Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới








LAGI – MIỀN BIỂN RỪNG




Tặng Ánh Nguyên



N ăm ấy, tôi chừng 8,9 tuổi, hình như vào khoảng 1956,1957 và đó cũng là lần đầu tiên tôi và cả nhà được hưỡng kỳ nghĩ đột xuất về miền biển Phan Thiết bằng xe lữa và cũng từ đó tôi được biết đến Lagi, một vùng biển rừng còn hoang sơ lúc bấy giờ.

Nguyên là sau Hiệp định Genève 1954, đất nước phân chia hai miền Nam, Bắc thì hầu hết trong làng Thanh Dạ, Nghệ An của ông nội tôi, bà con đều di cư vào Nam cả. Thời gian đó, ông tôi lại nhận được thư của ông bác ở Vinh báo tin đã vào định cư tại Vinh Phú Phan Thiết, thế là ông và cả gia đình liền thu xếp ra thăm ông bác ngay.

Tôi còn nhớ, cả nhà tôi đã tíu tít tay xách nách mang hành lý ra ga xe lữa cũ nằm trong khuôn viên công viên 23-9 hiện giờ, để kịp lên chuyến khởi hành lúc 5 giờ chiều.

Cả bầu đoàn thê tử gồm ông bà nội tôi, má tôi, tôi và em trai kế lên 5 tuổi. Vì má tôi có mang theo đứa em gái chưa đầy tuổi tôi nên ông tôi mua thêm vé giường ngủ cho mẹ và em bé. Đoàn tàu đêm rút còi và chuyển bánh chạy về phía ngoại ô hướng về phía cánh rừng Long Khánh Trãng Bom. Tiếng bánh xe nghiến trên đường ray xình xịch làm tôi không thễ ngủ được dù trời càng về khuya, lại thêm sự háo hức sẽ được đến một miền xa lạ, tôi cứ đứng mãi trên toa tàu nhìn ra bóng tối dày dặc cho đến khi tàu ngừng lại ở ga Mường Mán, chúng tôi lục đục xuống ga đi xe lô về thành phố Phan Thiết vào lúc nửa đêm. Gia đình tôi được đưa đến nghỉ tại một khách sạn nhỏ bên bờ sông Cà Ty. Sáng hôm sau thức dậy nhìn xuống đường phố điểm đầu tiên đập vào mắt tôi là một tháp nước cao sừng sững hình dáng rất đẹp và từng đoàn người cầm trên tay những lá cờ nhỏ để đi mit tinh kỹ niệm Quốc Khánh của chánh thể Cộng Hòa thứ nhất ( ông nội tôi kể như thế)

Sau bữa ăn sáng, chúng tôi lại đi xe lô về Vinh Phú nơi ông bác tôi định cư tại một ngôi làng ven biển. Hai nhà gặp nhau tay bắt mặt mừng, nhưng điều tôi bỡ ngỡ nhất là tôi không hiểu ông bà bác và các o tôi nói gì cả, họ nói chuyện với bà nội, má tôi đều thông qua sự dịch lại của ông nội cả, còn tôi và cậu em trai chỉ đứng nhìn va cười trừ.

Trong khi hai anh em cô cậu hơn mấy mươi năm không gặp nhau mừng rỡ hàn huyên tâm sự thì hai đứa trẻ lại thấy chán liền đòi đi tắm biển ngay, mặc cho má tôi trừng mắt ngăn lại, hai ông cụ chìu cháu nhỏ vội dắt ra biển, thế là hai chị em mặc sức vùng vẫy với sóng biển, còn hai ông già thì lại tiếp tục trò chuyện rầm rì.

Điều tôi ngạc nhiên và tò mò nhất mà đã hỏi ông nội tôi ngay sau khi ở nhà ông bác là cách ăn mặc và dáng vẻ của các ông bà,bác và các o tôi có phần khác biệt với các người làng cùng ở Vinh Phú tuy đang ngụ trong một gian nhà tranh đơn sơ sau một dãy đồi cát.

Ông nội tôi kể , gia đình ông bác từ xưa đến trước Hiệp Định là dân thị thành sống ở thị trấn Cầu Giát thành phố Vinh nên cách sinh hoạt , ăn mặc khác phần nào với người làng ta với lại ông bác là một thầy lang có tiếng ở đó nên bác và các o được học hành đàng hoàng nên khi vào đây có o Lan đi dạy học còn hai o Thuyên và Duyên làm việc cho nhà nước, bác Tường Linh thì học xong tú tài đi Nha Trang thi công chức. Do vậy nên các cô tôi thả tóc ngang vai hoặc kẹp tóc, mặc áo trắng, áo hoa, màu tươi chứ không vận áo nâu , áo đen và vấn đầu nhu đa số các bà, các cô trong làng.

Sau một ngày một đêm lưu lại Vinh Phú, ông nội tôi hỏi thăm đường để đi về Lagi thăm các bác của tôi, cháu gọi ông bằng cậu ruột cũng đã di cư vào Nam và định cư ở đó theo chương trình khai khẩn dinh điền của chánh phủ.

Thế là vào buổi sáng kế tiếp, chúng tôi đến bến xe Phan Thiết – Lagi đi về vùng biển rừng đó để thăm bà con bên nội.

Đoạn đường từ làng Vinh Phú đến đất Lagi lúc đó mới mở còn quá gập ghềnh, chông chênh vì vẫn còn nguyên đất đá lỗm chỗm và còn phải xuyên qua một cánh rừng lá buông dày dặc , chiếc xe Dogde nhún nhảy chồm lên rớt xuống trên đường , hành khách ngồi trên xe đều muốn lên ruột theo từng cung đường còn hoang vu, em Bảo tôi lấy làm vui thích trước khung cảnh rừng rậm, những táng lá buông dài như quất ngang vào thành xe vào lưng hành khách, làm má tôi hoảng sợ phải la em tôi ngổi sát vào trong để tránh.

Sau một hành trình thật vất vả, chúng tôi cũng đã đến nơi. Trước mặt tôi là những vạt đất đỏ mới khai phá, những mái nhà tranh đơn sơ và các cô, các bác tôi ngụ ở đó để hành nghề đánh cá trên biển theo chương trình khai khẩn của chánh phủ.


N goại trừ bác Cả Hoài cùng gia đình đi lập nghiệp làm ruộng , làm rẫy ở Võ Đắt (nay là Đức Linh – Bình Thuận) và o Út Giao theo chồng về Xoài Minh, xứ đạo Nghĩa Yên , Giồng Ông Tố đi xuống, ngày đó cũng còn rất hẽo lánh, chỉ có một ít người cùng làng, bà con Thanh Dạ , Quỳnh Lưu cùng đi khai khẩn mà thôi.

Còn lại cô hai Đan, bác ba Lưu, bác Tư Khôi, cô Năm Bình của tôi trú lại ở đất La Gi “đi nghề” trên biển.Hình như các cô bác được cấp ghe thuyền, ngư cụ để đánh cá. Từ đó mỗi sớm tinh sương từng đoàn thuyền tiến ra khơi, và khi thuyền về bến các cô, bác gái ,mợ ,thím đều ra bãi đón cá về, chọn lựa từng loại để ngày mai đem ra chợ bán hoặc chọn cá tươi để làm nước mắm, loại nước chấm mà má tôi thích nhất nên bà thường đặt mua ở đây. Vì vậy , sau này các bác hoặc các anh chị có dịp vào Sài gòn công tác hay đi bổ hàng về bán thường mang một vài chai nước mắm đặc sản LaGi biếu ba má tôi dùng lấy thảo. Má tôi rất vui và cảm động. Nhất là sau một thời gian ngắn, gia đình ông bác Phạm ở Vinh Phú cũng dời nhà vào Lagi sinh sống, các o đã chuyển nghề sang bán quần áo may sẳn và các ảnh tượng về đạo Công giáo,o Lan rất khéo léo, cô làm món mắm ruốc chua rất tuyệt, cả nhà tôi ai cũng ghiền món ăn này, nhưng o nói lâu lâu mới làm được vì phải đợi mùa ruốc tới mới tươi ngon. Màu mắm chín ngấu, tím thẩm, mặn vừa phải lẩn chua chua. Khi ăn, múc ra chén nhỏ dầm ớt cay cay rồi quết với dưa chuột bào lát mỏng và và một miếng cơm nóng, trời ơi! Ngon tuyệt vời! Nhưng tiếc quá chúng tôi không còn được thưởng thức món ngon Lagi của o Lan tôi nữa, vì hiện nay o đã được chị Ngọc Loan con gái duy nhất của o bảo lãnh định cư ở Mỹ cùng với o Duyên rồi, còn o Thuyên đột ngột qua đời ở Lagi trước đó không lâu.

Buồn quá, món ngon o Lan đã thất truyền ! không biết còn người nào ở miền biển rừng biết làm mắm chua như o tôi không nhỉ?

Trở lại với miền đất Lagi, gia đình tôi còn đi về xứ này rất nhiều lần nữa, có những lúc ba tôi được nghỉ phép ,ông lái xe đưa cả nhà ra thăm bà con anh em chú bác.

Nhớ những năm 11,12 tuổi, lần đó đến Lagi tôi nhất quyết đòi ra Hòn Bà bằng được, do tánh hiếu kì không bỏ vì đó là một thắng cảnh của Lagi mà tôi luôn muốn đi thăm (bây giờ thì gọi là tham quan).


May sao hôm ấy, mấy bác không đi nghề đã đem ghe thuyền về đậu trên bải sát cửa biển bác ba Lưu chiều ý đứa cháu gái, sửa soạn ghe bơm dầu để đưa cả nhà tôi ra Hòn Bà tham quan .

Thuyền vừa ra khỏi cửa biển một chút ,sóng biển bổng dâng cao, chiếc ghe tôi ngồi chồm lên chúi xuống gối đầu theo ngọn sóng làm tôi hoảng hồn, tưởng chừng có lúc sẽ bị hất luôn xuống biển, sợ quá tôi nhắm mắt tay bám chặt mạn thuyền, trong khi đó ba tôi và em trai tôi thì vẫn ngồi vững vàng ở đầu thuyền mặc sóng to gió lớn. Cuối cùng thuyền của chúng tôi mãi vẫn không cập bờ Hòn Bà được vì sóng biển ngày càng cao, dù cảnh đẹp đã hiện ra trước mắt, trên đó có một ngôi chùa,khách thập phương đang lễ chùa và vãn cảnh rất đông. Thuyền đành quay trở về .

Đến nhà má tôi nhìn thấy tôi phờ phạc,mặt mũi tái xanh thì đã mắng cho một trận:” Đã nói mà không nghe ,cứ đòi đi ghe ra đó cho được, con cải má hậu quả là vậy đó” Sau đó, tôi nằm vùi cả ngày không cơm nước gì được hết .”Thôi, từ nay không bước xuống ghe thuyền gì nữa” tôi tự nhủ thầm như vậy.

Lần lần theo ngày tháng, các bác, các cô tôi làm ăn khấm khá ,xây được những căn nhà chắc chắn hơn rộng rãi hơn .Nhà của bác Lưu nằm kề sông Dinh có nguồn thông ra biển, mà những năm về trước có lúc nó cạn khô trơ ra bãi cát, người bên này Tân Lý có thể đi bộ dễ dàng qua Tân Long trên bãi cát đó. Bác Ba có lần bảo tôi xuống đi thử mà chưa lần nào tôi dám đi trên cát vì cảm thấy sợ sợ làm sao lỡ nó sụt lún thì chết. Ý nghĩ trẻ con thật ngộ!

Nhưng cũng kỳ lạ sao, những năm sau này, khi tôi đã trưởng thành và gần đây nhất khi tôi về thăm Lagi nhân các dịp tang ma hiếu hỷ trong họ hàng thì sông Dinh nơi bác tôi cư ngụ, ngày đêm nước vẫn tràn đầy,là nơi bến thuyền,ghe về đậu sau thời gian đánh bắt hải sản và tránh bão.


Hình như trước năm 2011 (tôi nhớ như vậy ) thì ngôi nhà của bác Ba đã được cất lại thành hai căn nhà gạch khang trang một cho gia đình anh Thưởng em kế anh cả H. là linh mục phó xứ Thanh Xuân  thì cây cầu Tân Lý đã xuất hiện nối bên này là Phước Hội với bên kia Tân Long.

Thế là hai ngôi nhà một tầng nằm tụt dưới gầm cầu, nhưng như để bù lại có một khoảng đất rộng trống trải thoáng mát để bắt ghế ra ngồi hóng gió mỗi chiều và cũng có thể bày tiệc thân mật ở đó, dưới chân cầu.

Tôi đã về đây và thưởng thức cảnh đêm ngày gió mát sông rộng đầy thuyền ghe về đậu san sát, chợt nhớ đến một bài thơ Thuyền về bến trong sách giáo khoa (tôi quên đề tựa chính xác của bài thơ là gì rồi ) .


Đối với tôi , Lagi luôn luôn là một miền đất vừa quen vừa lạ, vì vẻ quyến rũ hoang sơ và yên bình vẫn còn đâu đó, mặc dầu hiện nay Lagi đã lên thị xã, ngày một thay đổi mới tân tiến so với khi xưa rất nhiều, có thể nói là vẫn lạ lẫm trong mắt tôi.

Đến đây, tôi chợt nhớ về một kỷ niệm sâu sắc của Lagi đối với tôi khi về miền biển rừng đó. Hồi ấy, những năm sau khi Miền Nam hoàn toàn giải phóng Hình như là 1979, 1980 tôi không nhớ rõ.

Năm đó ông nội tôi còn sinh tiền và còn làm việc rất khỏe mạnh, tôi thì được nhận vào phụ việc cho Trạm Y Tế phường, một hôm cô dượng hai Đan gửi thiệp vào Sài Gòn mời cả gia đình tôi ra dự lễ cưới anh Duy, lúc trước cũng đã tu học ở trong này, sau ra dạy học tư một thời gian rồi trở về Lagi đi nghề nối nghiệp dựợng hai đã mất rồi thành gia lập thất với một chị ca viên trong giáo xứ.

Thoạt đầu ông nội tôi ra một mình sau thấy tội ông quá và mến ông anh họ nên tôi chuẩn bị đồ đoàn, quà cáp để ra đó vào ngày sau.

Thời bây giờ, đi từ Sài Gòn - Thành phố HCM đến tỉnh thành khác rất nhiêu khê, khó khăn, nhất là về một miền biển nào đó thì lại càng bị kiểm soát gắt gao hơn( khi má tôi nói là vì sợ dân chúng vượt biên lúc ấy tôi mới biết chớ trước đó tôi không nghĩ đến việc này)

Thế là với bộ bà ba giản dị ,một túi hành trang nhỏ, tôi lên đường ra xứ biển ,kèm theo tờ giấy phép đi đường do Công An quận cấp trong túi, cứ nghĩ đã yên tâm.

Nhưng… thực tế thì không yên ổn như tôi nghĩ . Xe đò chạy bon bon bình yên vô sự cho đến khỏi Ông Đồn và gần đến Đồn 6 chỗ rẻ vào Lagi thì có một chuyện xảy ra:

Lúc ấy tôi đang đọc báo thì chú lơ xe đi lại phía tôi cúi xuống nói nhỏ:” cô bỏ kiếng (kính mắt) mắt ra đi cô, chú công an xét giấy tờ đi đường thấy cô đeo kiếng sẽ bắt xe ở lại và đuổi cô xuống xe đó.” tôi rất ngạc nhiên trả lời : “ Tôi bị cận thị mà, nếu bỏ mắt kíếng ra thì làm sao thấy đường đi ”. Đến lúc đó thì chú Công An mặc áo vàng đứng ngay trước mắt tôi, mặt hầm hầm gằn giọng nói : “Bỏ kính ra, cho xem giấy đi đường ! “Tôi giật mình, vội móc túi trình ra giấy đi đường cho ông ta xem. Hắn cầm lấy, liếc qua, rồi chợt quát lên :” Lagi làm gì có xã Tân Xuân, xuống xe, vào đồn mau! ”

Tôi  còn đang ngớ người chưa biết tại sao thì chú lơ xe lại tới gần năn nỉ

:”Cô làm ơn xuống xe mau đi cô, không thôi ông ta bắt xe ở lại, trễ giờ tội cho hành khách nhà xe lắm cô!”.

Vậy là tôi phải lếch thếch xách túi đồ, đoàn xuống xe đi qua bên kia đường, bước vào Đồn Công An 6 (còn gọi là căn cứ 6), vừa kêu khổ thầm trong bụng.” Chết rồi, mình bị bắt vào đồn rồi ,làm sao đây!”

May mắn thay, lúc vào Đồn 6, tôi gặp một vị nữ Đồn Trưởng đang ngồi nơi bàn làm việc.

Tôi còn nhớ chị ấy là một phụ nữ trung niên ăn mặc bà ba đơn giản giọng nói Miền Nam bình thường không hề có chút  gắt gỏng ,nghiêm khắc nào (tôi cảm thấy thế).

Chị nhìn tờ giấy đi đường của tôi, rồi nhìn qua tôi ngồi trên băng ghế nói:

-“ Ở La Gi không có xã Tân Xuân đâu, sao giấy phép của  cô lại ghi vậy, chỉ có xã Thanh Xuân thôi.

Tôi lật đật trả lời:

-“  Thưa chị, trước đây là Tân Xuân, mà bây giờ đổi thành xã Thanh Xuân, em không biết, vì đã lâu em bận đi làm nên không ra đây.

Chị Đồn Trưởng lại hỏi tiếp:

-“ Vậy bây giờ cô ta đây có việc gì?

Tôi vội đáp lời:

-“ Dạ em ra dự đám cưới ông anh họ con cô ở Thanh Xuân nè. Đến đây, tôi liền lấy tờ thiệp cưới từ chiếc túi  lưới mang theo cho chị ấy xem , cả gói quà cưới nữa.

Chị ấy ngẫm nghĩ một lúc rồi hỏi tiếp:

-“ Cô có giấy tờ tùy thân gì không?

Tôi vội đưa cho chị một lô giấy tờ, mà may sao tôi đã đem theo trong hành trang. Nào là thẻ căn cước, thẻ Hội viên CTĐ, Nhân viên trạm Y Tế Phường, và thẻ Hội viên Hội Liên Hiệp Phụ Nữ Phường…v…v . Lúc đó tôi nghĩ chắc chị tức cười lắm vì tôi đã gom tất cả  thẻ Hội, thẻ Đoàn gì gì đều cất hết trong cái ví nhỏ và đến lúc này nó đã phát huy hiệu lực rõ rệt.

Chị lại nhìn tôi và cất giọng :

-“ Thôi cô đi đi, có ai hỏi thì cứ nói là Đồn Trưởng Đồn 6 cho đi.

Thật hú vía và mừng hết lớn. Tôi vội cảm ơn, chào chị và bước ra khỏi Đồn, qua bên kia đường đón xe.

Cái Đồn 6 ngày xưa đó bây giờ không còn dấu vết gì nữa, nhưng mỗi lần về Lagi trên quốc lộ 1A, tự nhiên tôi vẫn nhìn qua hướng bên trái gần vòng xoay quẹo vào thị xã và nhớ đến chị Đồn Trưởng 6 năm nào.  Tôi không được biết tên chị và hình như lúc ấy trên bàn làm việc của chị cũng không có bảng tên gì cả, nhưng sau bao nhiêu năm tháng qua, tôi vẫn luôn nhớ chị và thầm cảm ơn chị đã xử sự với tôi, người con gái Sài Gòn trẻ tuổi đầy tình người, không hề có ác cảm và nghi ngờ gì cả.


Tôi lại đeo kính cận lên mắt và băng qua đường đứng giữa trời nắng gay gắt, đón xe vào Lagi, vì còn hơn 10km (có lẽ), thì mới đến nơi tôi phải đến.

Lại may mắn nữa, ít lâu sau, có một chiếc xe lam  trống chạy tới. Mừng rỡ, tôi gọi lớn:” Chú ơi xe có vô  Lagi không, cho cháu có giang về với ”.

Chú ấy ngừng xe lại hỏi;

- Cô về đâu?

- Cháu về đường Nguyễn Ngọc Kỳ, chú biết không?

- Nhà o Lan phải không?

- Dạ phải, cô của cháu đó chú.

- Vậy cô lên xe đi, tôi đưa về đến nơi cho.

Thế là tôi về đến nhà ông Bác, mệt “ ngất ngư con tàu đi “, đánh một giấc đến khoảng 3 giờ chiều mới nhờ o tôi dắt đến nhà đám cưới. Ông nội nhìn thấy tôi thì hết hồn, vì mặt tôi còn đầy vẻ mệt mỏi, như hồn chưa tỉnh giấc, ông tôi hỏi lý do. Đến lúc ấy, tôi mới mếu máo kể lại chuyện bị giữ ở Đồn 6 tuy chỉ không đầy nửa tiếng đồng hồ mà tôi cũng làm ra vẻ quan trọng lẩn khổ sở (vì tuy đã lớn xộn mà cũng còn nhỏng nhẻo với ông tôi làm ông phải dỗ dành mãi tôi mới chịu), và cả khi gặp anh Duy, tôi lại làm nũng, bắt đền lu loa khiến bà chị dâu mới cười mãi không thôi, vì tôi đổ thừa đi đám cưới anh chị mà suýt bị giam giữ vì nghi đi vượt biên.

Anh họ tôi phải hứa hẹn đủ điều tôi mới để yên cho anh trong ngày trọng đại ấy.

Thật là buồn cười cho tôi ngày còn trẻ,còn là một thiếu nữ tuổi thanh xuân tươi đẹp.

Và có lẻ từ nguyên nhân này mà sau này tôi hay e ngại phải về miền biển rừng, nhưng cũng một phần là có công việc gì thì ba má tôi ra đấy với các cô, bác, anh chị, còn tôi phải trông nhà hoặc bận công tác tại cơ quan nên không thể đi được, cho đến khi ba tôi qua đời thì má tôi đi với các em tôi về ngoài đó.

Vì vậy , có lần tôi nghe anh cả H. trách là :” Nhỏ Ly đi chơi tham quan khắp nơi mà đến nay có “ Hơn một thế kỷ”(Sic) vẫn không về Lagi thăm bác Ba lần nào

Nghe nói thế, tôi cảm thấy áy náy quá chừng, nên đến khoàng 2011, nhân anh Thưởng gã con gái đầu lòng, tôi vội thu xếp công việc để ra dự và tiện thể thăm hai bác Lưu luôn.

Từ đây, các đám tiệc , hiếu hỷ,vui buồn gì tôi đều theo má tôi về ngoài ấy tham dự hầu hết. Và cũng từ đây tôi lại đi về nhiều hơn nơi miền biển rừng Lagi đầy cảm mến yêu thương trong tôi từ xưa đến nay, từ thưở còn ấu thơ đến tuổi thanh niên và bây giờ là một phụ nữ trung niên.


Lagi vẫn mãi là một “ Phương biển rừng” thân thương và kỳ bí của tôi, và trên những chuyến xe đi về đó, có những bạn trẻ của thế hệ 9X hôm nay đầy nhiệt huyết đã trao đổi tâm tình, kiến thức ,hiểu biết, qua hành trình trong đêm cho tôi thêm yêu đời và yêu cuộc sống, yêu tuổi trẻ luôn phấn đấu quyết tâm hoàn thành mục tiêu cho tương lai đời mình như A. Nguyên, P.Quý và Q.

Cảm ơn các bạn, mà tôi đã được quen biết trên các chuyến xe Sài Gòn – Lagi, Lagi – Sài Gòn thời gian qua đã giúp tôi có nhiều cảm hứng để hồi tưởng ghi lại bút ký này.



.Cập nhật theo nguyên bản của tác giả từ SàiGòn ngày 08.7.2017.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004