Việt Văn Mới
Việt Văn Mới



ĐẾN VỚI

VÙNG ĐẤT ĐỊA LINH NHÂN KIỆT



M ột chặn đường tàu xe rong ruổi ngày đêm. Cuối cùng 3 người Ninh Thuận chúng tôi cũng đã đến nơi vào ngày 06/04 theo lịch hội Trại. Một vài anh em từ các tỉnh khác về dự trại lần này cũng đã có mặt. Nhận phòng ổn định đâu đó xong, chúng tôi xuống bàn tròn nơi lễ tân. Tiếp chúng tôi có nhà văn Tùng Điển. Sơ lược thăm hỏi nơi ăn ở và một vài thông tin cho lễ khai mạc Trại vào 8 giờ sáng mai. Trong chiều hôm đó văn nghệ sĩ các tỉnh gần như đủ mặt.

Rồi thì lễ khai mạc diễn ra, chủ trì có nhà văn Tùng Điển và nhà văn Đinh Công Tốn. Về dự có bên Ban Tuyên Giáo, nhà thơ Bình Nguyên Chủ tịch Hội VHNT Ninh Bình. Sau khi giới thiệu văn nghệ sĩ từ 8 tỉnh về dự Trại lần này. Thông qua báo cáo quảng bá các nơi thắng cảnh cũng như quê hương con người Ninh Bình cho chúng tôi đến và tham quan. Một vài ý kiến của hội viên đến lượt bầu chọn lớp trưởng, lớp phó và nội quy trong thời gian hội Trại.

Mỗi tỉnh có 3 người gồm thơ, văn, nhạc. Hình như phía Khánh Hòa,Phú Yên vẫn còn chưa đến đủ. Tính tổng thể chỉ có 4 nữ, còn lại nam chiếm phần hơn.

Trại xa phố và khu dân cư, cảnh quang gần núi rừng, thêm thời tiết mưa bay bay nên cũng lạnh và hơi buồn. Sau ba ngày nhốt mình trong phòng viết, xem tivi rồi lại ăn,đến ngủ.

Mọi người ai cũng muốn đi đâu đó để tìm cảm hứng cho sáng tác mới.

Lịch đi tham quan các nơi được lớp trưởng Trần Quang Khanh lên kế hoạch, ăn uống, phương tiện đi lại,tham khảo ý kiến toàn trại. Vào giờ cơm chiều,theo nhất trí chung, sáng ngày mai 9/4, anh chị em nào đi rừng Cúc Phương thì đi, một số anh em biết rồi thì ở nhà hay đi đâu đó tìm cảm hứng thì tùy. Hôm sau cả lớp sẽ tham quan Tràng An-Bái Đính. Còn rộng thời gian chúng ta sẽ thêm những điểm khác.


Tấm bảng dựng dòng chữ. Đến với thiên nhiên Cúc Phương trước cửa rừng như thu hút sự chú ý của những ai đặt chân đến đây với 3 câu :

. Bạn không để lại gì ngoài những dấu chân.

. Bạn không lấy gì ngoài những bức ảnh đẹp.

. Bạn không giết gì ngoài thời gian.

Hào hứng trên từng bước chân đạp xuyên lá rừng men theo dốc núi. Theo như lời người hướng dẫn viên cho biết, lên tới đỉnh Cây Chò và thăm Động Người Xưa khoảng 3 cây số đường rừng. Mặc dù thế, mọi người cũng háo hức nói đã đi đến đây thì phải đến thăm cho bằng được Động và Cây Chò ngàn năm tuổi mới thôi!

Xuyên suốt cuộc hành trình ai cũng thở dốc vì quãng đường cứ dài hun hút, đá núi cheo leo, cứ thế mà cả đội hì hục tiến lên phía trước. Đi một lúc rớt từng tóp phía đằng sau. Nhà văn Mai Hữu Phước, nhà thơ Nguyễn Xuân Tư các anh thần tốc quá nên mất hút...

Còn lại chúng tôi cứ nghêu ngao vừa huyên thuyên vừa thở dốc, với cặp đôi nhà văn Bích Nhàn, Y Nguyên cùng những tràn cười đuổi theo phía sau. Nói về Bích Nhàn cô có cái duyên kế chuyện, ai nghe qua, tôi chắc một điều không thể nhịn được cười. Ngày đầu mới gặp tôi và cô hay chuyện trò chụp ảnh cho nhau. Cô cứ chị Như Hoài ơi! cho em kiểu này rồi chị ơi cho em một kiểu kia nữa nhé. Cô thật nhí nhảnh dễ mến, hay biết làm người cười. Ngày xưa trong chiến tranh có câu "tiếng hát át tiếng bom" với chúng tôi bây giờ thì áp dụng "tiếng cười đừng lùi bước" Đúng là 3 cây số đường rừng có khác, hình như càng mong đến nó càng xa thêm. Cũng may mà thời tiết ưu đãi với cái mưa người ta thường gọi "Mưa lâm thâm ướt dầm lá khế". Từng giọt mưa lúc này với chúng tôi thật dễ thương vô cùng. Nó cứ lung linh, lung linh đậu trên phiến lá, rồi bay bay trên tóc, vương vương trên làn môi như những giọt sương mai làm dịu mát đến ngọt ngào. Càng lên cao bao nhiêu càng có những khúc khuỷu quanh co bấy nhiêu, san sát nhau những tán cổ thụ thâm niên tuổi, có những dây leo to ngang tầm một vòng tay ôm vắt ngang triền đồi. Từng chùm hoa rừng vàng hoe với mùi hương ngan ngát, xa xa dãy sương mù như cảnh núi rừng Đà lạt, nhìn quang cảnh mới thơ mộng làm sao!

Tôi và nhạc sĩ Nhất Phương vừa đi vừa nghỉ chân săn ảnh đợi nhà văn Mai Thoa và nhà thơ Nguyên Tâm, mọi người phải công nhận là cô Thoa giỏi thật, với cái tuổi "thất thập cổ lai hy" mà đi bộ ngần ấy đường rừng quả là cừ khôi.

Rồi thì hang động Người Xưa cũng đã trước mắt kia rồi!

Miệng hang đá khá rộng và sâu, nhìn khái quát rừng núi bao trùm cây lá hoang sơ vẻ huyền bí. Đi vào phía trong tiếng nói chuyện với nhau nghe cứ phát ra âm vọng vang vang, vào sâu hơn một chút càng tối, nên mọi người cũng ngại.

Động Người Xưa là một di tích cư trú của người tiền sử. Trong động có 3 ngôi mộ sắp bao quanh là đá. Người ta ghi lại Động Người Xưa được khai quật vào năm 1966. Tại đây đã tìm thấy các loại rìu đá mũi nhọn, dao cắt bằng vỏ trai, chày và bàn nghiên bằng đá, vỏ ốc và xương động vật. Những di vật này đã chứng minh cho thấy cuộc sống định cư lâu dài và hoạt động săn bắt, hái lượm trong thời kỳ đó.

Ngày nay, di tích Động Người Xưa là một trang văn hóa độc đáo trong lịch sử phát triển của nhân loại. Một di sản quý giá nằm trong đối tượng bảo vệ của vườn quốc gia Cúc Phương.

Hơn một buổi đi rừng về, thỏa mãn ao ước lẫn thỏa mãn đôi chân. Với tôi cảm giác ăn ngon, ngủ lại càng ngon có lẽ vì tiêu hao năng lượng nhiều nên nhanh đói, và đôi chân rã rời nên ngủ ngon.

Còn nhớ lúc ở rừng chẳng đã nói với nhau trong tiếng cười, đi rừng về ai mà không ngủ được tức là có vấn đề. Chỉ có một câu duy nhất là ngủ quên chết mới thôi!

Trong giờ ăn sáng mọi người chỉ mỗi câu: hôm qua bên ấy có ngon giấc không? Trả lời nhau với nụ cười bằng mắt. Rồi thì vồi vội về phòng sửa soạn cho chuyến Tràng An- Bái Đính.

Đủ mặt tập trung khi xe đến. Nhạc sĩ Huỳnh Liên phía Khánh Hòa vì lý do riêng anh không đi. Lúc này nhà bếp của Trại chuẩn bị phần ăn trưa gồm: xôi kèm chả lụa bánh mì, thật chu đáo cho người ở nhà lẩn người đi.


Đến với sông nước Tràng An không ai không khỏi đam mê. Chia nhau từng tóp 7 người trên chiếc thuyền nan. Cô hướng dẫn viên vừa chèo thuyền, vừa say sưa thuật lại về vùng đất con người, nơi đã ghi dấu ấn về thắng cảnh thiên nhiên mà tạo hóa đã ban tặng. Một đoàn người kể cả du khách các nơi cứ chiếc trước chiếc sau nối đuôi nhau lướt trên sóng nước. Đội ngũ nhiếp ảnh chuyên và không chuyên của Đoàn chúng tôi dường như hăng say tác nghiệp xuyên suốt hành trình. Sóng nước chơi vơi trong cảnh núi rừng sương khói, tiếng mái chèo khua nước, tiếng hò reo ca hát từ các bạn trẻ xuôi ngược vòng đi đi về về mang một âm hưởng vui nhộn. Đoạn mái chèo điêu luyện lướt qua khúc khuỷu quanh co chui vào hang. Phía trong hang khoảng cách từng bóng đèn đủ để ánh sáng khi xuyên hang cho thuyền qua. Cũng từ những ánh đèn nghiêng chao đáy nước tạo lên thứ ánh sáng mờ ảo xuyên từng vách nhủ đá in hình ánh nước lung linh quyến rũ đến say lòng người. Ai cũng: trời ơi! Đẹp quá...cứ thế mà đua nhau bấm nháy, bấm nháy.

Qua mỗi hang có những nét đặt thù riêng. Cô lái cứ vừa chèo vừa thuyết trình. Từ Bến đò (qua 12 hang khác nhau và 3 đền). Đền Trình xuyên hang Địa Linh rồi xuyên hang Tối, hang Sáng, xuyên hang đền Trần chiều ngược lại, xuyên hang Si, hang Sính, hang Tình, hang Ba Giọt, xuyên hang Nấu Rượu, Phủ Khống, xuyên hang Phủ Khống, hang Trần, xuyên hang Quy Hậu.

Cô đang say sưa bổng ngắt ngang:

Thôi! Thuyền gần đến bờ, Đoàn mình ghé thăm đền Trần khi vào bờ quy định trong vòng hơn nửa giờ đồng hồ chúng ta có mặt về lại đúng thuyền mình vì còn tham quan rất nhiều nơi.


Vừa lên bờ ai cũng tranh thủ ghé vào nơi bán đồ lưu niệm tìm cho mình một món yêu thích về làm quà cho người thân hay bạn bè. Rồi thì cả đoàn người không riêng gì chúng tôi đặt chân leo 175 bậc tam cấp thăm đền Trần.

Đền Trần là ngôi đền cổ rất linh thiêng, hiện được xem là khu du lịch tâm linh sinh thái Tràng An- Bái Đính. Là một trong những giá trị văn hóa vùng cố đô Hoa Lư của tỉnh Ninh Bình. Từ những dòng chữ ghi chép lại cho tôi được biết. Năm 968 vua Đinh dẹp loạn 12 sứ quân lên ngôi Hoàng Đế lấy tên nước là Đại Cồ Việt định đô tại Hoa Lư. Nơi đây còn lưu giữ nhiều cổ vật của triều Đinh- Lê-Lý-Trần. Ngôi Đền thờ vị tướng của vua Hùng đời thứ 18 tước hiệu là Thánh Quý Minh Đại Vương cùng phu nhân. Đền được xây dựng từ triều Đinh hơn 1000 năm trước. Sau nhà Trần vua Trần Thánh Tông cho xây dựng lại bằng đá và đổi tên là đền Trần. Ngôi Đền còn lại như hiện nay (tức là đã hơn 700 năm) Ngôi Đền cổ rất linh thiêng. Triều Đinh- Lê- Lý- Trần lấy đây là ngôi Đền Tứ Trấn phía Nam. Đền có bốn cột đá, là bốn tác phẩm nghệ thuật mà ông cha ta để lại cho hậu thế mãi là điều bí ẩn. Với những nét hoa văn được trạm trổ tinh vi điêu luyện trên đá. Người xưa đặt theo cổ tích của Bộ Tứ Linh là Long- Ly- Quy- Phượng. Ai trong chúng tôi đến đây cũng chấp tay thật trang nghiêm và thành khẩn.


Rời đền Trần, cô lái đưa Đoàn xuyên qua lần lược các nơi, mỗi một nơi như thế tôi cảm nhận như một mê cung nước. Tôi thích nhất là hang nấu rượu. Với truyền thuyết trong hang có mạch nước ngầm sâu hơn 10 m. Tương truyền các bậc tiền bối đã vào đây lấy nước để nấu rượu tiến Vua. Khi nạo vét lòng hang các nhà khảo cổ đã phát hiện rất nhiều bình gốm, hũ, vại và các dụng cụ để nấu rượu. Khi qua hang nhìn thấy hàng loạt những vò rượu xếp hàng dựa theo vách đá, trên cổ từng miệng vò được phủ một lớp vải đỏ thật bắt mắt, bên trên nhủ đá phía dưới vạt nước lung lơi, biết bên trong những vò kia có rượu hay không nhưng thật khiến trong tôi cảm: Rượu từng vò lên men chuếnh choáng...ta say tình sóng nước Tràng An...

Không chỉ tôi say mà dường như một khi ai đó đã từng đặt chân đến đây không say vì rượu thì có lẽ cũng sẽ say vì lời thơ ý nhạc, là tôi cảm như thế.

Tràng An có nhiều đặc sản như quả thị đền Phủ Khống, rượu Tràng An, cá Trầu tiến Vua. Đặc biệt, một đặc sản sông nước Tràng An là cá Rô Tổng Trường đã đi vào ca dao của người dân Cố đô:


Khi đi nhớ cậu cùng cô

Khi về lại nhớ cá rô Tổng Trường.


Và được biết khi tu hành ở đây, Vua Trần Nhân Tông có bài thơ "Vũ Lâm Thu Vãn" được PGS- TS Trần Thị Băng Thanh dịch như sau:


Lòng khe in ngược bóng cầu hoa

Hắt sáng bờ khe vệt nắng tà

Lặng lẽ nghìn non rơi lá đỏ

Mây giăng như mộng tiếng chuông xa.


Đặc biệt, tôi rất ấn tượng khi được thăm và hiểu về lịch sử Phủ Khổng. Phủ Khổng cũng nằm trong khu du lịch sinh thái tâm linh thuộc cố đô Hoa Lư, kinh đô đầu tiên của nhà nước Việt Nam gắn liền với 3 triều đại Đinh, Tiền Lê, Lý. Đây là vùng đất địa linh nhân kiệt. Theo tài liệu ghi lại, Phủ Khổng là nơi 7 vị quan trung thần triều Đinh gắn với lịch sử khi Vua Đinh Tiên Hoàng băng hà, 7 vị quan trong triều đã tự tay khâm liệm Vua Đinh chuyển qua cửa cung 100 chiếc quan tài bằng đồng để đi chôn cất theo 4 hướng Đông, Tăy, Nam, Bắc.

Khi an táng Vua về thì 7 vị quan đã uống chung chén rượu độc để tuẫn tiết giữ điều bí mật về ngôi mộ thật. Đinh Công Tiết Chế là một vị tướng trấn giữ thành nam cảm kích trước nghĩa khí của 7 vị trung thần, nên lập bát hương thờ cúng và trồng bên cạnh một cây thị. Sau khi vị tướng này mất,nhân dân trong vùng đã lập ngôi Phủ để tưởng nhớ các bậc trung thần.

Trải qua thăng trầm lịch sử hơn 1000 năm. Cây thị già đi và đã bị phong ba bão táp đốn gẫy. Bên cạnh là hậu duệ của cây thị già hơn 1000 năm tuổi. Hàng năm thị ra rất nhiều quả, nhưng bao giờ cũng có 2 loại quả, một loại quả to tròn có hạt, một loại quả dẹt không hạt. Thị chín rộ vào trung tuần tháng 8 đúng vào dịp giỗ vua Đinh.

Cạnh Phủ Khổng còn có chùa Báo Hiếu, là ngôi chùa nhân dân Cố đô Hoa Lư dựng lên để thờ anh linh những nghĩa sĩ, đồng bào vì dân vì nước qua các thời, và những vong hồn không nơi nương tựa để nương nhờ cửa Phật và được hương khói quanh năm. Là ngôi chùa rất linh thiêng, mới được tu sửa lại, tất cả các pho tượng thờ tại đây đúc bằng đồng dát vàng. Khi đến báo hiếu các tín đồ Phật tử đều thắp hương cầu cho quốc thái dân an,con cháu thảo hiền với ông bà,cha mẹ.


Sau gần 3 giờ đồng hồ ngược xuôi trên sóng nước Tràng An chúng tôi chia tay đến với chùa Bái Đính.

Ngồi trên xe điện một vòng vào đến nơi tập hợp rồi được cô hướng dẫn viên duyên dáng đưa chúng tôi tham quan. Ngôi chùa nằm ở cửa ngõ phía tây khu di tích Cố đô Hoa Lư, bên quốc lộ 38 B, cách thành phố Ninh Bình 15 km, thuộc xã Gia Sinh- Gia Viễn- Ninh Bình.

Chùa Bái Đính là một quần thể chùa lớn được biết đến với nhiều kỷ lục châu Á và Việt Nam: chùa có tượng Phật bằng đồng dát vàng lớn nhất châu Á, có hành lang hai hàng tượng La Hán dài nhất châu Á, có tượng Di lặc bằng đồng lớn nhất Đông Nam Á... Đây là ngôi chùa lớn nhất và sở hữu nhiều kỷ lục nhất ở Việt Nam. Có diện tích 539 ha bao gồm 27 ha khu chùa Bái Đính cổ, 80 ha khu chùa Bái Đính mới, các khu vực như: công viên văn hoá và học viện Phật giáo, khu đón tiếp và công viên cảnh quan, đường giao thông và bãi đố xe, khu hồ Đàm Thị, hồ phóng sinh...

Chùa Bái Đính gồm một khu chùa cổ và một khu chùa mới được xây dựng từ năm 2003. Chùa nằm trên sườn núi, giữa thung lũng mênh mông hồ và núi đá. Kiến trúc chùa mới hoành tráng, đồ sộ nhưng mang đậm bản sắc truyền thống phù hợp với tâm lý thị hiếu của người Việt Nam.

Chùa Bái Đính cổ (Bái Đính cổ tự) nằm cách điện Tam Thế của khu chùa mới khoảng 800m về phía nam. Khu chùa này quay hướng chính Tây, nằm gần trên đỉnh của một vùng rừng núi khá yên tĩnh, gồm có một nhà tiền đường ở giữa, rẽ sang bên phải là hang sáng thờ Phật, rồi đến đền thờ thần Cao Sơn ở sát cuối cửa sau của hang sáng; rẽ sang bên trái là đền thờ Thánh Nguyễn rồi đến động tối thờ Mẫu và Tiên. Nơi đây nằm ở vùng đất hội tụ đầy đủ yếu tố nhân kiệt theo quan niệm dân gian Việt Nam, đó là đất sinh Vua, sinh Thánh, sinh Thần. Năm 1997 chùa được công nhận là di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Các hạng mục xây dựng, mở rộng khu chùa mới được các đại biểu tham dự đại lễ Phật Đản thế giới 2008 làm Lễ Khánh thành giai đoạn 1, năm 2010 chùa Bái Đính là nơi tổ chức Đại lễ cung nghinh xá lợi Phật đầu tiên từ Ấn Độ về Việt Nam. Đại lễ Phật đản Liên hiệp quốc 2014 - Vesak 2014 do Việt Nam đăng cai đã diễn ra tại chùa Bái Đính trong tháng 3 năm 2014.


Chúng tôi theo chân cô hướng dẫn viên bước trên 300 bậc đá, qua cổng tam quan ở lưng chừng núi đến thăm hang động. Lên hết dốc là tới ngã ba: bên phải là hang sáng thờ Phật và Thần, bên trái là động tối thờ Mẫu và Tiên. Phía trên cửa hang sáng có 4 chữ đại tự "Minh Đỉnh Danh Lam" khắc trên đá do Lê Thánh Tông ban tặng có nghĩa là: "Lưu danh thơm cảnh đẹp". Vua Lê Thánh Tông đã tạc một bài thơ tứ tuỵêt chữ Hán khi lên vãn cảnh ở đây, được dịch như sau:


Đính Sơn danh tiếng thực cao xa

Che chở kinh thành tự thuở xưa

Nhân kiệt, địa linh nên vượng khí

Núi thiêng cảnh đẹp vững sơn hà.


Đang lúc thư thái trong không khí nhẹ nhàng trầm bỗng thì đi cạnh tôi, nhà văn Bích Nhàn bổng nhiên gần như ngất xỉu tay chân lạnh ngắt, mặt tái nhợt, mồ hôi toác ra rất nhiều có lẽ vì quá mệt. Mọi người nghe thế vô cùng lo lắng, may trong đoàn có nhà văn - Bác sĩ Mai Hữu Phước sơ cứu kịp thời. Nghĩ chân khoảng 20 phút thấy bạn ấy khỏe lại Y Nguyên dìu cô ấy cùng chúng tôi tiếp tục thăm một vái nơi rồi đến thăm Giếng ngọc.

Tương truyền đây là nơi thiền sư Nguyễn Minh Không đã lấy nước để sắc thuốc chữa bệnh cho Vua Lý Thần Tông và dân. Giếng xây lại hình mặt nguyệt, rất rộng, có đường kính 30m, độ sâu của nước là 6m, nghe nói không bao giờ cạn nước. Miệng giếng xây lan can đá. Khu đất xung quanh giếng hình vuông, có diện tích 6.000m², 4 góc là 4 lầu bát giác. Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam đã cấp bằng "Xác nhận kỷ lục": "Ngôi chùa có giếng lớn nhất Việt Nam", ngày 12 tháng 12 năm 2007.

Người sáng lập chùa Bái Đính là thiền sư Nguyễn Minh Không. Ông là pháp sư tài danh được Vua phong Quốc Sư và nhân dân tôn sùng gọi là đức Thánh Nguyễn. Khu vực núi Đính nằm cách quê hương đức thánh Nguyễn Minh Không 4km. Lời người xưa cho biết khi ông đến đây tìm cây thuốc chữa bệnh hóa hổ cho vua Lý Thần Tông đã phát hiện ra các hang động đẹp. Ông liền dựng chùa thờ Phật và tạo dựng một vườn thuốc quý để chữa bệnh cho dân. Đền Thánh Nguyễn nằm ngay tại ngã ba đầu dốc, xây theo kiểu tựa lưng vào núi, trong đền có tượng của ông được đúc bằng đồng. Quốc sư Nguyễn Minh Không là con người mang ánh xạ của thời đại nhà Lý. Ông học hỏi, sưu tầm kiến thức y học dân gian, hàng ngày tìm thuốc trong vườn Sinh Dược mà trở thành danh y. Sưu tầm và phục hưng nghề đúc đồng – tinh hoa của văn minh Đông Sơn – văn minh Việt cổ mà trở thành tổ sư nghề đúc đồng. Ông khổ công tầm sư học đạo, để từ một nhà sư ở từ phủ Tràng An ra kinh thành làm Quốc sư, đứng đầu hàng tăng ni trong nước, danh vọng và đạo pháp đạt đến đỉnh cao. Hành trạng của ông thể hiện nên cái không khí của Phật Giáo thời Lý thần bí, kỳ dị, đầy rẫy sự hoang đường nhưng đóng góp hết sức tích cực vào công cuộc phục hưng và phát triển văn hoá dân tộc Việt Nam về nhiều mặt: triết lý, văn học, kiến trúc, mỹ thuật, kỹ nghệ… làm nền tảng cho sự phát triển của văn hoá Việt.

Thời gian quý báu còn lại chúng tôi ghé thăm nhà thờ Đá (Còn gọi là nhà thờ Phát Diệm) Mỗi một nơi đặt chân đến đều lưu lại những hình ảnh đáng nhớ, với những kỉ niệm khó quên trong lòng mỗi người.

Ngày mai là bế mạc Trại và chia tay rồi ai cũng nghe thấy bùi ngùi. Từng nơi ăn chốn ở, từng chòm cây khóm cỏ. Với khung cảnh này khi mới đế lạ lẩm buồn tẻ bao nhiều, giờ thấy thân quen gần gũi lạ,"khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn" Đã vậy ngay chiều hôm ấy lại phải chia buồn vì bố nhạc sĩ Trần Lành mất, em ấy phải gấp rút về Đà Nẵng trong đêm. Niềm vui nỗi buồn cứ chen lẫn vào nhau khiến con người ta thật không thể quên.

Càng không dễ quên đêm giao lưu với Hội VHNT Ninh Bình. Cái không khí sôi động từ MC Mai Hữu Phước. Từ lời hát đi sâu vào lòng người của nhạc sĩ Bá Rê, rồi nhạc sĩ Tự Khuê. Cảm xúc với giọng ngâm của nhà thơ Ninh Đức Hậu, Đặng Diệu Thoa,Lâm Xuân Vi từ phía Hội VHNT Ninh Bình. Và cả giọng thơ trẻ của nhà thơ Quốc Sinh Hội VHNT Khánh Hòa và còn rất, rất nhiều lời thơ ý nhạc chân phương mộc mạc của anh chi em văn nghệ sĩ dành cho nhau nghe mới nồng nàn da diết.


Từng ấy ngày nhanh chóng trôi qua,có lẽ trong mỗi trái tim trong mỗi hơi thở nhịp đập ai đó cũng đã hình thành dấu ấn xuyên suốt quá trình cũng như thời gian...để khoảnh khắc chia tay lòng cứ mãi luyến lưu./.



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ NinhThuận ngày 23.7.2017.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004