lệ?

Nổi bật trong đám xô gai ấy là vợ Lễ, vòng vàng đỏ rực hai tay, phấn son kỹ lưỡng. Nhìn chị, người ta bị đập ngay vào mắt sợi dây chuyền dầy cộm đeo hẳn ra bên ngoài áo tang. Có mấy bà nhiều chuyện đã kháo nhau rằng: sợi dây chuyền ấy phải nặng... chục lượng! Có lẽ con số được phóng đại lên nhưng cũng không làm ai ngạc nhiên hay nghi ngờ, vì người ta đều biết chị là chủ một tiệm vàng mà.

Trong những ngày ma chay này rất hiếm khi thấy mặt Lễ. Hình như anh ta đang rối rít tít mù chạy ngược chạy xuôi hoàn thành cho xong thủ tục giấy tờ gì đó để kịp bán căn nhà của cha ngay sau khi chôn cất.

Vắng Lễ, mọi việc dồn hết cho Thảo. Cô sấp ngửa đón khách và tiễn khách, luôn tay thu phong bì và đếm phong bì, chi li tính toán mua sắm nhiều thứ và cắt giảm nhiều thứ... Nhất là hai giàn kèn “Tân Cổ giao duyên” cùng thợ chụp ảnh quay phim khiến cô vất vả quá. Có lẽ không chuyên nghiệp nên họ khá lúng túng vụng về, Thảo cứ phải lăng xăng chạy ra chạy vào “đạo diễn” cho họ đừng bỏ lỡ những thước phim “đắt” nhất.

Vậy ông cụ còn con cháu nào nữa mà đông đúc thế kia? Khách đến viếng tang giờ nào cũng đếm được trên chục người khăn áo trắng lôm lốp luôn túc trực bên quan tài, đớn đau kể lể, bi thương đến xé ruột.

Nhưng ai tinh ý hẳn nhận thấy: những lúc không có khách viếng, tang gia ấy lại ráo hoảnh, chụm đầu vào nhau xì xầm bàn tán đủ thứ chuyện linh tinh trên đời: một bà sồn sồn bị bắt quả tang ngoại tình với “phi công” trẻ, một ông già tự tử vì bị “người tình bé bỏng” cướp trọn gia tài, một bé gái bốn tuổi bị người thân xâm hại, một vụ giật hụi mấy chục tỉ, một bộ phim Hàn sướt mướt lâm li đang chiếu trên Tivi, một món tiền công hậu hĩnh ai đó sắp trả cho một tuần khóc mướn!



.Cập nhật theo nguyên bản của tác giả từ SàiGòn ngày 24.7.2017.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004