Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới







CỬA ĐÁ




PHẦN THỨ BA



Chương Bốn

1.

Nhật thực. Ngày tối như đêm,

ăn cơm trưa cũng phải bật đèn.

***


Câu chuyện lão Côn sang Pháp, thăm bố, đã làm xôn xao khắp trong làng ngoài xã. Trước đây, ông ta từng là lính lê dương, chinh chiến khắp vùng Bắc Kỳ, có thời, đóng đồn ngay trong thành Sồi.

- Thảo nào, lão giàu ngấm giàu ngầm. Thì ra, bên Tây tiếp tế cho, kín tiếng gớm. Trông cái tạng Tây lai, lồn lột còn gì. Trách nào, tay bán thịt chó lại có phong độ nom Tây Tây, khoác cái chăn chiên cũng oai như tướng phường tuồng.

- Thời bấy giờ mà cứ bô lô ba la, khoe ra cái lý lịch con lai, với lại có của thì bị riệt vào sổ đen như bỡn.

- Lão cũng biết nhìn xa trông rộng đấy nhẻ, cách gì vậy? Bày mưu lập mẹo cho anh em học đòi, ngộ nhỡ mai ngày, có ông Tây nào sang nhận thì còn biết đường.

Lão Côn cười hềnh hệch, vô tư:

- Đơn giản thôi. Nhìn thì phải bằng mắt. Muốn nhìn xa trông rộng thì trước hết phải mở mắt.

- Nói thế, thà vạch đầu gối ra còn hơn.

- Này, mở mắt, không phải chuyện dễ đâu nhá. Tôi hỏi, bây giờ, ông đã mở mắt chưa đã?

Tay hàng xóm đùa nhả, chỉ vào mắt mình, lom lom nhìn, khiến cả bọn cười sặc sụa. Nhưng lão Côn vẫn nghiêm trang:

- Mở mắt thì phải nhìn thấy thời cuộc chứ? Bây giờ, ông có biết là thời buổi nào không?

- Chết, chết, chết… không nói chuyện chính trị đâu đấy nhá. Các cụ nhà tôi truyền dạy, muốn yên phận, thì không nói chuyện chính trị, với lại không dính dáng đến nước ngoài. Thế thì lão ăn phải bả thực dân rồi.

- Hỏng, đấy là hai cái gậy thần để làm giàu đấy. Bả hả? Bả mà có tiền là chén tuốt.

- Thế thì vái cả nón, chỉ xin ăn chắc mặc bền thôi. Thỉnh thoảng, rình chộp được một vố, như kiểu diều hâu vồ gà nhép lại hoá hay.

Lão Côn nhếch mép, cười mũi. Thế mà đám dân làng không hiểu ý, vẫn cãi chầy cãi cối:

- Thích bả thực dân, sao không ở quách bên ấy?

- Cũng biết, bên ấy, đất hẹp, nhưng trời rộng. Còn bên ta, đất rộng, nhưng trời hẹp. Vả, lọt lòng mẹ ở làng này, chôn rau cắt rốn ở làng Tuyền này. Cái chuyện rằng, ăn đâu, ngủ đâu, ỉa đâu đã quen thân, quen tính, quen nết mất rồi, thì tội gì mà tếch đi đâu nữa. Chớ đứng núi này trông núi nọ, mà nhảy cò đớ lên là hỏng ăn. Phải biết đứng núi này, mà lại làm chuyện núi nọ, mới ăn đậm.

Lão Côn đô cây. Trước đây, ai cũng bảo, mẹ lão bị ngã vào ông hộ pháp canh đền, mà được đầu thai, sinh ra lão, nên lão hao hao giống ông hộ pháp. Đến bây giờ, dân làng Tuyền mới ngộ ra rằng, con lai Tây thì cái gì cũng to. Môi lão dày chuối mắn, ngực cũng đầy lông như háng, bàn tay to vật như bàn tay gấu. Trời nực, lão cởi trần, chỉ đánh cái quần lửng, nom cứ tưởng lão giấu quả dưa gang trong đũng quần. Đám đàn bà đi qua, ngượng, che nón ghé nhìn, bước chân cứ ríu vào nhau như vướng phải cỏ gà.

Sức vóc lão hừng hực, nhưng không tơ hào đến mụ đàn bà nào trong làng. Lão chỉ biết cơm nhà má vợ. Vợ lão thì gày đét như con cá mắm, một tay xách nặng. Tốt sống hại mái là sự vậy. Đàn con của vợ chồng lão khoẻ như vâm. Đời F2, không còn thô kệch kiểu dáng cao, to, đen, hôi như lão nữa. Bây giờ, nhà lão thuộc hàng danh giá, ai thấy cũng vì nể. Người làng nhìn thấy vợ chồng, con cái nhà lão như có vầng kim ngân toả ra. Mỗi lời nói của lão, trước đây, chỉ là nấp bóng chủ nhiệm Môn, bây giờ, tuồng như có vàng đảm bảo. Nói lành nhà lành cửa, nếu cho tranh cử tự do, lão trở thành ông nọ bà kia như bỡn. "Anh Mộc mà gây dựng với cô Trang là hợp lòng người, thuận lẽ trời. Trai tài gái sắc, lại chung một làng, rồi mai ngày làm sang cho nước". Lão Côn nói thế, khác nào đóng đinh vào cái duyên chồng vợ Mộc với Trang. Điều đó, xua tan sự dị nghị đẳng cấp đôi bên. Nụ nghe vậy thì mừng ít, lo nhiều. Vợ cán bộ trung cấp là phải làm đẹp mặt chồng trước ông tỉnh, bà huyện. Nụ nghĩ vậy, thở dài, lo lắng. Trang lành bệnh, nhuận sắc, trở thành một nàng tiên hiện giữa làng Tuyền, nhưng tính tình chỉ như một đứa trẻ to xác, y như thể mới được sinh ra, trong trắng như tờ giấy phong, thơ ngây đến độ ngô nghê, cái gì cũng phải học lại từ đầu.

- Bu bảo này, nghe nhá, có nghe không? Nhớ này, đừng kể với ai nhá, kẻo người ta cười cho. Bu bảo này, sau khi ngủ với chồng. Mặc kệ nó toài xuống bụng, mình cứ nằm đấy hẵng, thì nửa tiếng mới được rửa ráy, kẻo ốm mòn.

- Nhỡ ngủ quên thì sao?

- Nỡm. Giời sinh ra đàn bà là phải biết chuyện chăn gối. Bu cho cái kim cài khăn đây này. Trước khi ngủ, giấu dưới gối. Chẳng may, chồng ngất trên bụng thì không được hất xuống, mà phải lấy cái kim, chọc vào đốt sống cùng cho tỉnh lại. Nhớ đấy, nếu không nhớ thì cứ ôm lấy chồng mà kêu toáng lên cũng được, hàng xóm người ta cứu cho.

- Ngượng mặt…

- Thà ngượng một tẹo, còn hơn chết.

Nhưng mớ lý thuyết phòng the ấy, Trang không phải thực hành bao giờ. Mộc coi Trang như một phần linh hồn, người mà không phải như người, đàn bà mà không phải như đàn bà, vợ mà không phải như vợ. Có lúc, Trang khoả thân trước đèn, Mộc cảm thấy như có thể nhìn thấu thân thể cô. Hình như, lúc đó, cô trong suốt như một pho tượng thuỷ tinh. Quả tim lớn bằng nắm tay, cùng những dây động mạch hồng tươi, những dây tĩnh mạch xanh và dây thần kinh màu trắng bạc. Thân thể cô từ màu trắng ngà chuyển sang màu hồng, gò má và bầu vú đỏ rực, đôi môi cháy bỏng, ánh mắt ươn ướt, long lanh, rồi chuyển sang đờ đẫn, ngây dại… Mộc không dám động tay, chỉ sợ Trang vỡ vụn ra từng mảnh. Mộc cảm thấy cơ thể mình cũng đang cháy lên, miệng khô khát, mũi thở gấp. Nhưng đám cháy dục tình ấy bị dập tắt ngúm, bởi sự e ngại như mạch ngầm từ thẳm sâu dội về. Mộc chợt nhớ đến những cơn điên dại của Trang và rùng mình. Dường như, Trang cũng cảm nhận được điều đó, qua đường dây vô hình từ Mộc truyền sang, nên cơn hứng tình nguội dần. Mộc lại nhìn thấy trước mặt mình, một cơ thể bằng xương, bằng thịt, đẹp lộng lẫy, nhưng không còn trong suốt nữa.


2.

Mộc thao thức, nhìn đình màn. Có tiếng cựa mình sốt ruột. Tiếng thở dài khao khát. Tiếng con tim đập thổn thức trong lồng ngực trinh nữ. Tiếng mạch máu rần rật tràn đầy sức xuân. Tiếng chất dịch tình yêu róc rách chảy ra nơi ấy và tiếng xào xạc trong đám lông mịn như nhung đen.

Từ khi đính ước cho đến ngày cưới, Mộc sợ nhất là Trang tái phát, nổi cơn điên, nhảy múa lung tung giữa đám đông. Mộc chợt nghĩ, người Việt chẳng có điệu dân vũ nào, chỉ nhảy múa khi điên, khi say. Không như dân tộc thiểu số ở Việt Bắc, Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ, khi vui hay buồn đều có thể nhảy múa. Dân Lào còn có lăm vông, dân châu Phi hay Mỹ La-tinh thì càng cuồng nhiệt. Hồi sinh viên, Mộc cũng chỉ biết độc có điệu múa sạp. Mẹ kể, cũng chỉ biết điệu nhảy múa vui hoà bình gì đó, từ cái thuở hoà bình mới lập lại trên miền Bắc. Ông ngoại thì bảo, cũng biết điệu múa trống quân, nghe đâu, ngày xưa, Quang Trung tiến quân ra Bắc đánh quân Thanh có truyền lại trong quân, rồi lọt ra dân.

Mộc tỉnh dậy, tự dưng cảm thấy căn buồng tân hôn trống trải, vắng lặng khác thường, ngảnh sang, không thấy Trang đâu. Trên cái gối đôi bằng vải phin pha ni-lon trắng muốt, chỉ có hình đôi chim bồ câu thêu chỉ hồng, đang díu mỏ vào nhau. Mấy sợi tóc đen, dài vương trên gối. Cửa màn đã mở tự khi nào, hai lá màn xô trắng, thõng xuống nền xi-măng. Cửa buồng khép hờ. Bấc đèn hoa kỳ cạn dầu, hoa đèn đỏ đòng đọc.

Mộc vội bước ra sân, ngó ra vườn, đảo xuống bếp, ghé vào nhà tắm cạnh giếng, nhưng không thấy bóng hình Trang. Bỗng dưng, dì Gió bay lượn đến bên và như cuốn Mộc đi tới nơi vô định. Bước chân Mộc theo đôi cánh dì Gió lướt trên đường làng, bay ra cánh đồng.


Bình minh đang lên chân trời rực hồng giữa cánh đồng và chân trời thấp thoáng bóng hình Trang đang thung thăng đi lại Mộc đứng chôn chân Trang vẫn khoả thân trên đầu đội một vành cỏ xanh tết hoa thạch thảo nom như cái vương miện xung quanh đầu tóc vương miện thân mình tay chân viền một nét hào quang sương đêm ướt rượt mái tóc và những giọt sương mai li ti đọng trên cánh hoa thạch thảo lá cỏ và tóc ngôi lông mi lông tơ trên môi lóng lánh như những hạt ngọc Trang uyển chuyển như một vũ nữ dì Gió cuốn Mộc bay về phía Trang rồi cả hai như quyện vào nhau trong cơn lốc xoáy.(9)


Thân thể Trang lại hiện ra trong suốt. Mộc nâng Trang, nhẹ nhàng đặt lên thảm cỏ khô, dưới chân Cửa Đá và hấp tấp cởi quần áo. Trang nhìn đăm đắm. Thân thể Mộc lồ lộ trong ánh nắng mai. Cửa Đá bỗng sáng lên và phát ra bản nhạc trầm bổng du dương, như tiếng đàn đá vọng về. Nhưng Mộc và Trang không nghe thấy gì, không nhìn thấy gì, ngoài ngọn lửa tình đang bừng bừng bốc cháy. Khi Mộc vừa nằm phủ phục, Trang hoảng hốt kêu toáng lên như cháy nhà: "Bu ơi, kim đâu?". Tức thì, Cửa Đá tắt lịm và bản nhạc cũng lụi tàn. Mộc giật mình, bừng tỉnh, thong thả ngồi dậy. Trang bật khóc tức tưởi như bị đòn oan. Mộc lúng túng như gà mắc tóc, không biết xử sự ra sao. Một làn gió thổi qua như tiếng thở dài, cuốn theo quần áo của Trang từ phía cuối đồng bay lại. Mộc hoàn hồn, khẽ khàng vực Trang dậy và thong thả mặc lại quần áo, như thể người anh đối với đứa em bé bỏng, dại khờ.

Đàn bà cũng như tôn giáo, chỉ cần đức tin, không cần lý lẽ, không cần minh chứng và sự giải thích dông dài, mà cần sự an ủi, nhẹ nhàng, tình cảm, luôn có nhu cầu chiến thắng, có khi chỉ là phần thắng ngấm ngầm trong lòng mà thôi. Đàn bà cũng như nhà thơ, chỉ biết nhất mình và luôn thích được ngợi khen, vỗ về, an ủi. Dân làng Tuyền cũng thế, chỉ thích phàn nàn và phân bua, cái tật cố hữu của kẻ yếm thế.

Trang lì ra, Mộc đành phải cõng. Khí núi phả ra lạnh giá.

Ngày bé, bọn Mộc hay đùa nghịch dưới chân Cửa Đá, rồi lẩn vào trong hang Cao chơi ú tim. Trên vòm cao, bầy dơi ma đánh đu trên mướu đá, mắt sáng như muôn vì sao li ti. Tiếng kêu chít chít, như thể có hàng trăm hàng ngàn con chuột thăng thiên. Phân dơi đắp thành đống, xã viên hay ra đào về bón ruộng hợp tác cho lúa cứng cây. Nhưng từ khi một đứa trèo lên bắt tổ sáo non, bị trượt chân, cả thân mình rơi bộp xuống cửa hang. Từ đó, hình như có ma trêu người. Bọn trẻ ra chơi, hay bị ma làm, ốm đau dặt dẹo, nên người lớn cấm tiệt. Vắng hơi người, Cửa Đá trở nên lạnh lẽo. Mộc cứng vía, mà qua đây còn cảm thấy ghê ghê, suýt tuột tay. Nhưng Trang lại trở nên tỉnh như sáo. Hình như, cô hợp cõi âm.


3.

Dì Gió mách lẻo chuyện trên đồng với Thín. Thín chỉ tủm tỉm cười, không nói không rằng. Dì Gió làm mặt giận, liền mang chuyện trên đồng kẻ cho Nụ. Nụ bật khóc: "Con ơi!". Dì Gió lại vóng qua đền, kể cho đức thánh Lừ. Đức thánh chép miệng, nói nửa lời: "Cái thằng… ".

Dì Gió lại tí tởn bay lên Cửa Đá, thấy Mộc cõng Trang trên lưng, bèn hát giễu:

Dấm da dấm dớ

Cõng vợ đi chơi

Đến Cửa Đá rồi

Suýt rơi mất vợ…

Trang cười khúc khích, nhấm nhẳng: "Phải gió". Mộc ngoái lại, không thấy bóng ai, ngạc nhiên hỏi: "Em nói chuyện với ai vậy, hả?". "Dì Gió". Mộc quay một vòng, nghi hoặc: "Đâu?". "Kia thây! Mà anh cũng chẳng nhìn thấy đâu, chẳng nghe thấy đâu". Mộc lặng lẽ tuân lệnh đàn bà, cho hợp lẽ trời, thuận lòng người.


Chương năm


1.

Suối lũ.

Nước dãy lên tận sân đền Lừ.

***


Thủ Dầu Một,

Kỷ niệm tết Trùng dương

Anh!

Hẳn anh còn nhớ hình ảnh, một cụ già râu, tóc bạc phơ phơ, vận đồ trắng, tay cầm bó hoa cúc vàng tươi, tay trống gậy trúc uốn hình đầu rồng, thư thái bước xuống đò, qua sông Sài Gòn? Anh còn níu em đứng lại, ngắm nhìn hút bóng, hà.

Còn nhớ, khi anh lẩm bẩm điều chi, em chọc quê: "Dễ muốn khùng quá". Anh cười hiền khô, thanh minh: "Đọc thơ Nguyễn Trãi chớ bộ. Nè: "Nhân tình ế ẩm cúc mùng mười", đó. Em tròn mắt kinh hãi, có lẽ anh khùng thật. Anh thấu cái nhìn của em và biểu: "Bữa nay là tết Trùng cửu, văn nhân uống rượu cúc, chơi núi, gọi là Trùng dương. Đến mùng mười, người ta không chơi cúc nữa". Em nhảy lên níu cổ anh: "Anh cũng sưu tra văn chương dữ quá ta. May quá, em không phải tên cúc, nên đến ba mươi cũng không sợ ế". Em vô duyên đến độ, mà anh vẫn chiều.

Từ khi biết anh, em thấy mình lớn lên và tốt hơn rất nhiều. Em không còn mặc cảm là con sỹ quan tâm lý chiến nữa. Ba em tuy thế, nhưng hồi tại ngũ, ổng vẫn lén đọc sách của phía bên kia. Thỉnh thoảng, ông mang về, nào là: Thép đã tôi thế đấy(10) của Nga Xô, Mặt trời chiếu trên sông Tang Càn(11) của nữ văn sỹ Trung cộng và Trên mảnh đất này(12) của ông nhà văn Việt cộng, viết về chính cái mảnh đất miền Đông nầy. Ba lén sếp, làm ẩu. Em lén ba, đọc thấy sờ sợ, sương sướng. Mẫu người như Pa-ven Coọc-sa-ghin của Nga Xô thật là làm bằng thép đã tôi. Trong nầy, thanh niên xung phong ban ngày thì đào mương, tối thì phải đốt lửa trại mà học tập, thảo luận miết, sợ thấy mồ. Nữ văn sỹ Trung cộng nầy là một nhà văn thực thụ. Bả muốn văn nghệ độc lập, nghệ thuật phải có trí tưởng tượng, sáng tạo và mỹ quan, chứ không phải như chủ trương của ông Mao là văn nghệ phục vụ chánh trị. Trong khu căn cứ Diên An lúc đó, mà bả có quan điểm như vầy thì quả là hảo hớn. Việt cộng biểu nhà văn viết "Trên mảnh đất nầy" là tự nhiên chủ nghĩa, nghe kỳ hồi. Ba em biểu, mấy ông cộng sản yếu luận thuyết về các môn kinh tế, tôn giáo, nghệ thuật, khoa học… Mấy ổng chỉ giỏi làm chánh trị.


Thế mà, anh là sinh viên khoa triết, lại chưa từng đọc Buồn nôn của Sạc-tơ-rơ. Biểu, sách cấm! Nếu anh đọc được cả sách của phía bên này và phía bên kia, cả sách đỏ và sách cấm thì tầm cỡ của anh còn lớn hơn. Anh giống như con ngựa đã bị lá đề che mắt, chỉ biết chạy thẳng một đường, không nhìn thấy bên phải có cỏ và bên trái có hoa… "ấy là một chàng trai không giữ vai trò gì quan trọng trong cộng đồng, chỉ vừa vặn là một cá nhân" (13) .

Em hay tin anh đã cưới rồi, một nàng tiên nguyên sơ.

Cầu chúc cho anh hạnh phúc.

Em.

Tái bút: Anh có nhớ, khi thị xã nầy thành lập hợp tác xã nông nghiệp, có mấy ông mặc thường phục mang súng lục, ngồi trong đám tân xã viên bọn em. Nghe nói, ngoải, cái thứ nông trang tập thể rệu rã lắm rồi, thế mà mấy ổng vẫn rinh vô Nam. Cũng giống mấy ông quốc gia, hay kêu vì dân mà đảo chánh hoài hoài. Em cứ thấy tồi tội, thương mấy ông làm chánh trị quá, hà. Người làm chánh trị khác chi thương lái. Cái nghề cảnh sát tư tưởng của anh cũng là nghề chánh trị đó. Em cảm thấy, anh không hạp với nghề. Em nói thiệt, đừng giận, nghe hôn!


*


Thực ra, Mộc cũng biết chút ít về J.P. Sác-tơ-rơ, chỉ là tham khảo cho có Tây, có ta. Nhưng rồi sau, nghe ông tổ hiện sinh này bị thua cuộc tranh luận với Trần Đức Thảo, thì khiến Mộc tò mò. Nhưng ông lại dính vào vụ Nhân văn giai phẩm, nên tài liệu liên quan bị phong toả. Mãi đến khi ông được sửa sai, truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh, nguồn tài liệu tham khảo mới phong phúc dần lên và Mộc đọc Buồn nôn. Thì ra, triết gia Trần Đức Thảo đã sớm nhìn ra chân tướng của học thuyết Xta-lin, Mao Trạch Đông và mô hình hợp tác xã nông nghiệp miền Bắc. Và, ông bị đày đi chăn bò, rồi loay hoay trở lại Pháp. Một tài năng sinh bất phùng thời, nên bất hạnh. Mình có dám chấp nhận số phận như triết gia? Không, mình chỉ là anh cán bộ truyên giáo quèn, nói và viết theo chỉ thị, nhưng chỉ có ý nghĩ trong đầu là khác. Những ý nghĩ vụng trộm về xã hội, cứ mãi cụ cựa trong đầu, nhưng không có đường ra và chết yểu. Mình biết xã hội vận động theo quy luật khách quan, nhưng không dám thúc đẩy cho tiến trình ấy tăng tốc. Mình không dám dấn thân như triết gia, từ bỏ Pa-ri hoa lệ, về chiến khu Việt Bắc gian lao. Lần thứ hai, trở về là bộ hài cốt nằm chờ dưới chân cầu thang khu nhà tập thể. Thân xác, trí tuệ bị đày đoạ, nhưng sự nghiệp chói sáng cả trời Âu, tầm cỡ thế giới. Ai dám chịu số phận như vậy, hỡi những người trí thức ươn hèn? Không có ai! Ai hiện có thiên tài nhường ấy? Không có ai! Chúng ta không có gì và mất phương hướng, mất thăng bằng.


*

Trang lén đọc thư và lặng lẽ khóc.

Cô lật cái phong bì, thấy hình cái máy bay và dòng chữ "AVION"(14). Chẳng lẽ lại là thư gửi máy bay? Cái tem vẽ hình con bò vàng rất đẹp. Chẳng lẽ ngụ ý ám chỉ Mộc là con bò? Lá thư phảng phất mùi nước hoa trên giấy xanh. Không lẽ, người này là hạng tiểu tư sản? Nước mắt cô thánh thót rơi trên hàng chữ tròn đều như những dây hoa.

Cô mang thư cho mẹ. Nụ giật mình, hỏi dồn: "Thư nào thế này? Mộc à? Nó đi công tác tận đẩu tận đâu cơ mà? Thư gái à? Xem nào, sao lại nói cả chuyện hợp tác xã nhỉ?". Môn nghe lạ tai, cũng tò mò ngó xem, rồi gầm lên: "Con này là quân phản động. Con cái nguỵ quân đây mà. Sao nó là cán bộ của đảng, lại giao du phức tạp thế nhỉ? Cất ngay về chỗ cũ, kẻo đến tai cấp trên thì nó hết đường phấn đấu".


2.

Mộc liếc qua phòng bì, nhận ngay ra, đó chính là Nàng. Mộc lấy kéo, cẩn thận cắt mép phong bì, rút ra một tờ giấy xanh, riềm răng cưa, mùi nước hoa phảng phất, những dòng chữ tròn như dây hoa hiện ra:

"Đời em là một dãy số không, gặp anh, em được số một đứng chắn ngang xương!". Đọc thư, Mộc nhíu mày: "Năm rồi, em có gửi thư cho anh, mà hổng thấy hồi âm. Có lẽ, làm ông to, nên quên thứ dân, khác nào, số một quên dãy số không rồi, hà? Hay anh đã ngộ ra, ngại chơi với thành phần bất hảo, ảnh hưởng sự thăng tiến trên chốn quan trường?". Sao mình không nhận được nhỉ? "Anh coi báo Sài Gòn giải phóng hông? Trển có đăng danh sách xuất cảnh diện HO(15), tên ba em đó đó. Hồi nẳm, ba em trốn, mất tiêu hàng chục lượng vàng cho mấy cha bán bãi. Tuy đi không lọt, nhưng khai báo thành khẩn vụ mua bãi, mấy chả thông lưng với nhau, tha cho, tránh cái chuyện "lạy ông tôi ở bụi này". Ba thoát tù ngục, nhưng suýt bị sát nhơn diệt khẩu, bịt đầu mối. Bây giờ, ba được đi hợp pháp rồi. Miền Nam có hàng triệu người vượt biển bằng thuyền, đầy bất trắc. Boat people(16) ". Có chuyện lạ vậy sao? Mộc có nghe láo kháo, chuyện mấy ông bán bãi, thu tiền, vàng cho dân vượt biên, nhưng không dám tin. Sự hợp pháp trong cái bất hợp pháp, thì chỉ có người ở chốn thiên đình mới làm được. Cái cô này, chuyện động trời cũng viết trên thư, kỳ quá. Không biết, thư trước nói chuyện quốc gia đại sự gì không? Cái hồi, Mộc đi miền Đông Nam Bộ, thấy lạ kỳ, người ta nói chuyện quốc gia mà cứ như chuyện chợ búa, làm cái gì cũng ra tiền, giá sòng phẳng. Buổi sớm mai, nhâm nhi ly cà-phê, trả ba mươi xu, rồi thuê tắc-xi đi Sài Gòn, trả sáu mươi xu nữa, thế là xong một phi vụ làm ăn. Còn ở vùng quê anh, phải thậm thà thậm thụt như ăn vụng, chuyện đút lót là phải ém nhẹm, phi tang, để người đời chỉ thấy sự liêm khiết. Phương Nam, khoái dùng tiền, miền Bắc thích dùng mẹo. "Em tìm hoài, chọn một người như anh để lấy làm chồng, nhưng người đó chỉ có một, như số một vậy, hà. Bây giờ, em xin anh một đứa con. Đứa con của tình yêu. Em sẽ ra Bắc, ngụ tại Hà Nội mà chờ anh. Em năn nỉ đấy".


Mộc cảm thấy lá thư nóng bỏng trên tay, vội ngó nhìn xung quanh xem có ánh mắt soi mói nào không. Mộc cười chua chát và tự hào một cách cay đắng, trước sự hạ mình của Nàng. Người ta vẫn bảo anh kiêu ngầm.

Trời bắt đầu có chút nắng. Những tảng nắng vương vãi khắp nơi. Mộc lộn trái cái quần phăng, vải sa-vi-ốt xanh lơ, phơi lên dây thép. Bất chợt, Mộc nhìn thấy chỗ moi quần dính đầy ghét như chỗ cổ áo. Cảm thấy tự xấu hổ với bản thân mình và ước, một ngày nào đó, sẽ có xà-phòng dùng theo nhu cầu. Nghe đâu, bọn tư bản còn có cả máy giặt quần, áo và máy rửa bát, đĩa. Không khéo, đến một lúc nào đó, tay người sẽ như bàn tay ếch mất thôi.


Gió se se, làm cho làn da khô và nẻ. Có lẽ, dì Gió cũng khô xác, quắt queo. Mộc chỉ mới nghĩ vậy mà trời đổ mưa bui. Nắng khuất trong mây. Trời đỏng đảnh, chợt nắng, chợt mưa. Có nên đi Hà Nội không nhỉ? Mình cũng cần có một đứa con, huống chi đàn bà. Sắp có hội nghị tổng kết công tác tuyên truyền miệng. Thông tin hồi này được trên định hướng dữ quá. Đại hội đảng toàn quốc phải hoãn đi hoãn lại, không hiểu trục trặc về đường lối hay nhân sự, nên dư luận xôn xao. Thôi được, mình sẽ viết thư báo tin cho Nàng về nhà khách chính phủ, rồi thuê khách sạn sau, tuỳ cơ ứng biến. Nhưng Mộc cũng dè chừng, dạo này, tỉnh uỷ quản lý cán bộ chặt chẽ hơn, đi công tác, ăn, nghỉ ở đâu, thời gian nào phải báo cáo cụ thể, để nếu cần, còn tiện bề thẩm tra xác minh. Chả là, bọn thanh tra kháo nhau, có đơn tố cáo bí thư tỉnh uỷ, trong chuyến công tác khảo sát thực tế, vùng An toàn khu cũ, thời kháng chiến chống Pháp, ông tằng tịu với một cô gái dân tộc thiểu số, nay đã sinh con. Nhưng hình như trên trung ương thiếu cán bộ, ông ta lại là uỷ viên trung ương, nên đã chuyển về làm thứ trưởng rồi. Thế là, ban thường vụ tỉnh ủy bàn, nếu có đơn thư nữa, thì mách người ta gửi lên cấp trên, để giải quyết theo đúng thẩm quyền, tránh chồng chéo, gây khó khăn, ách tắc. Dân không hiểu, lại tưởng cán bộ bưng bít cho nhau, sẽ ảnh hưởng tới niềm tin, lý tưởng...


3.

Chiều, trên sông Sài Gòn, nước ròng. Những dề lục bình trôi mải miết. Bên kia sông, Nàng đang bơi thuyền về. Màu hoàng hôn đỏ rực. Nàng nổi bật trên nền trời hồng, nom như diễn viên dưới ánh đèn sân khấu, lộng lẫy.

Mộc đứng nhìn ba Nàng đang cầm leng xúc bùn đổ lên vườn. Ổng cởi trần, bắp tay cuồn cuộn như dây chão, ngực vồng cánh ná, bụng thon mình sư tử, bắp đùi như cây chuối hột. Mộc cứ ngỡ hạng người, từng làm sỹ quan tâm lý chiến, loại quan văn, vóc dáng thư sinh, chứ không phải kiểu người xưa như vầy. Và cái giọng nói của ổng cũng oang oang như lệnh vỡ, chứ không phải kiểu nhỏ nhẻ nho nhã, như những kẻ có chữ nghĩa. Qua trò chuyện, Mộc hiểu rằng, ổng đã đọc nhiều sách, báo của cả tư bản lẫn chủ nghĩa xã hội. Ban đầu, Mộc ngỡ ổng đọc để chống cộng và được hưởng ưu đãi bổng lộc, nhà lầu, xe hơi, vợ đẹp, con khôn. Nhưng không hẳn vậy, ổng chê và khen cả hai phía quốc gia lẫn cách mạng. Quốc gia thì kêu là mấy cha, cách mạng thì gọi là mấy ông.

Là sinh viên khoa triết, Mộc thuộc lòng tác phẩm Dưới lá cờ vẻ vang của đảng… Lạ thay, ông cũng từng đọc rồi.

- Mấy ông làm được cái việc của trời là giành độc lập cho dân tộc. Việc này, mấy cha chào thua.

- Chú đọc Lê Duẩn, ổng nêu luận điểm, giương cao hai ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

- Chủ nghĩa kiểu mới là thứ do mấy ông Cạc Mạc, Ăng-ghen đặt bầy ra, rồi ông Lê-nin thực thi. Thực tế, đã có mô hình xã hội nào mà lý thuyết vẽ ra trước để đời sau ráp vô? Qua chỉ phục một luận điểm của Ăng-ghen rằng, con người sáng tạo ra Chúa theo hình ảnh của con người, chứ không phải Chúa sáng tạo ra con người theo hình ảnh của Chúa. Đức tin tôn giáo vừa là niềm cảm hứng, lại vừa làm mất tự do sáng tạo nghệ thuật.

- Chú cũng theo duy vật?

- ?

- Duy vật thừa nhận rằng, vật chất có trước tinh thần. Vả lại, chú cũng đả tôn giáo ra trò.

- Trời, lại chuyện con gà có trước hay quả trứng có trước.

- Chú thừa nhận, người sáng tạo ra Chúa đó thôi.

- Hồi du học bên Mỹ, qua có tranh luận với sinh viên các quốc gia trong ký túc xá, rằng, người ta nghiên cứu này nọ và kết luận: vượn người sinh ra loài người. Qua đặt vấn đề, nếu vậy, trước vượn người là gì và sau loài người là gì?

- Loài người là đỉnh cao tót vời rồi.

- Nói thế là chưa theo tinh thần duy vật biện chứng. Thế giới phải phát triển không ngừng, chớ bộ.

Mộc cảm thấy lúng túng, bèn dừng lại, tránh lý sự cùn. Bọn Mỹ cũng đào tạo dữ đấy chứ. Đoạn, Mộc nói vui cho kết thúc có hậu:

- Hẳn, rồi loài người, đầu sẽ to, bàn tay ngắn như tay ếch và mắt thì lồi ra như ốc nhồi, làn da có khi lại mang màu cà-phê sữa cũng nên.

Ba Nàng khoái trá, cười rổn rảng.

Có tiếng mái chèo lục khục, ổng dừng leng, khoả bùn, bước lên bờ. Mộc ngoảnh ra, sững sờ, chợt nhìn thấy khuôn mặt Nàng ửng hồng dưới vành nón lá. Nàng nhoẻn cười. Mộc sực tỉnh, vội bước tới, lấy dây xích cột thuyền vào gốc dừa. Nàng chới với bước lên bến. Mộc toan đưa tay đỡ, nhưng ngập ngừng xuôi lơ, ngượng. Nàng phụng phịu. Cha Nàng mỉm cười tinh quái.

Mộc thấy lạ về cách phiên âm tiếng nước ngoài, khác nhau: ngoài Bắc, trọng âm là thanh sắc, còn trong này, trọng âm lại là thanh nặng. Bởi thế, ổng mới gọi Các Mác là Cạc Mạc. Mộc lên thuyền, ngó lơ trang ấp ven sông. Nhà nọ cách nhà kia một hàng rào dây thép gai (trong này, gọi là kẽm gai), nhà nào cũng xây xi-măng (trong này, gọi là nhà đúc), mái lợp tôn (trong này, gọi là thiếc).

- Thời ông Diệm xây đó. - Ông bước lên thuyền, khiến cái thuyền chao nghiêng, làm cho Mộc chao đảo, vội ngồi thụp xuống.

- Cháu nghe nói, ông tổng thống Việt Nam cộng hoà này, quan hệ với em dâu. Thượng bất chính, nên chế độ loạn quá mà đổ.

- Xì, mấy ông nói bậy quá trời. Ổng nầy có tinh thần dân tộc lắm đó. Chính vì có tinh thần dân tộc, không chịu cho Mỹ vô, nên bị đảo chánh đó chớ.

Ông lấy bịch thuốc rê, chìa ra mời Mộc. Mộc cũng vấn một điều. Đàn ông bình dân hay dùng thuốc rê (trong này, gọi là xài). Trên tường nhà ông, có một tác phẩm nghệ thuật, làm bằng các mẩu thuốc rê. Mỗi khi hút xong, ông lại thấm nước bọt và dán mẩu thuốc lên tường, nom như một đàn ong đang xúm xít, làm thành hình bản đồ nước Việt Nam. Đàn ong mẩu thuốc của ông, có lẽ đông tới hàng ngàn con, lận.

- Ngoải, theo Nga Xô, cho rằng xã hội loài người trải qua năm chế độ. Còn bọn qua, thì chỉ thấy có bốn thôi. Thời nô lệ thì dùng sức mạnh bằng nắm đấm, thời phong kiến thì dùng lệnh vua làm phép nước, thời tư bản thì dùng luật thước đo công lý, còn nếu có xã hội kiểu mới thì dùng chỉ thị để thống trị.

- Cũng không hẳn như vậy, vấn đề có phần lệch lạc. Liên Xô và hệ thống có tới hai mươi sáu nước, chớ bộ. Xã hội có pháp chế cơ mà, mà pháp chế thì chính là pháp luật được thực hiện.

- Đó là mười bốn nước chính và mấy nước theo đòi. Đám này, kỳ thực cũng là tư bản thôi, đâu có đảng cộng sản độc quyền cầm đầu mà thành được chớ.

- Đúng, điều kiện cơ bản của một nước kiểu mới là phải do đảng cộng sản độc quyền lãnh đạo.

- Cái gì thực thì còn, cái gì không tưởng thì tan vỡ. Thuở trước, nước Pháp cũng có xã hội chủ nghĩa không tưởng.

Mộc ngoái sang, ổng ngó lơ, không để ý đến cái nhìn nảy lửa, sát sàn sạt. Nàng ra bến, cảm thấy bàng hoàng khi thấy cái nhìn của Mộc đối với ba mình. Nàng ấp úng mời hai người về ăn cơm chiều. Mộc thở dài nặng nề, đứng lên và chợt nhận thấy, cả ấp đã sáng đèn. Triền sông, muỗi bay như trấu.

- Xã hội mà chỉ có một đảng lãnh đạo, tất nhiên dẫn đến sự độc quyền. Độc quyền thì không có đất cho tự do, dân chủ và cũng đồng nghĩa với không có bầu trời cho sự phát triển tôn giáo, khoa học và nghệ thuật. Một khi, ba chân kiềng ấy xộc xệch là không có chỗ đặt nồi, thì cơm-xã-hội không nấu chín được, mà không có cơm ăn là đói đủ thứ. Tôn giáo và khoa học bổ sung cho nhau, không có khoa học thì tôn giáo như mù, không có tôn giáo thì khoa học như què, thế là xã hội mất định hướng, lung tung beng.

Ông vừa đi, vừa suy diễn. Hầu như không để ý tới sự có mặt của Mộc. Mộc cảm thấy ù tai. Hay là ông trả miếng cái nhìn ban nãy, có thể ông cảm thấy mà coi như không thấy, hoặc khiêu khích, thử tài đối đáp của Mộc? Nàng sợ hãi, bước chân ríu vào nhau, đành phải bấm vai Mộc, khỏi ngã.

- Chẳng lẽ, chú cho rằng, chủ nghĩa tư bản là nhất, là tận cùng của thời gian. - Mộc vặc lại một cách đầy phấn khích, khiến Nàng càng bấu chặt vào vai anh.

- Tư bản không phải hoàn toàn là tốt đẹp, cũng còn đầy rẫy bất công, nhưng tốt hơn các chế độ xã hội trước nó. Sau nó, sẽ là cái chi, qua cũng không thể biết, không cần biết.

- Hết biết! - Mộc khinh khi.

- Anh nè! - Nàng giật vai Mộc một cái rõ mạnh, khiến anh loạng choạng.

- Sùng bái cá nhân cũng là biểu hiện sự độc tài. Hầu như, mấy nước ấy đều mắc bịnh sùng bái cá nhân, - ổng thì vẫn điềm nhiên như không.

- Ba, bữa nay, cái xe Hon-đa 67 của ba bị hư thắng rồi. - Nàng ý tứ nhắc khéo ba mìn, - phải sửa ngay ba à, kẻo nguy hiểm lắm đó!

Ổng chợt sững người như thể vấp phải rễ cây. Từ khi đi dân công hoả tuyến ở Cam-pu-chia về, nàng trở nên rắn rỏi và chín chắn hơn. Bom đạn, xác chết, nước mắt… đã tôi luyện Nàng, từ tiểu thư trở thành quản gia, vừa giờ, lại trở thành lính cận vệ cho phụ thân.

- Xin lỗi chú nhé.

- Ủa, chi mà kỳ zdậy? - Ba nàng ngoái lại, ngạc nhiên.

- Cháu có được đọc một số hồ sơ cải tạo của các sỹ quan… - suýt nữa, Mộc buột mồm, nói là sỹ quan nguỵ, nhưng ổng hiểu ý, cười khẩy, nhún vai rất điệu nghệ theo kiểu Âu, Mỹ. - Trỏng, họ có vẻ hối hận vì đã gây ra nhiều tội ác với đồng bào. Nhưng có loại tội ác không nhìn thấy. Ví dụ như… - lại suýt nữa, Mộc buột miệng, nói là, như sỹ quan tâm lý chiến.

- Qua hiểu, qua hiểu. Chính qua cũng là loại người đó. Qua đã lên dây cót cho binh sỹ xông lên tiêu diệt… - suýt nữa thì ổng cũng buột miệng, nói là Việt cộng. - Qua cũng bày mưu cho bên thông tin, xen bản tin chiến sự vào chương trình ca nhạc, để gây sự chú ý.

Nàng cũng bị cuốn vào trận đấu khẩu, nói leo:

- Hai bên trận tuyến mà.

- Cách đó xưa cũ. Người ta đã dùng từ đời tám hoánh, - Mộc mỉa mai.

- Bây giờ, hoà hợp dân tộc rồi, - ổng chợt nhớ bài học trong lớp cải huấn.

- Bây giờ, ngồi cùng mâm rồi nè.

Mộc cười ngượng, cảm thấy như là ăn trực, chứ không phải khách quý của gia đình Nàng nữa.

- Rồi anh sẽ thấy, kết cục của chế độ…

- Thôi mà ba, - nàng van vỉ.

- Lâu lắm, bữa rày mới có cuộc tranh luận thẳng thắn và ngang tầm, - ổng vớt vát, rồi quay sang bắt tay, làm cho Mộc cũng cảm thấy hài lòng, không khí trở lại an lành.


4.

Dì Gió mách lối chỉ đường cho Mộc và Nàng gặp nhau ở nhà trọ ngoại ô. Mộc mang theo giấy đăng ký kết hôn, nghiễm nhiên, Nàng mang tên Trang và cả hai được ở cùng buồng, dành riêng cho các cặp vợ chồng hợp pháp.

- Anh có giận em không?

- ?

- Bữa hổm, anh và ba em tranh luận về chủ nghĩa chi chi đó. Hổi, buồn cười thấy mồ. Mình thì bảo Trung Quốc là bá quyền, bành trướng, xâm lược. Trung Quốc thì bảo, Việt Nam là tiểu bá, xâm lược và dạy cho bài học. Chao ôi, người ta đấu khẩu, đấu súng, để cho dân ăn bo bo, mặc quần áo vá.

- Chuyện qua rồi mà. Khéo mà em lại trở thành cái ra-đi-ô. Anh vặn chiết áp lại nhé? - Mộc làm động tác như xoay núm trên ngực, khiến Nàng bối rối, đỏ mặt.

Đêm ấy, cả thành phố mất điện. Nhưng căn buồng của Mộc và Nàng vẫn có ánh sáng xanh lân tinh dọi vào. Mãi đến khi tỉnh giấc, Nàng mới giật mình, nhìn thấy sau rèm cửa là một con đom đóm to như ngọn đèn hoa sen, loại đèn mà Nàng hay tự tay làm, rồi thắp đèn cầy, thả xuống sông Sài Gòn, mỗi mùa xá tội vong nhân.

Cả hai đang mơ màng sau cơn dư chấn tình yêu, bỗng có tiếng gõ cửa dồn dập, kèm theo tiếng kêu khẩn thiết, nhưng đầy vẻ hài hước:

- A-lô, a lố, à lồ… Yêu cầu quý khách khoá vòi nước. Lụt cả làng rồi.

Mộc vội nhảy khỏi giường, nước ngập mắt cá chân, giật mình, co chân lại, rồi định thần, tồng ngồng chạy vào nhà tắm, khoá van nước. Nàng nghe tiếng nước lõng bõng cũng vội nhỏm dậy, nhìn thấy guốc, dép trôi lềnh phềnh, bèn la lên đầy phấn khích:

- Trời đất, y chang mùa nước nổi, hà?

Mộc trở ra, ghé lên giường, đập đập hai bàn chân vào nhau, cười cười:

- Làng anh, năm nào sau ngày lễ trọng, cũng có mưa rửa đền.

Nàng cong ngón trỏ như cánh hoa lan, chọc nhẹ vào mũi người tình và mỉm cười, vừa có vẻ tinh quái, lại vừa trìu mến.


Phần thứ năm

Bầy rồng lại tái hiện


Chương một

1.

Dịch, chết ngoảng làng.

***


Nhân viên vận hành nhà máy nguyên tử, yêu cầu Mộc phải mặc quần áo bảo hộ và thay giày, thì mới được vào thăm lò phản ứng. Mộc răm rắp tuân theo và cẩn trọng bước lên từng bậc thang bên thành lò. Ngó qua lớp kính chì trên nắp lò, nhìn xuống, thấy dưới làn nước trong, có cắm tua tủa những thanh nhôm, nom như sa bàn bãi cọc sông Bạch Đằng. Nghe thuyết minh, trong những thanh nhôm đó, có các ống chứa chất phóng xạ. Bây giờ, lò đang sản xuất các liều xạ trị, cung cấp cho các bệnh viện.

Mộc hoảng hồn, khi qua đo kiểm tra mức độ nhiễm xạ trên quần áo bảo hộ, những chỉ số có dấu cộng, thấy thân bên phải cao hơn bên trái. Nhìn nét mặt thất thần của Mộc, anh ta nhoẻn cười: "Không sao, đảm bảo an toàn". Nghe vậy, nhưng trong lòng không yên, Mộc nhớ lại hình ảnh cái vụ nổ lò phản ứng hạt nhân Tréc-nô-bưn. Ban đầu, Liên Xô chỉ công bố có vài chục người nhiễm xạ. Nhưng sau này mới biết, người chết ngoảng cả vùng. Chính phủ bưng bít thông tin, để khỏi gây hoang mang trong quần chúng! Một khi, không có tự do thông tin thì chưa có xã hội phát triển. Mộc vội ghi nhận xét bất chợt đó vào sổ tay, để tích luỹ nghiên cứu về vấn đề tự do, dân chủ.


*


Về tới khách sạn, Mộc định lấy chìa khoá ở quầy lễ tân, thì được biết, anh bạn cùng phòng vừa mới lấy rồi. Mộc soi qua tấm gương lớn, xem má, mũi, chân, tay có mọc mụn lên không. Mấy cô nhân viên lễ tân, tưởng Mộc làm dáng, bấm nhau cười. Tiện có cái bàn cân, Mộc bước lên, chỉ số vẫn năm mươi tám ki-lô-gam, chưa bị sút cân nào, yên tâm, hăm hở bước vào thang máy. Nhưng chưa kịp bấm nút lên tầng, Mộc vội nhảy ra, ngoắc tay chỉ chỉ. Mấy cô lễ tân tò mò ngó vào buồng thang máy và rú lên kinh hãi. Ai đó đã đại tiện trong thang máy? Kia, còn một đống vàng vàng như cái khăn xếp bé xíu, mấy tờ giấy vệ sinh vò nát và một bãi nước bên cạnh.

Mấy cô hớt hải ngắt điện thang máy và gọi nhân viên vệ sinh. Anh chàng này nhăn mặt, bịt mũi, hót cái đống uế tạp đó, nhưng vừa ra khỏi cửa, liền đánh đổ tung toé cả ra sảnh. Mấy cô lại rú lên. Nhưng anh nhân viên vệ sinh nhíu mày, lẩm bẩm: "Hổng có mùi thúi, lại không dính thảm, kỳ quá, hà?". Anh ta lấy chân khều và thò tay nhặt. Mấy cô lập tức nôm oẹ. Anh ta ngoạc mồm ra cười: "A, ha, ha… bằng nhựa dẻo. Cha nào chơi kỳ quá, ha".

Trở về phòng, thấy anh bạn nhe răng ra cười, Mộc biết liền thủ phạm của cái trò đùa nhả kia.

- Đồ ngoại à?

- Gì vậy?

- Hừm!

- Đùa chút thôi. Thằng bạn đi Thái Lan về, cho. Nó bảo, bên ấy, bán cả bộ phận sinh dục của đàn ông, đàn bà bằng nhựa, nom y như thật. Người ta văn minh như thế mới siêu.

Mộc ghi:

"- Nhìn như phân, nhưng không phải. Cảm tính (vẽ hình mũi tên) lý tính?

- Của giả như thật. Thế nào là văn minh?".


*


Phòng ăn lộng lẫy. Những chùm đèn pha-lê, có hình búp hoa. Ban nhạc đang chơi một giai điệu êm dịu của nhạc sỹ Trịnh Công Sơn về thành phố hoa và sương mờ. Khăn bàn trắng muốt. Những đĩa thức ăn xếp hình bông hoa. Những bát canh bốc khói thơm, làm ứa nước miếng. Các cô gái phục vụ mặc đồng phục xanh lam và đội mũ trắng, may cầu kỳ, nom như bông hoa phủ trên mái tóc.

Bỗng nhiên, Mộc tưởng tượng, những chùm đèn kia như những quả bom nguyên tử tý xíu đang rớt xuống. Các cô gái mặt hoa da phấn kia mọc mụn và sút cân. Những cái trống trở thành bộc phá. Những cái kèn đồng hoá thành súng máy. Những đĩa thức ăn biến thành phân và canh là nước tiểu trong nồi hông. Những cái khăn bàn trở thành giấy vệ sinh… Tất cả máu, xác chết, phân, nước tiểu ngập ngụa, hôi thối. Mộc choáng váng, nôn oẹ.

Thực khách ngoái lại, ngỡ ngàng. Mộc toan chui xuống đất, nhưng hình bóng quan ngài Thuỷ Văn Thổ và anh bạn cùng phòng vội xốc nách, lôi ra ngoài. Hắn lủng bủng: "Đa cảm, tưởng tượng cho lắm vào. Hẳn lại nghĩ tới cái vụ ở thang máy đây mà".


*

Mộc viện lý do bị cảm lạnh, bỏ buổi cùng đoàn đi chơi cáp treo. Kỳ thực là Mộc ngượng, vì cú nôn oẹ không đúng lúc, đúng chỗ. Tuy cũng chẳng tội lỗi gì, nhưng hành vi bất lịch sự của một trí thức, một cán bộ tuyên giáo phía Bắc, mà ai cũng cho là khuôn vàng thước ngọc, càng làm cho Mộc xấu hổ, không khác nào hành vi của một cô gái bị tụt quần trước đám đông.

Mộc thả bộ trên những con đường phố núi quanh co, chợt hiện ra trong sương mù, một vườn bắp cải màu tím. Có mùi phi hành mỡ thơm sực, khiến Mộc cảm thấy đói cồn cào, thì ra, từ trưa hôm qua tới giờ, chưa được ăn gì sất cả. Cuối vườn, những cái nhà mái nhọn nhấp nhô trong sương. Mộc hăm hở dấn bước theo, mùi vị quyến rũ dạ dày. Một cái biệt thự hiện ra, treo tấm biển ngồ ngộ: "Bánh cuốn Hoạ sỹ", càng khiến Mộc tò mò. Mộc lặng lẽ chọn một cái bàn nhỏ, ngồi chờ. Mấy người nói giọng Bắc, giọng Nam vừa ăn, vừa trò chuyện với người đàn ông đang xay bột. Người này, có mái tóc bù xù, diện bộ com-lê tuýt-xi pha len màu lông chuột, lấm tấm bột bánh và màu thuốc vẽ.

- Nghĩ mà thương cho ông Hô-nếch-cơ(17) quá trời. - Anh ta vừa cắm cúi xay bột, vừa ca cẩm.

- Ông Cơ nào, cha nội? - Thực khách lơ đễnh hỏi lại.

- Cái ông bên Đông Âu ấy mà.

- Ha ha, một tình thương bao la, - bọn thực khách trêu đùa, cười ầm ĩ, ý chừng đều là khách ruột của quán.

Một chốc, bỗng anh ta cất tiếng vóng vỏi:

- Chào ông tuyên giáo. Tôi không kẻ khẩu hiệu nữa đâu.

Mộc giật nảy mình. Nhưng anh ta vẫn mải miết xay bột. Chẳng lẽ, anh ta có mắt sau gáy? Đám thực khách thôi bông đùa, hết nhìn chủ quán lại nhìn khách lạ. Khi anh ta ngẩng đầu lên, Mộc suýt ngã bổ chửng, thì ra, cái tay hoạ sỹ này, năm xưa bị bắt về tội kẻ khẩu hiệu phản động.

Chuyện là thế này, cánh tuyên giáo dưới huyện báo cáo lên tỉnh rằng, có một tay hoạ sỹ dính bả Nhân văn giai phẩm. Khẩu hiệu trên đưa xuống là: "Quyết tâm đánh thắng quân Trung Quốc xâm lược". Nhưng không biết hắn vô tình hay hữu ý, lại kẻ là: "Quyết tâm đánh thắng quân xâm lược Trung Quốc". Thế là, trên chỉ đạo, bên công an điều tra về lý lịch và quan hệ, bên tuyên giáo và văn hoá thì bẻ ngược bẻ xuôi các lý lẽ của hắn. Hắn cù nhầy cãi bừa rằng, hồi chống Mỹ, ta cũng có khẩu hiệu: "Quyết tâm đánh thắng bọn xâm lược Mỹ". Đúng, nhưng Mỹ không đổ cho ta xâm lược, tình hình bây giờ lại khác trước rồi. Văn nghệ sỹ mà vô chính trị đến thế, ăn cơm ai, mặc áo ai?

Vụ án tắc tị, phải xoay sang hướng bới tìm các khuyết điểm của hắn, kỷ luật cho bằng được, để giữ thể diện cho ta. Nhân vô thập toàn, ai mà chẳng có khuyết điểm. Nhưng là hoạ sỹ mà hắn lại không trai gái, rượu chè, chỉ hay hát ngêu ngao: "Anh bán chiếc quần đùi tuýt-xi pha len loại hai… ". Ban chuyên án bàn đi bàn lại: "Hắn dụng ý nói xấu chế độ, văn nghệ sỹ nghèo đói đến mức phải bán cả quần đùi à?". "Nhưng quần đùi của hắn là hàng tuýt-xi pha len". "Tại sao không phải loại một, mà lại là loại hai? Xác minh xem hắn có quần đùi thượng hạng ấy không?". Chuyện nghe rất dấm dớ, nhưng không kiếm cớ bắt bò hắn được. Qua điều tra, thấy có mỗi mình hắn ở tập thể, cạnh phòng thường trực, nên được giao luôn cái việc trực máy điện thoại. Bên cơ quan chuyên môn nghĩ ra độc chiêu, cho người rình, hễ hắn cầm bút vẽ vời là lập tức gọi điện thoại đến, khi hắn nhấc máy lên: "A-lô, tôi nghe", thì dập máy ngay. Cứ lặp đi lặp lại như vậy, làm hắn tức điên lên, không sáng tác sáng tộ được nữa. Ai cũng mong hắn bực tức chửi bới lung tung, hoặc đập máy điện thoại thì hay quá, có cái cớ để bắt. Nhưng hắn làm cho ban chuyên án quá thất vọng. Đang lúc bí rì rì, thì hắn xin đi Nam. Đúng là chết đuối vớ được cọc, trời phù hộ cho cánh ta. Trước khi ra đi, hắn nói kháy một câu: "Ngành khảo cổ trên thế giới, khám phá ra bao nhiêu thứ về con người và cõi nhân gian, nhưng chưa tìm được cái lưỡi hoá thạch bao giờ". Thế mà không ngờ, hôm nay lại đối mặt hắn ở xứ này.

- Ông xơi bánh cuốn loại một, hay loại hai?

- Cám ơn, tôi chỉ ghé qua, vãng cảnh ấy mà.


2.

Cầm lá thư xanh cắt riềm răng cưa, Trang nhìn thấy tác giả của nó. Một cô gái mảnh mai, cao ráo, tóc đen cắt ngắn ngang lưng, mặt trái xoan, đuôi mắt đã có nếp nhăn. Cô ta thung thăng nắm tay Mộc, cùng sánh vai bước lên cầu thang khách sạn, vào một căn phòng có đánh số.

Sao không nhìn thấy nữa nhỉ? Trang cuống cà kê, vội hơ bức thư lên lửa. Tiếng dì Gió thảng thốt:

"- Cô Thín đâu?"

Một người đàn bà bị cụt hai ngón chân cái, hiện ra.

"- Giúp cô bé tội nghiệp, xem chồng nó đang làm cái gỉ gì gi".

"- Sợ đức thánh Lừ quở. Ngài cấm chỉ tò mò đời tư kẻ khách".

Lá thư xanh cháy xém. Trang dập vội. Cô khóc. Qua làn nước mắt, cô lại nhìn thấy cô gái kia đã cởi quần áo ngoài, trên thân thể nõn nà vẫn còn bận bộ đồ lót màu đen, nom càng nổi bật, đầy vẻ khêu gợi. Trang rú lên, sùi bọt mép. Dì Gió thủ thỉ:

"- Yên nảo yên ào".

Cô ta dạn dĩ cởi quần áo cho Mộc; đoạn, nói điều gì đó với Mộc và uyển chuyển đi vào phòng tắm.

Trang ngất lịm. Dì Gió hoảng hốt bay đi gọi hai bà mẹ. Nụ và Ngàn tá hoả giật tóc, gọi hồn cứu con.


*

Từ khi gần gũi với Nàng, Mộc không bao giờ còn nhìn thấy thân thể trong suốt của Trang nữa. Trang trở nên vô cảm. Cô vứt cái kim xuống suối Mẹ Tiên. Cô vặt trụi lông của mình. Cô cắt đôi cái gối, hình thêu đôi chim bồ câu chia hai ngả.

Ngày chủ nhật, Mộc trở về nhà, nhìn thấy cái gối bị cắt đôi mà giật mình. Cầm nửa gối bên trái lên xem, thấy có một búi lông đen, loăn xoăn, Mộc sợ toát mồ hôi. Chả lẽ, cái sự vụng trộm của mình bị bại lộ? Nếu không, tại sao Trang lại hành xử thế vầy? Mình vươn tới tự do, nhưng lại đụng chạm đến sở hữu của người khác. Trang có tình yêu nguyên sơ, trong suốt, không lời. Cái điều thiêng liêng đáng tôn thờ của Trang, nay đã bị phản bội. Nhưng Nàng mới đem lại tình yêu nhục dục. Không có nhục dục thì làm sao có tình yêu trọn vẹn. Tình suông, tình khan, tình vô vọng là tình vô nghĩa. Tình yêu tròn trịa như trứng và cũng dễ vỡ như trứng. Phải chăng, tình yêu muốn vĩnh cửu thì phải xù xì, móm méo như trái đất, phải có đất và nước để sinh sôi, phải có mùa nóng, mùa lạnh để đơm hoa, kết quả.

Sau tội lỗi, người ta hay biện bạch. Thế nào là tội lỗi. Chả lẽ, tội lỗi mà không phạm vào điều luật, chỉ vi phạm quy ước nào đó thôi sao? Tự do nào cũng bị giàng buộc bởi luật lệ và quy ước. Phải chi, mình nói trước với Trang nhỉ? Ai mà lại nói, và nói thế nào? Làm sao Trang có thể đồng ý cho mình ăn nằm với người-đàn-bà-tình-yêu. Trang chỉ là người-vợ-cảnh, tạo nên một gia đình khuyết thiếu cái con. Mình không yêu Trang, thậm chí còn thương hại thì phải. Mình có nhận lỗi với Trang không? Không! Nếu Nàng sinh con, mình sẽ xử sự ra sao nhỉ? Muốn ra sao thì ra. Mộc thở dài, nhìn lên nóc tủ, thấy có cái bao tải, vội kéo xuống và bỏ hai nửa gối vào, lén mang ra ném xuống suối Mẫu Tuyền.

Hai bên bờ suối đã kè đá và dựng lan can. Bến đền đã xây bậc xi-măng. Đền đức thánh Lừ ngất ngưởng. Đèn điện sáng choang. Những cây điện giả nến, những que điện giả hương nhấp nháy suốt đêm ngày, nom như thể đàn đom đóm lập loè. Cạnh đền, xây thêm một nhà trưng bày. Trong đó, dựng nghiêng một gốc sồi già, đám rễ xoè ra như đuôi công.


3.

Trưa đứng bóng, mặt trời đổ lửa xuống sân đền, hắt sáng vào trong hậu cung, khiến pho tượng đức thánh Lừ huyền ảo. Trong cái không gian đóng của đền, bầy pho tượng, thấy hồn vía lung linh, sinh động hẳn lên.

- Anh Mộc!

Đang mải suy tư về mối quan hệ không gian giữa đền và tượng, Mộc giật nảy mình, chợt nghe tiếng gọi chói lói từ hậu cung; vội ngoảnh lại, thấy một người đội khăn xếp, áo the, đang te tái bước ra, vẫy vẫy, cười cười; định thần nhìn lại, té ra là lão Côn. Lão nhăn nhở:

- Gớm, lâu lắm, hôm nay mới được diện kiến. Không có anh, thì không có công trình trùng tu, tôn tạo di tích lịch sử, cách mạng, văn hoá, sinh thái này. Thế mà anh lặn đi tận đẩu tận đâu. Nghe nói, anh đi hội thảo cơ à?

Mộc hoàn hồn, thở phào nhẹ nhõm, nói lời đưa đẩy quen thuộc của cánh tuyên truyền:

- Khu di tích khang trang quá, hoành tráng quá. Mừng cho làng. Thế bác?

- Phải, tôi được giữ chân thủ từ, thực tế là trưởng ban quản lý di tích lịch sử, cách mạng, văn hoá, sinh thái này.

- Phải, bác đứng mũi chịu sào là vượng.

- Thì vận động mãi, chẳng ai chịu nhận cho ấy mà. Bây giờ, thời buổi hội nhập thế giới, không có tý quan hệ sẵn có với nước ngoài là khó làm lắm.

Mộc cười nụ, hiểu rằng, khi huy động vốn, lão xăng xái, bê cả vốn tự có lẫn vận động Việt kiều bên ấy, nên từ khi thi công công trình, lão đương nhiên được coi là trưởng ban rồi, nhưng lão chỉ khiêm nhường, nhận chân thủ từ mà thôi. Khi chính thức có quyết định làm trưởng ban, lão mới bỏ khăn mặt cháo lòng vắt vai, đội khăn xếp và bỏ cái áo sơ-mi suốt ngày phanh ngực, với cái quần lửng đầu gối, mà diện quần chùng, áo dài. Thế là lão hương khói, thỉnh chuông, thu tiền công đức. Phần thì lão nộp xã, phần nộp làng, nhưng phần to hơn, lão cúng lãnh đạo từ xã trở lên, còn lại phân nửa, lão bỏ vào hòm của mình.

- Bác lúc nào cũng năng động, đi trước thời đại.

- Đấy, cần phải có con đường to vào đền. Xe các cụ trên về, phải đậu tít ngoài kia. Hồi vận chuyển vật liệu xây dựng, cứ phải tăng-bo. Bây giờ, đền khang trang, trở thành di tích lịch sử, cách mạng, văn hoá, sinh thái rồi, mà đường thì vẫn nhỏ tẹo, khác nào chân người lớn lại đeo guốc trẻ con. Dân làng mong trên giải quyết sớm cho con đường. Anh mà nói một tiếng thì bằng cả làng, cả xã nói hàng tháng, hàng năm.

- Bác cứ đưa cháu lên mây xanh làm gì, chóng mặt lắm.

- Hê, hê, hê… - Lão vẫn giữ được điệu cười của chủ quán thịt chó. - Anh nói thế, làm cái nghề này là phải thật lòng, chính tâm, chứ ai lại đi mờm anh. Mà này, nói anh bỏ quá, kẻo mang tiếng là cầm đèn chạy trước ô-tô. Mấy vị tai mắt trong làng, ngoài xã có ý nhờ anh viết cho dăm, ba bài về đức thánh Lừ, về truyền thuyết suối Mẫu Tuyền, về thành Sồi này, rồi thì về truyền thống chống xâm lăng, vân vân… Sẽ có thù lao hậu hĩnh. Làng phân miêng, không để con dân bị thiệt bao giờ.

- Chết nỗi, cháu có phải nhà sử học đâu mà am tường, chữ "tác" đánh chữ "tộ" thì mất thiêng.

- Là tôi nghe phong thanh ý trên như thế, như thế, chứ đâu dám…

Lão nhũn như con chi chi. Mộc hiểu, trò này là do lão đặt bầy cả thôi. Chợt lão xoay chuyện:

- Đúng là chả có gì vĩnh cửu. Hồi chống mê tín thì đền thành chuồng phân. Bây giờ, cách mạng về…

- Gọi là đổi mới chứ bác.

- Thì cũng chính là cách mạng, là duy tân chứ còn gì nữa. Tôi quê mùa, ít học, dốt chữ, nhưng cũng biết ta đang đi trên con đường của xã hội hiện đại.

Mộc trừng mắt nhìn và cảnh tỉnh:

- Chết nỗi, ai bảo bác thế, ta vẫn giữ định hướng xã hội chủ nghĩa đấy chứ.

Lão vẫn xơi xơi như bị ma nhập:

- Chả phải ai bảo, cứ nhìn thì khắc biết. Ta đi lên xã hội hiện đại, nhưng vẫn do đảng lãnh đạo.

Đến nước này, Mộc đành giở bài tuyên huấn ra:

- Ta đổi mới, vẫn theo đúng định hướng. Một số nước cải tổ, nhưng không khôn khéo, nên sụp đổ, tuy chỉ là tạm thời. Cách mạng cũng có lúc cao trào, lúc thoái trào. Xã hội cũng như con người, có lúc khoẻ, lúc hu hi khi trái gió trở trời. Ta bắt đúng mạch, bốc đúng thuốc thì bách bệnh tiêu tan. Bây giờ, ta đổi mới kinh tế, phát triển kinh tế nhiều thành phần, dân giàu, nước mạnh.

- Sao ngày trước, trên phổ biến là nước mạnh, dân mới giàu. Các cụ khôn chán, cứ hô hào, khen nịnh cho mấy anh doanh nhân làm giàu nứt đố đổ vách, rồi đến khi cường thịnh, thì a-lê, quốc hữu hoá.

- Ai lại làm thế?

- Không còn kinh tế tập thể với kinh tế nhà nước, thì làm gì có xã hội này. Anh đừng có mờm tôi.

- Chịu cho cái đầu óc của bác.

- Như cái anh Gốc-ba-chốp lại tài, rụp một cái, cả Liên Xô và hệ thống xã hội chỏng gọng, chả mất viên đạo nào, chả chết người nào, thế mà vẫn lên xã hội hiện đại được. Mình thì cứ lần khân, nấn ná chuyển đổi loanh quanh, nên cứ cong vênh cả lên, cái nọ đổi mà cái kia chưa mới, nên vận hành trục trặc. Chưa cắt tiết mà đã vặt lông là rách việc.

Mộc bỗ bã:

- Cái anh chàng cầy tơ, nhe răng ra là rồi đời. Nói bác bỏ quá, ta cũng bờn tở lên như mấy anh Đông Âu, thì có mà nhăn răng ra rồi.

Lão cũng cười nhe răng:

- Bây giờ, sổ gạo của anh đã đưa vào bảo tàng, mà gạo lại ê hề ra, tha hồ chọn gạo ngon. Các cụ dạy, mạnh về gạo mà lại. Mà nói cho cùng, ông Liên Xô không chổng kềnh, đố cánh ta dám đổi mới. Vía!

Mộc lui quân, lão vẫn lèo thêm:

- Anh nhớ giúp cho dăm, ba bài để làm một tập sách về di tích lịch sử, cách mạng, văn hoá, sinh thái đền Lừ đấy nhá. Làng vừa có tiền, lại vừa tuyên truyền được về bản sắc văn hoá. Ta phải đi bằng cả hai chân anh ạ. Ngày trước, ta chỉ nhảy lò cò bằng một chân lý tưởng thôi.


Khiếp quá, chưa có tự do, dân chủ hoàn toàn, mà đã có giọng điệu cứ như ở một thế giới tự do, ai cũng có quyền phát ngôn. Thế này thì loạn đến nơi, cần phải có luật phát ngôn.

Thực ra, Mộc không sợ lý lẽ tạo tợn của lão Côn, mà sợ cho cái tầm nhìn, cái nhận thức của mình. Mình vẫn lo hão. Nhớ cái hồi Liên xô sụp đổ, theo dõi đài, báo công khai và các bản tin nội bộ, cũng như đài phương Tây, nói về thành trì của xã hội tan tành mây khói. Hàng triệu quân thường trực, hơn hai chục triệu đảng viên, mà không có một phát súng bắn lại. Tất cả, lặng lẽ vâng phục. Thế mà ta cứ sồn sồn cả lên, lo thay, căm giận thay. Mộc đọc rất nhiều tài liệu nói về nguyên nhân sụp đổ của Liên Xô và hệ thống xã hội, nhưng không có một tài liệu nào đề cập nguyên nhân khủng hoảng lý luận và sự sụp đổ đó có phải quy luật khách quan? Phần lớn các bài nghiên cứu đều cho là, mô hình xã hội chưa phù hợp. Chả lẽ, hơn nửa thế kỷ tồn tại, với mấy tỷ người, mà chưa tìm ra đựoc mô hình phù hợp sao? Hay đó chỉ là một cách biện minh, né tránh sự thật phũ phàng.

Trước đó, Mộc đã đọc một tài liệu của Mỹ, nói về cái năm 1999, chủ nghĩa đối lập sụp đổ mà không cần chiến tranh. Thông điệp Bách chu niên của giáo hội Thiên Chúa cũng bàn về sự sụp đổ này và Thiên chúa giáo góp phần quan trọng vào sự sụp đổ đó. Tại sao tư bản lại biết trước, còn ta thì thì không hay? Không, nhất định phải có uẩn khúc. Lão Côn, qua mấy chuyến đi Tây cũng đã ăn phải bả tư bản rồi. Chẳng lẽ, bấy lâu nay, lão giấu chuyện với cả mình? Hình như, những kẻ khôn ngoan đều biết giấu mình thì phải? Họ giấu mình và tính mẹo, nhưng đến lúc gặp người, hợp cảnh thì bộc lộ. Lão Côn chuyện tùm lum về biến động xã hội và ba Nàng, cũng nói huỵch toẹt nhận thức chính trị về phân kỳ xã hội loài người. Tuyệt nhiên, đó không phải là những người bồng bột, ruột để ngoài da. Họ đã trải nghiệm bằng chính cuộc đời, rồi mới nói.

Có lần, Mộc thấy ở hiệu sách nhân dân thị xã, có cuốn triết học phổ thông; trong đó, có luận điểm, biến tôn giáo thành chậu cảnh, dần dần xoá bỏ. Người ta lập luận rằng, tôn giáo là thuộc phiện của nhân dân. (Thuốc phiện thì phải cai rồi). Ngẫm thông điệp bách chu niên và nghĩ về cuốn triết học phổ thông, thấy tôn giáo kia và chủ nghĩa này có sự đối đầu, ý chừng muốn loại bỏ lẫn nhau. Khi anh mạnh thì tôi lui, khi anh yếu thì tôi lấn tới. Nhưng cả hai bên đều phải bám vào dân trên lãnh thổ này, nên cùng phải tựa vào nhau, bằng mặt mà không bằng lòng. Một bên củng cố đức tin, một phía thì bồi đắp lý tưởng.

Nghe dân làng đồn, lão Côn được thánh nhập, phán bảo nhiều điều rất lạ về kinh tế, xã hội, chính trị, tư tưởng, đạo đức, tôn giáo, pháp luật và cả về thời tiết nữa. Do vậy, khách tham quan đến đền Lừ ngày một đông. Bởi vậy, lão cần có sách về đền Lừ, mà lúc nào cũng nói hàng tràng về di tích lịch sử, cách mạng, văn hoá, sinh thái, như thể bắn súng liên thanh. Mãi sau, Mộc mới hay, mỗi chữ trong bảng hiệu di tích chả khác nào một viên đạn để làm nên một tràng liên thanh. Lão sống lâu và lõi đời.

Mộc làm cái nghề bàn giấy, lâu ngày cũng thành tinh. Ban ngày, lẽ ra đã soạn thảo xong cái công văn chỉ đạo về việc tăng cường, chấn chỉnh này nọ, nhưng đến phần tổ chức thực hiện thì cứ nhẩn nha nhấc bút lên, hạ bút xuống, hết giờ chiều không xong, để đến đêm làm thêm. Làm thêm ban đêm và ngày nghỉ cuối tuần được tính bốn mươi ngàn đồng một buổi và lại được biểu dương tinh thần nhiệt tình công tác. Thế là, tháng tháng, riêng tính công làm thêm cũng được triệu hơn triệu kém. Làm nghề nào ăn nghề ấy, nhưng phải có mẹo và phải bao cho nhau. Lúc nào cũng phải đề phòng, sợ mếch lòng nhau, mếch lòng cấp trên, lật tẩy nhau ra là xôi hỏng bỏng không. Có lúc ngẫm sự đời mà giật mình, cái anh nhân viên hành chính mà lãn công, thì nguy hại có khi còn hơn cả cánh công nhân đình công, hay đám sinh viên biểu tình. Bởi vì, cái sự lãn công ấy khó lòng mà nhìn thấy, cứ tưng tửng, dửng dưng như không có gì xảy ra, nhưng thực chất bên trong là có vấn đề, thậm chí là rất có vấn đề, nhân tâm phân tán, bầu nhiệt huyết đã nguội lạnh từ đời nảo đời nào mất rồi. Điều đó, khiến cho tầng lớp lãnh đạo tối cao trở thành chân nâng.



Chương hai


1.

Xuất hiện nhiều người lạ mặt,

đeo kính râm, lảng và lảng vảng.

***


Đận cuối năm, trời rét căm căm, ai cũng cóm ra cóm róm. Đàn bà thì mặc áo bông trần hạt lựu, chít khăn vuông đen. Đàn ông thì sù sụ áo bông xanh Sĩ Lâm và khăn phu-la móng rồng. Bỗng một hôm, trời đổ mưa tan giá. Ngàn đi xem ngày, xem giờ để cải cát cho lão Hượm.

Mộc nhớ, khi sang cát cho ông ngoại, bên cạnh xương sọ là mẩu cành cộc. Tại sao, khi liệm cho ông, bố đặt cành cộc bên hông, thì nó phải nằm cạnh đám xương sườn và xương cẳng tay mà nay lại lộn lên đầu. Các cụ bảo nó trôi. Mộ táng trên sườn núi Thạch Đỗ, có nước đâu mà trôi nhỉ? Trên cành cộc, còn bám những thớ vải lụa điều đã mục nát. Các nhà khảo cổ mà vớ được, lại làm náo loạn lên rằng, thời ấy, người ta đã biết dệt vải và dùng làm đồ khâm liệm! Nhưng một điều rất lạ, vải mục, thịt nát mà cành cộc vẫn nguyên vẹn, như chưa từng nằm dưới đất ba năm cùng xác chết thối rữa.

Mọi người xúm xít bàn ra tán vào, có phần e dè khi động vào cành cộc, thì lão Côn nhanh tay, xin ngay cái mẩu cành cộc, bọc vào khăn lụa đỏ của mình. Lão mang cành cộc ra đền Lừ, khấn vái hồi lâu, rồi đặt lên bệ thờ, ngay dưới chân tượng đức thánh Lừ.

Khi lão Côn ra đền, Trang bám gót như bê theo bò mẹ. Cô lặng lẽ đi, như thể trở thành cái bóng của lão Côn. Cô cũng quỳ lạy, hết ba tuần nhang mới vục dậy, cười khanh khách, ra bến đền rửa mặt mũi, chân, tay và ư ử hát:

Đất trời

Thương nhau

Cái con

Đông đàn.


Trang khoan thai đi vào nhà trưng bày hiện vật, múa may quay cuồng xung quanh đám rễ sồi:

Kiến bò chơi

Đại bàng đậu

Nắng không héo

Lửa không cháy

Nối thân nhau

Sồi ngàn đời.


Lão Côn để ý canh chừng, xem như Ngọc Nữ được suối Mẹ Tiên phái về rước cành cộc và yểm rễ sồi. Từ đó, lão thấy Trang đâu là một điều cô nương, hai điều cô nương, rất chi là trân trọng. Khi khu di tích có khách vãng lai hay lễ hội, lão thân đến tận nhà ông Môn, bà Nụ xin phép, mời Trang cô nương ra đền: "Kính trình cô nương, xin rước cô ra đền đức thánh Lừ. Sự hiện diện của quý cô nương là vinh hạnh lớn lao". Cái điều chỉ xảy ra ở phường tuồng như vậy, lại làm cho Trang cô nương cảm kích vô chừng.


*

Có một đêm, gấu ăn trăng. Trăng đang sáng vằng vặc, tự dưng úa vàng và tối thui. Bỗng, lão Côn thấy Trang cô nương mặc đồ trắng toát, tóc xoã, chân trần, hiện ra sừng sững giữa sân đền. Một con đom đóm to như ngọn phong đăng, từ bệ thờ bay ra, lượn quanh Trang cô nương một vòng, rồi bay vào đền. Trang cô nương lướt theo như bay trên mặt đất. Lão Côn sợ toát mồ hôi hột, nhưng sự tò mò lại nổi lên, khiến lão liều chết, ghé nhìn theo.

Lão thấy Trang cô nương, hai tay nâng mẩu cành cộc, dâng lên ngang mày, rồi lầm rầm khấn vái điều gì đó, có vẻ hệ trọng và thiêng liêng lắm. Một chốc, lão thấy Trang cô nương chấm mẩu cành cộc vào háng pho tượng đức thánh Lừ, rồi lại ủ vào háng mình, như thể bọn đàn bà phàm tục vẫn tự làm cho mình sung sướng. Nhưng nghe nói, đức thánh Lừ bị hoạn cơ mà? Phỉ phui cái đầu óc bã đậu. Nhưng đã là bậc thánh thì làm gì chẳng được. Lão đâu biết cái chuyện láu cá của cô Thín khi xưa. Có tiếng hát, tiếng rên ư ử phát ra, hoà với tiếng ếch ộp từ ngoài suối vọng lại. Mùi hương thơm ngào ngạt toả ra khắp đền.

Đất trời sinh sôi

Thương yêu nối đời

Lam làm lo toan

Cái con đông đàn.


Mắt lão Côn vốn đã lồi, nay lại càng lồi ra như hai con ốc nhồi. Lão dụi mắt, người hay ma mà lại trong suốt như pha lê thế kia. Lão há hốc mồm, khi thấy một pho tượng đức thánh Lừ bé tí xíu, từ mẩu cành cộc, trôi vào dạ con của Trang cô nương.

Đến khi gấu nhả ra, trăng lại tròn đầy, viên mãn, tượng đức thánh Lừ toả hào quang. Dì Gió nâng cánh đỡ, Trang cô nương như tiên nữ phiêu bồng, bay bổng trong ánh trăng vàng.


2.

Đoàn khảo cổ khai quật thành Sồi. Đào sâu mấy thước đất, thấy chân thành bằng gạch vồ, hiện ra, trên khuôn viên hình vuông. Giáo sư, tiến sỹ trưởng đoàn, kéo khoá phác-mơ-tuya, phanh vạt áo blu-dông màu hạt dẻ, để lộ mặt trong là màu cứt ngựa, ra chiều nóng bức và sơ bộ kết luận, đúng là thành Đại Điền, tục gọi là thành Sồi. Đào ngang, bới dọc, lại thấy cơ man nào là mũi giáo, lưỡi gươm và có cả một cái mũ sắt nhọn đã hoen gỉ. Mũ này, hẳn là của một viên tướng xâm lăng nào đó, chứ không phải quan cai trị. Ai nghe thấy, cũng thán phục. Sao nhà nước không đào tạo lấy dăm, bảy nghìn giáo sư, tiến sỹ, thì có phải đã đào bới khắp cả nước lên mà xem tỏ ngọn ngành.

Dân làng Tuyền mách, thỉnh thoảng đào phân dơi trên hang Rốn, cũng thấy lưỡi gươm, mũi giáo và những cái rìu đá. Giáo sư mở bản đồ và rút cái la bàn từ trong túi áo blu-dông ra, xác định hang Rốn đúng là hang Thạch Đỗ. Thạch Đỗ nghĩa là rốn rồng. Làng ở rốn rồng mà cấm thấy ai làm to nhỉ? Có anh Mộc đấy thôi, thợ nói, cả tỉnh nghe còn gì!


Đoàn khảo cổ liền mò lên hang Cao, thấy trên vách hang có những hình vẽ lạ, tả cảnh giao hợp của dê và của người. Giáo sư phân tích, hẳn đây là hang của người xưa và đã có trình độ văn minh khá cao. Đó, cảnh dê giao hợp thì một con đực râu dài, đang nhảy lên từng con dê cái trong đàn. Bọn dê cái rất trật tự, xếp hàng chờ đến lượt. Dê cũng rất văn minh, xếp hàng như dân ta, trong thời bao cấp, không thấy cảnh chen ngang. Còn người, vẫn là cảnh nam trên, nữ dưới, phản ánh đúng bản sắc dân tộc. Đám sinh viên và công nhân bụm miệng cười. Còn hình vẽ máy bay, xe tăng và người đội mũ sắt tròn giơ tay hàng thì hẳn lại mới, chỉ vài ba chục năm đổ lại. Điều này thì bọn Môn rất cảm phục, vì đúng là bàn tay đang chắp sau đít này vẽ ra.

Hồi lâu, đám sinh viên và công nhân đào thấy từng đống đá cuội đen và đá cuội vàng. Giáo sư đoán, có thể người xưa đã biết chơi ô ăn quan, nên nhặt cuội từ suối lên để giải trí. Một tay công nhân nêu ý kiến thắc mắc, nhỡ đấy là của cải thời xưa thì sao, mỗi hòn cuội là một con hươu, hoặc con nai, chẳng hạn? Giáo sư không nói, mỉm cười độ lượng. Lát sau, lại đào thấy một cái thạp, nắp đậy phiến đá to như cái mâm. Giáo sư, tiến sỹ cười phớ lớ như bắt được vàng. Ông búi tó lên, đeo khẩu trang, đi găng tay và sai sinh viên bê cái mâm đá ra và ngoảnh mặt đi, đề phòng hơi độc bay ra. Bỗng nhiên, bầy dơi ma bay loạn xị, lao vào giáo sư và đám sinh viên, công nhân, như thể đàn quạ đói. Sau một hồi hoảng loạn, thày trò trấn tĩnh lại và đánh đuổi quyết liệt, bầy dơi mới dời hang. Khi tình hình ổn định, giáo sư soi đèn, thấy ngay một bộ xương và những cái vỏ ốc lổn nhổn xung quanh. Ông giải thích, đây là mộ táng người xưa, phải bó gối, có khi chằng dây xung quanh, để hồn ma không về quấy nhiễu người nhà. Đống vỏ ốc này, chứng tỏ chủ nhân là đẳng cấp quý tộc. Vỏ ốc thời đó có giá trị trao đổi như tiền bạc. Chẳng hạn, một vỏ ốc thì đổi được một con dê. Đám công nhân và sinh viên nhặt vỏ ốc, đếm ra khoảng một đàn dê, không biết có phải là cái đàn dê được vẽ trên vách hang kia không.

Một cậu sinh viên trong bụng đầy nghi hoặc, hỏi:

- Nhưng, giả sử, người xưa, chỉ bỏ ốc vào thạp, để làm lương ăn cho người chết đi đường âm, thì sao ạ?

- Đúng là ăn ốc nói mò. Căn cứ vào đâu mà giả sử với chả giả thiết. Cả nước ai cũng dựa vào giả sử với giả thiết mà làm theo, thì có mà vào ngõ cụt à? Em còn nợ môn xã hội chủ nghĩa khoa học thì phải?

Đời thuở nào, trò lại cật vấn thày. Môn trịnh trọng hỏi xen vào, phá tan bầu không khí căng thẳng:

- Thưa giáo sư, tiến sỹ, bộ xương này thì thuộc vào thời nào ạ?

- Có lẽ, cách đây mấy mươi ngàn năm. Muốn biết chính xác, phải kiểm tra bằng phương pháp Các-bon 14. - Giáo sư hồ hởi, - bác là cán bộ cơ sở mà rất ham tìm hiểu khoa học.

Môn cũng rạng ngời nét mặt, lần đầu tiên trên đời, được giáo sư, tiến sỹ khen, đâu phải chuyện đùa.

- Nam hay nữ nhỉ? - Đám sinh viên thì thào hỏi nhau.

- Có thấy chim hay bướm hoá thạch gì đâu, có khi ái nam ái nữ cũng nên. Nghe nói, có thời, dân ta bị giặc thiến hết.


*

Theo nguyện vọng của dân làng Tuyền, đoàn khảo cổ tạm thời để các hiện vật lại nhà trưng bày ở đền Lừ cho khách xa, gần tham quan. Lão Côn sướng âm ỉ trong lòng. Khách tham quan ùn ùn kéo đến. Mỗi ngày, lão phải mấy lần mở hòm công đức, mà tiền cứ đầy phè cả ra. Làng xã phòng lão tư túi, cử người thay nhau rình quanh hòm công đức và lén ghi các đoàn khách, để làm bằng chứng, đối chiếu về sau.

Những bộ xương người có ngón chân cái choẽ ngang, những bộ rễ sồi xoè ra như đuôi công, những con ếch hoá thạch to như quả bưởi, bộ xương đại bàng khổng lồ, tìm thấy dưới lớp đất giữa khe yên ngựa, trên núi Đụn, ước tính phải to bằng cái thuỷ phi cơ. Có thể, xưa kia, vùng này có cả một rừng sồi. Trên trời, đại bàng đan cánh. Dưới đất, dày đặc những ếch. Lẫn lộn lổn nhổn trong đất đá là những bộ cóc không đuôi: nào là cóc mắt chân dài, cóc mày lớn, cóc nhà, cóc nước sần, chẫu, ếch nhéo, ngoé, ếch vạch, ếch bám đá, ếch đồng, ếch gai sần, ếch cây mép trắng… Chúng nối thân nhau, sinh sôi giữa đất trời, có lẽ hàng ngàn đời. Bộ xương ngồi trong thạp thì không nói làm gì, bày cả ngày cũng chỉ nát được trẻ con. Nhưng cái mũ sắt nhọn đặt bên bộ rễ sồi lại sinh chuyện.

Ban ngày, trời râm mát, đến đêm, bỗng nổi cơn giông. Lão Côn nghe tiếng loảng xoảng phía ngoài, lại ngỡ hai cánh cổng sắt quên không khoá, bị gió lay đập vào nhau. Nhưng lại có cả tiếng la hét, gào khóc thì lão sinh nghi, vội lò dò ngó ra. "Thày, bu ơi…". Lão kinh hoàng nhìn thấy, trong màn đêm lờ mờ, đức thánh Lừ đang cầm cái mũ sắt nhọn, đập choang choang vào gốc sồi. Mỗi cú đập là một câu nguyền: "Mày đền tội, này!". Sau mỗi tiếng quát là tiếng kêu gào. Có một người đàn bà bị cụt hai ngón chân cái, cứ nhảy quớ lên. Xung quanh, một lũ đàn ông ôm háng, gào lên đầy phẫn nộ. Lại có một bọn đàn bà trần như nhộng, nhảy cẫng, xỉa xói.

Lão Côn sợ quá hoá khôn, nảy ra sáng kiến, chọc vỡ mấy viên ngói bên chái đền, rồi nhặt mấy hòn đá cuội ở bờ suối Mẹ Tiên về, vứt rải rác quanh đền. Đoạn, lão cấp báo lên xã, xã báo ngay lên viện khảo cổ rằng, có hiện tượng kẻ gian phá hoại hiện vật thành Sồi. Thế là xã cử ngay một trung đội dân quân canh giữ, lão vững tâm. Mấy hôm sau, viện khảo cổ lấy cớ là công tác an ninh không đảm bảo, liền đánh xe về, chở ngay đi cái mũ sắt nhọn và đám gươm cùn, giáo gãy cùng tiền ốc, bộ xương ngồi trong thạp. Thế là lão nhẹ nợ, kê gối cao mà ngủ, mở hầu bao mà thu tiền cốt-tông.


3.

Trang cô nương mãn nguyệt khai hoa, đặt tên con là Thạch Thị Thiên Nữ. Nữ bị tưa bình vôi, môi miệng rộp trắng cả lên. Mấy bà phải giã rau ngót, hoà mật ong mà thấm mãi mới khỏi. Gia đình nội, ngoại và hàng xóm ì xèo, sao không đặt họ Thuỷ theo bố, lại đặt theo họ mẹ. Mà đứa bé cũng không giống Mộc, lại hao hao giống tượng đức thánh Lừ. Mộc không nói không rằng. Bà Ngàn chỉ thở dài. Vợ chồng Môn câm như hến. Chỉ có lão Côn là tỏ tường sự vụ, nhưng lại ngậm tăm. Mấy ông xã cũng thông cảm cô Trang, sợ tra hỏi, bệnh cũ tái phát thì phiền, vả, cũng là chỗ chức việc với ông Môn, vuốt mặt phải nể mũi, nên bàn với nhau, làm cái giấy khai sinh bố nọ, họ kia như thế.



Chương ba


1.

Chức cục trưởng và tương đương,

có giá 500 000 000 VNĐ

(viết bằng chữ: nửa tỷ tiền ta).

***


Từ khi du lịch phát triển, Làng Tuyền trở thành thị trấn, thì dịch vụ khách sạn, nhà hàng và những quán cà-phê, giải khát mọc lên. Suốt ngày, thị trấn xôn xao trong tiếng nhạc phát ra từ những đĩa com-pac và lung linh trong ánh điện năm màu.

Mọi ngày, quán cà-phê lặng lẽ là thế, mà hôm nay lại xôn xao cả lên. Cái tin, Mộc đã xin ra khỏi đảng, khác nào tiếng sét nổ giữa trời quang mây tạnh, làm xao động từ ban tuyên giáo tỉnh uỷ, cho đến thị trấn Làng Tuyền.

- Trí thức, thế là thức thời.

- Phản bội lý tưởng.

- Đừng có hàm hồ? Tự do đảng phái, tự do ngôn luận rồi. Người không đảng phái, đâu có phản bội dân tộc.

- Không chống dân tộc, nhưng phản bội đảng cộng sản.

- Đối với trí thức, không lý tưởng nào bằng sự thoả sức cống hiến cho đất nước.

- Chẳng lẽ, cái đám đảng viên dân chủ cũng vậy sao? Đám con buôn thì chỉ có lý tưởng tiền thôi.

- Tranh luận như thế là chui vào ngõ cụt. Đi buôn thì phải ham tiền, làm quan thì phải ham chức quyền, gái điếm thì mong có nhiều đàn ông, trí thức thì cần có nhiều công trình nghiên cứu, làm văn chương thì cần có nhiều tác phẩm… Tóm lại, nghề gì, đã làm cũng phải ham, thì mới nên tấm nên miếng, mới có sự thành đạt.

- Cứ đà này, các đảng phái mọc lên như nấm sau mưa. Có khi còn có cả đảng duy linh cho mấy bà đi lễ đền, đảng hoa hậu cho mấy cô thợ mát-xa, đảng điện tử cho mấy chú chơi gêm…

- Ha, ha ha… - Tiếng cười của ai đó vang lên, tưởng như tuột cả lưỡi ra ngoài. - Tôi xin hát hầu các đảng một bài.

- Hoan hô ca sỹ bất đắc dĩ.

- Nhưng tôi không chịu trách nhiệm phần nhạc. Nội dung phần lời bài hát, như sau:

Các đảng phái chúng ta

Phải lấy dân làm gốc

Chớ lấy ăn làm đầu

Có ngày bị vặt râu.


Tiếng hú hét dữ dội vang lên, như thể trên sân bóng đá.

Vô giáo dục, thật là vô giáo dục. Xã hội loạn lên, làm nền giáo dục đổ vỡ và cũng chính nền giáo dục đổ vỡ dã làm cho xã hội loạn lên. Trong đầu Môn như có lửa cháy.

- Có khi cô Thạch Thị Thiên Nữ vào đảng hoa hậu đấy.

- Nhưng cô ta ễnh bụng lên rồi.

- Chả nhẽ, có chửa, rồi có con thì không còn là người đẹp sao? Mà đã là người đẹp thì phải có quyền thi hoa hậu và tham gia đảng hoa hậu chứ. Quyền tự do mà lại.

Tất cả lại cười rộ lên, như trong quán nhậu.

- Đã có đảng nào đưa vào điều lệ là phải mở được Cửa Đá chưa? Nếu không, đảng phái bằng thừa. Chỉ cần mở được Cửa Đá là dân giàu, nước mạnh, dân chủ, bác ái, tự do đủ cả. Kho vàng đấy, cả thế giới xài cũng dư. Đấy, chính là cửa vào tháp Ba-ben để lên thiên đường.

Tất cả lặng đi. Điều linh thiêng nhất của đất này chưa được khám phá. Đằng sau Cửa Đá là gì, vàng bạc, hầm mộ hay chỉ là khí núi???

- Không thể như thế được. - Một giọng gay gắt cất lên, nghe như tiếng quát, khiến mọi người đổ dồn, nhìn về người đàn ông tóc trắng như hoa gáo, ông Môn. - Không thể đa đảng, cái hoạ đầu tiên, các người có biết là gì không? Đó là sự vô chính phủ, sự mất ổn định, nạn đục nước béo cò, thanh toán lẫn nhau, trộm cướp sẽ nổi lên như rươi.

- Thôi, xin ông chớ lo bò trắng răng. Ông già bảo thủ. Nạn tham nhũng tràn lan như một bệnh dịch, mà tham nhũng thì phải có chức quyền, muốn có chức quyền thì trước hết phải là đảng viên. Nạn chiếm đất lập trang trại, mở công ty trá hình khắp nơi. Một khi các cấp bậc, chức vụ có giá, thì chính trị cũng đã tham gia vào thị trường rồi.

- Đó là hiện tượng, không phải bản chất. Tư bản cũng tham nhũng chứ. Đó là cái bệnh của giới quan chức, không phải bản chất chế độ xã hội tân tiến.

- Đây là thời kỳ tích luỹ tư bản. Đã tích luỹ thì thấm đầy máu và mồ hôi, trên từng lỗ chân lông.

Quán cà-phê lại sôi lên. Bỗng chốc, Môn lâm vào thế yếu. Bọn quá khích bắt đầu bùng lên như thùng thuốc súng.

- Điếc cũng phải biết sợ súng chứ? - Môn vẫn hăng hái cảnh tỉnh, mớ tóc bạc dựng lên như hoa lau trước gió.

- Hô, hô, hô… Không có sự biến động nào êm dịu cả đâu. Êm dịu là ru ngủ, chứ không phải để thức tỉnh.

Mộc xuất hiện, vội chen vào bên cạnh bố vợ hờ, an ủi:

- Thôi, bố tranh luận với họ làm gì cho mệt.

- Sao lại không? Một mất, một còn chứ. Nhưng anh đâu còn tư cách cùng chiến tuyến với tôi nữa.

- Thôi mà bố. Bố chưa hiểu nên chưa thông cảm. Tình hình rồi sẽ ổn định, dân ta không nổi loạn như châu Âu, châu Mỹ đâu mà sợ.

Môn đã bớt giận, nhưng vẫn hậm hực:

- Rồi khoảng cách giàu, nghèo sẽ toang hoách ra, rồi suốt ngày lo biểu tình, bạo loạn thì bất yên.

- Chả lẽ, lại cứ để nghèo như nhau mãi, níu chân nhau, dàn hàng ngang mà tiến. Thực ra, đó không phải tiến mà là lùi. Vậy, để cho xã hội tiến lên thì cần phải có tự do.

- Bố già ơi, quyền lợi cao nhất của người công dân là gì?

- Trời ơi, sống trong xã hội tân tiến ngần ấy năm rồi, mà còn hỏi thế à? Các hợp tác xã, các cơ quan, trường học không có tuyên truyền viên à?

- Thế thì bố già làm cán bộ tuyên giáo đi xem nào?

- Hãy nghe đây, đó là quyền bầu cử.

- Dân có quyền phúc quyết không?

- Phủ quyết hả? Là dân chỉ nên chấp hành, chớ có đầu óc chống đối mà kẻ địch lợi dụng. Lo nghĩ đã có cấp trên, nhá!

Tiếng gào thét, huýt sáo lại rú rít lên, khiến Môn ngỡ ngàng. Mộc ái ngại:

- Đấy, con đã gàn rồi mà, tư tưởng và nhận thức con người đã biến động.

- Dân chủ mở rộng, đâm ra quá trớn. Cá mè một lứa mất rồi.

- Dân chủ là dân chủ, một khi đã gọi là mở rộng với bó hẹp thì còn gì là dân chủ nữa hả bố? Tại sao không xây dựng một xã hội với nhiều tổ chức chính trị thân thiện, không đối lập, không thôn tính lẫn nhau, để phát huy tối đa nguồn lực, trí tuệ toàn xã hội?

Môn chợt hiểu ra cơ sự, thở dài, chua xót:

- Tôi biết anh rồi. Anh đã phản lại chúng tôi. Vũng lầy tư bản cũng đầy máu và nước mắt mà thôi, ông bà ta còn lạ gì nó nữa.

- Cứ thử xem sao? Hầu hết các nước phát triển trên thế giới đều thế cả.

- Tự dưng lại chơi một canh bạc chính trị, hả? Không, tại sao phải thả gà ra mà đuổi cơ chứ?

Mộc khoan hoà:

- Con chỉ muốn được tự do cống hiến mà thôi, không có sự phản bội nào cả. Con đã hoàn thành nhiệm vụ. Vả lại, xã hội đã đổi hướng rồi...

- Rồi ai trả lương cho nhà các anh? Ai sẽ trả lương cho người hưu trí? Những người khốn khổ này sẽ sống bằng cái gì?

- Chết nỗi, dân vẫn đây, nước vẫn kia chứ có mất đi đâu…

- Ai đã từng sống trong xã hội thực dân nửa phong kiến, phải trốn sưu, tránh thuế, ăn cơm cám, ngủ ổ rơm, mặc áo mo, quần buộc túm, thì mới thấm thía công ơn trời biển của đảng cộng sản mang lại cơm no, áo ấm. Bọn này, một lũ vô ơn. Chúng mày có quyền gì mà phán xét lịch sử, luận tội quá khứ?

Môn thở dài thườn thượt, lắc đầu quầy quâỵ, rồi vùng vằng bước đi: "Thối chí! Nguỵ biện, nguỵ tạo hết!". Bóng ông liêu xiêu trên phố vắng. Bây giờ, nếu có khoác đài ô-ri-ông-tông và đạp xe Thống Nhất, thì ông cũng không thể trở thành chủ nhiệm hợp tác xã được nữa. Tất cả đã tan vỡ như giấc mộng nam kha mất rồi. Lịch sử có bước đi tự nhiên của nó, mà không phải lúc nào loài người cũng nhận ra, để mà có thể thúc đẩy, hay cản trở nó.

Mộc chết lặng nhìn theo, ứa nước mắt. Mộc hiểu, có những người chuyên phải đi răn dạy, y như một nghề và có quyền được làm như vậy, nhưng một khi phải nghe người khác răn dạy lại, thì dễ nổi khùng. Thế là, cùng một nhà, cùng một làng, giờ đây, mỗi người mỗi ngả. Những ngả đường lịch sử, với bao lối rẽ, có con đường thăm thẳm không cùng, lại có con nẻo vào ngõ cụt. Một mê hồn trận lịch sử, ai biết đâu mà lần.


*

Tóc Mộc đã bạc trắng như một vầng mây mỏng mảnh, vẫn vít trên đầu. Suốt ngày, Mộc âm thầm, chỉ có nghĩ và viết, hầu như, biểu hiện ngôn ngữ duy nhất là chữ viết. Thỉnh thoảng, Mộc mới nhận và gửi thư điện tử, còn điện thoại cũng chỉ nghe và bấm phím chữ là chính.

Mộc đọc lại tất cả các bản sách mới về Các Mác, Lê-nin, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh, Đặng Tiểu Bình, rồi Hê-ghen, Trần Đức Thảo, cả Khổng Tử và Kinh Thánh… Tất cả, người ta đều viết, đều kể, đều cổ vũ cho lý tưởng ngày mai tươi sáng của một xã hội công bằng, bác ái, tự do.

Công bằng mà nói, những người có lý tưởng tiên phong, đi tìm một xã hội mới, với hàng kho lý luận soi đường chỉ lối, chứ không phải sự văng mạng hay dối lừa. Các tầng lớp nhân dân phơi phới tiến bước, với một niềm tin sắt son vào một chế độ tươi đẹp như mơ, trong tương lai sẽ hiện lên trên mặt đất, chứ không phải sự thơ ngây, nhẹ dạ cả tin. Nhưng họ đâu biết rằng, không bao giờ và mãi mãi không bao giờ có một xã hội kiểu như thế, hiện lên giữa dương gian. Do vậy, người Đông Âu thông minh và quả cảm đã quay đầu. Những người châu Á và Phi, Mỹ La-tinh thì vẫn còn le lói hy vọng. Bởi, họ cũng là dân nhược tiểu, chưa trải qua tư bản và lại giàu ước mơ, tuy trong lòng vẫn nghi nghi hoặc hoặc, nhưng không biết thế nào là thế nào.

Những người tiền bối khi làm cách mạng, để giành độc lập cho dân tộc, thì tuyệt vời; nhưng khi nắm độc quyền lãnh đạo xã hội mới, thì cơ chế quản lý quan liêu, bao cấp đã vô tình tạo điều kiện thuận lợi cho sự suy thoái. Bế tắc trong sự phát triển kinh tế, không chỉ xảy ra ở một nước, mà là cả hệ thống, ngay trong chủ thuyết. Thời chiến tranh, công tác tuyên truyền đã đẩy lên thành nghệ thuật, tập hợp cổ vũ dân chúng hy sinh cho cách mạng. Nhưng sự tuyên truyền ấy có nghệ thuật, nhưng không khoa học, vì chỉ tuyên truyền một chiều, địch xấu, ta tốt. Điều đó được coi như chân lý vĩnh hằng. Nhưng thực tế lại cụ thể và sinh động hơn, nên sự tuyên truyền một chiều kéo dài mãi, trở thành mị dân. Đường hướng bị thay đổi đột ngột, nên lúng túng, chính sách buộc phải thay đổi liên tục, mà vẫn không phù hợp yêu cầu phát triển đất nước. Người ta phải nhọc nhằn đi tìm một lối thoát ra khỏi ngõ cụt, nhưng vẫn phải làm sao cho xã hội ổn định, không để xảy ra biến động lớn về tư tưởng, tâm lý… Đó, quả là khổ công và khôn ngoan.

Ban đầu, những người trí thức, văn nghệ sỹ cũng là đối tượng đả kích của đảng cộng sản. Sau này, có sửa đổi, nhưng lực lượng này vẫn bị thành kiến, những người có chính kiến thì bị loại khỏi vòng hoạt động. Bây giờ, tôn giáo đã hướng tới lợi, thiện, mỹ rồi, mà còn o ép mãi, doanh nhân bị kỳ thị. Mãi đến khi đổi mới, nhiều giá trị được nhận thức lại, không khác gì tư bản đã trải qua. Lượng đã đổi đến điểm nút, thì chất làm sao còn nguyên vẹn. Những nhà tiên tri của chủ nghĩa tân tiến thì cho rằng, chủ nghĩa đế quốc đang trong thời kỳ giãy chết, nhưng oái oăm thay, chủ nghĩa tân tiến lại sụp đổ trước. Nếu không cải cách sớm và khôn ngoan, thì những năm cuối thế kỷ hai mươi, quyền lực đã tuột khỏi tay những người đảng viên cộng sản. Hồi đó, ai nói đến đa đảng, đa nguyên là mắc trọng tội. Bởi, hiến pháp đã ghi nhận sự độc quyền lãnh đạo của đảng cộng sản. Nhưng chính điều đó lại làm xã hội phân tâm. Là người trong cuộc, thành tâm tranh đấu cho lý tưởng, Mộc chua chát, giật mình, như cảm thấy những sợi tóc đang rào rào đổ trắng trên đầu.

Người ta cố công gắng sức để xây dựng một xã hội mới, không giống phong kiến, càng khác xa nguyên thuỷ và cao hơn tư bản. Nhưng cụ thể là cái gì, thì không nghĩ ra được, tựu chung, vẫn chỉ là khẩu hiệu: độc lập, dân chủ, tự do, hạnh phúc, văn minh; phải xây dựng con người mới, trong suốt như pha lê; phải xây dựng nền văn hoá mới; phải ngợi ca về đảng và lãnh tụ như vầng thái dương. Xã hội tiên tiến mà một mình một tiêu chuẩn, không giống với ai. Bởi vậy, đến khi đổi mới, hội nhập thế giới, buộc phải điều chỉnh, làm lại mình cho giống với chuẩn chung của thế giới. Khốn nỗi, chuẩn này lại do tư bản chế ra.

Nhưng bao nhiêu năm theo đuổi lý tưởng độc nhất vô nhị trên thế giới, nay xin ra khỏi tổ chức, Mộc cũng cảm thấy bồi hồi, luyến tiếc, như một sự mất mát khi ngôi nhà tuổi thơ bị cháy, phải cất công làm nhà mới vậy. Nhưng nếu không, Mộc chỉ là cái đinh ốc trong guồng máy, kỷ luật phát ngôn và những điều quy định đảng viên không được làm, đã vô hiệu mọi chính kiến. Đảng chỉ có một người phát ngôn, xã hội chỉ có một tư tưởng. Thế mà, có thời, Mộc cảm thấy hãnh diện. Có nhà, tứ đại đồng chí: ông, bố, con, cháu cùng là đảng viên, sinh hoạt trong một chi bộ. Bởi vậy, ai có ý kiến khác, bị coi là thiếu thống nhất, ai có tư tưởng mới, bị coi là mất lập trường, thậm chí, bị quy là phản động, hoặc vô lễ, bất hiếu.

Nếu ai hiểu Mộc, thì sẽ thấy việc ra đi là đương nhiên. Hàng trăm năm trước, các nhà nho còn biết khởi xướng phong trào duy tân. Thế kỷ sau, những người cộng sản mạnh bạo đổi mới. Không, mình không bao giờ chống lại đất nước, không bao giờ phản bội dân tộc. Ai cũng mong thế giới đại đồng, xã hội công bằng, bác ái và tự do, nhưng thực tế, chỉ là ảo tưởng. Không bao giờ lý tưởng đó trở thành hiện thực, biết vậy, nhưng không thể không vươn tới. Khởi đầu của loài người là tư tưởng. Loài người khác loài vật vì có tư tưởng. Và, tư tưởng cũng là cuộc chiến tranh khốc liệt nhất, dai dẳng nhất, có khi nó còn hiện ra là một tên đao phủ trong chiến tranh, có khi nó là mật thám trong thời bình, có khi nó là hồn ma rời xác chết, nhưng vẫn ám ảnh con người, từ đời này qua đời khác.

Một thời, Mộc tự hào là người lính xung kích trên mặt trận tư tưởng và sau những lần nghĩ mưu xung trận với kẻ thù, những bận tính kế đối phó với đồng nghiệp, bình tâm suy xét, Mộc nhận ra những sự trớ trêu. Có đêm, Mộc nằm mơ, thấy lưỡi mình dài ra như quả núc nác, lúc thì quật về bên tả, lúc thì quặt về bên hữu. Lúc nào cái lưỡi cũng ngọ nguậy. Một khi, lưỡi nằm yên là đồng nghĩa với cái chết. Cái lưỡi làm nhiệm vụ phát ngôn của bộ óc. Mộc mê man trong vũ điệu của vô vàn các loài dơi: dơi ăn mật hoa, dơi ngựa nâu, dơi chó ấn, dơi chó tai ngắn, dơi quả đuôi dài, dơi bao đuôi, dơi lá quạt, dơi lá đuôi, dơi lá tai dài, dơi lá sa đen, dơi lá rút, dơi lá nâu, dơi lá muỗi, dơi mũi quạ, dơi mũi nhỏ, dơi mũi lớn, dơi mũi xinh, dơi mũi tro, dơi mũi ba lá, dơi mũi xám, dơi mũi nâu, dơi mũi nhẵn, dơi nghệ, dơi đốm hoa, dơi mặt khiên, dơi tai lớn, dơi chân dài, dơi sọ cao… Tất thảy, chúng nhảy múa theo lũ dơi ma. Đó là vũ điệu của loài chim, hoà trong nhịp điệu bài ca loài chuột, tạo ra một sự khiên cưỡng và phản cảm, càng khiến cho Mộc đắm chìm trong mộng mị. May mà có quan ngài Thuỷ Văn Thổ đứng canh chừng, không thì Mộc đã bị biến thành chú muỗi trong miệng dơi rồi cũng nên. Liệu đã có tổ chức chính trị, xã hội nào dùng loài dơi làm biểu tượng chưa nhỉ?

Cuộc đấu tranh tìm đường đi nước bước, nó hành hạ con người hơn cả vật lộn với cái đói, cái rét, thậm chí, hơn cả đối với cái chết. Lúc nào, trong đầu cũng đong đầy nghĩ suy, trăn trở: nên, hay không nên; lợi hay hại; ảnh hưởng xấu hay tốt đối với bản thân và người thân như thế nào; rồi đây, mình có nên gia nhập một đảng nào nữa không? Có lẽ, không có đảng nào có lý tưởng và tổ chức chặt chẽ tốt như thế và cũng không có niềm tin nào đổ vỡ đắng cay đến thế!


2.

Thạch Thị Thiên Nữ cao lêu đêu như cây sào. Mắt cô to như ốc nhồi và có cái nhìn như chiếu đèn pha. Ai nhìn vào mắt cô cũng bị choáng ngợp. Cô học không giỏi, nhưng trí nhớ tốt, nên biết đến mấy ngoại ngữ. Cô đi phiên dịch cho hội nghị nam giới quốc tế. Kết quả hội nghị quan trọng đến mức nào không biết, nhưng ai cũng thấy nhãn tiền, cái bụng của cô ngày càng lặc lè. Nom cô chửa, giống hệt con bà mụ hay bay nhảy ngật ngưỡng, ngoài bãi cỏ đền Lừ. Thấy cô mang bụng to như cái ró mẹ, các bà đoán, có dễ sinh đôi, nhưng đi siêu âm lại thấy những năm thai nhi, ai nấy kinh hoàng. Tục làng Tuyền, tự ngàn đời, ai đẻ khó thì mó Cửa Đá. Nhưng oái oăm thay, chẳng biết những ông bố của chúng là ai, ở đâu mà gọi về mó cửa. May thay, trong lúc đầu thai, cô đã rỗng cả ra rồi, nên khi đẻ cũng êm thuận.

Cô sinh trong một ngày được năm cái bọc trứng ngũ sắc và nở ngay ra năm đứa con: đứa thì da vàng và tóc đen, đứa thì da đen và tóc xoăn, đứa thì da đỏ và môi dày, đứa thì da trắng và tóc vàng, đứa thì da nâu và mắt trắng. Chúng tự chui ra khỏi bọc, tự nhiên như thể gà nhép mổ vở trứng mà chui ra vậy.

Sự kiện này, ngay lập tức đánh bạt dư luận Mộc xin ra khỏi đảng, đến nỗi, dân làng Tuyền cũng quên cả việc chuẩn bị đón tết Nguyên đán. Ai cũng hồ hởi, vui như tết. Mọi lo âu đều tan biến. Thế giới đại đồng rồi. Trong một cái bụng mà chứa được đại diện năm chủng tộc trên thế giới, khác chi mẹ Suối Tiên đã sinh ra bọc trắng ngũ sắc. Có khi, Thạch Thị Thiên Nữ được suy tôn là Đại mẫu quốc tế cũng nên.

- Sao lại ra nông nỗi? - Trang nghẹn ngào.

- Toàn là của những người danh giá cả đấy mẹ ạ. - Nữ nhơn nhơn tự hào về thành quả của mình. - Cha ơi, - Nữ quay sang Mộc, - đêm qua, đức thánh Lừ báo mộng, về chuyện cửa rả trên núi Thạch Đỗ.

- Thế sao? - Mộc ngạc nhiên và cố tình giấu cái liếc sang Trang. Mộc không phân biệt được Nữ phát âm sai âm "r" và "gi" hay quen mồm nói nhịu, lặp lại như các cụ khi xưa, hay đốc thúc Mộc: "Quét cái sân cái sướng đi, lá tre lá pheo ngập mắt cá chân rồi đới". Không biết Nữ nói cửa giả hay cửa rả, mà thực ra, cũng thế cả thôi.

- Dạ. - Nữ vẫn hồn nhiên, như tính cách chung của những người con gái đẹp. - Thánh phán về cái Cửa Đá cửa đủng trên vách núi ý mà.

- Sao nào? - Mộc càng khó hiểu, hỏi lại.


*

Năm đứa trẻ được đặt tên tổ rồng theo màu da: Thuỷ Văn Hắc, Thuỷ Văn Bạch, Thuỷ Văn Xích Giả, Thuỷ Văn Hoàng và Thuỷ Văn Xích. Và chúng cũng được đặt kèm theo tên tiếng Anh để dễ bề ngao du thế giới, lần lượt: Thuy Van Black, Thuy Van White, Thuy Van Brow, Thuy Van Jelow and Thuy Van Red.

Dân làng và dư luận quốc tế thắc mắc: "Tại sao, mẹ họ Thạch, con lại họ Thuỷ?". Đại mẫu quốc tế, phán: "Nguồn gốc sự sống cũng từ nước mà ra. Tổ tông loài người cũng từ nước mà ra".


3.

Mộc lặng lẽ lên hang Thạch Đỗ. Dấu vết những hố thám sát và hố khai quật của đoàn khảo cổ vẫn còn ngổn ngang, nham nhở. Té ra, vùng này, xưa kia là nơi khai thiên, lập địa. Tại sao giáo sư, tiến sỹ khảo cổ ấy, lại không cho động chạm đến Cửa Đá nhỉ? Hay ông ta sợ thánh vật? Bác Môn theo đoàn khảo cổ về nói lại với dân làng rằng, ông giáo sư, tiến sỹ chỉ ngó nhìn Cửa Đá và thốt lên: "Cửa Đá đây ư? Mở ra, có dễ, cả con tàu vũ trụ cũng chui lọt". Xung quanh mép Cửa Đá, nham nhở vết ghè, cậy của bao thế hệ người đời. Thậm chí có cả vết bộc phá ám khói của quân da trắng, mũi lõ và cả vết choòng của đám thanh niên xung phong, khi cải tạo hang Thạch Đỗ làm kho chứa đạn. Thế mà, Cửa Đá vẫn im ỉm, không mảy may suy chuyển. Nghe phong thanh, có mấy nhà khoa học nào đó, còn chiếu cả tia la-de, sóng siêu âm này nọ, mà vẫn không khám phá được, đằng sau Cửa Đá là gì. Không mở thì làm sao thấu. Hay ông giáo sư, tiến sỹ nọ cũng hiểu điều ấy, lượng sức mình nên không hề mó máy. Liệu đức thánh Lừ có biết bí ẩn đó chăng? Liệu lão Côn có cầu khấn được không? Theo sử sách và truyền thuyết mà suy, thì Cửa Đá có từ thuở trước khi đức thánh Lừ còn là người trần. Thậm chí, khi khai thiên, lập địa, những người mông muội đã thấy Cửa Đá rồi…

Có giả thiết đặt ra: tại sao, vết ám khói như bị người xưa hun đốt ở chân Cửa Đá, đối chứng với vết ám khói mép Cửa Đá, lại nằm tít trên cao, hay là Cửa Đá tự xoay xung quanh mình? Vết ám khói ở vị trí ba giờ. Vậy thì cửa tự xoay ngược chiều kim đồng hồ. Thế là nó đang mở ra chăng? Bao nhiêu ngàn năm rồi mà phiến đá kỳ lạ này mới xoay được chín mươi độ thôi ư?

Nếu Cửa Đá là thật, thì còn cơ mà chờ ngày mở. Biết đâu, đó là lối thoát cuối cùng của người đời, trước những nguy cơ huỷ diệt vô phương kháng cự. Nhưng nếu là cửa giả thì đến ngày tận thế, người đời sẽ đi về đâu? Chẳng lẽ, phải hướng vào vũ trụ, tìm sang một thiên hà khác? Ôi, phải chi, ngay từ thời nguyên thuỷ, con người đã trần trụi đi theo một con đường khác, qua Cửa Đá chẳng hạn, thì xã hội đâu có bế tắc như bây giờ?


*

Nửa tiểu đội trẻ con (thì coi như tiểu đội thiếu cũng được), đã biến Thạch Thị Thiên Nữ trở thành chỉ huy, không phải là chỉ huy cấp tiểu đội mà giữ vai trò của trung đoàn trưởng. Trang cô nương, nghiễm nhiên trở thành chính uỷ trung đoàn. Còn Mộc thì trở thành kẻ hầu, chuyên được sai vặt. Trên thao trường, từ sáng chí tối, trung đoàn trưởng và chính uỷ quần quật với đám lính trẻ: cho ăn, dỗ ngủ, thay tã lót. Khi chúng lớn lên thì dạy nói và ngăn chặn những cuộc ẩu đả. Nom chúng ngồ ngộ, không như những đứa trẻ trong làng Tuyền, đứa nào cũng đầu to, trán dô, cằm nhỏ, mắt thô lố, cánh tay dài, nhưng bàn tay lại ngắn ngủn như tay ếch. Chúng lớn dần, nước da cũng đồng loạt ngả màu cà-phê sữa.

Thỉnh thoảng, chính uỷ Trang lại mở đĩa com-pác cho binh sỹ trong tiểu đội ngũ sắc nghe bài hát ru. Bài hát mà thuở ấu thơ, bà Nụ và các mẹ trong làng Tuyền thường ời ợi ru con, trong những đêm trời nực.

"À ơi, cái ngủ mày ngủ cho say

Để mẹ đi cấy đồng sâu chưa về

Bắt được con trắm, con trê

Quàng cổ lôi về, cho cái ngủ ăn".


Trung đoàn trưởng Nữ, tỏ mò hỏi:

- Đi cấy là làm cái gì, hả bu?

- Cấy lúa.

- A, nền văn minh lúa nước. - Nữ reo lên, tỏ vẻ có kiến thức hiểu biết rộng.


Chiều chiều, tiểu đội ngũ sắc hành quân dã ngoại, trên những chiếc xe nôi, buộc díu vào nhau, nom như một đoàn tàu. Trung đoàn trưởng làm trưởng tàu, chỉ huy tuyến hành quân và nhanh chóng ra lệnh vòng tránh đám đông hiếu kỳ. Chính uỷ phụ trách hậu cần, khoác thêm quân lương (bánh ăn, nước uống) và quân trang (tã lót, giấy vệ sinh). Khi đang hành quân, bất đồ có binh sỹ nào đái, ỉa thì đèn hiệu ở xe đó nhấp nháy, kèm theo còi rú, tức thì đoàn tàu dừng lại cho bộ phận hậu cần tác nghiệp. Chúng rất khoái cảnh đèn nháy, còi rú, nên thi nhau bĩnh ra liên tục, khiến chính uỷ mệt phờ. Đúng là cháu các bà nội thế giới, tội bà ngoại làng Tuyền. Khi chúng đói, thì phải lập tức bày thức ăn, nước uống ra. Đám rồng thần này cực kỳ háu đói. Có bận, bà ngoại không mang đủ lương ăn, thế là suýt nữa chúng nhao lại, đòi ăn thịt cả bà. Từ đó, bà chờn chợn, kể cả lúc chúng cười nhe răng cũng phải cảnh giác. Nhưng không thảy chúng đi được, dù sao cũng là cháu của mình mà. Bà ngẫm cũng thấy buồn buồn, đường đường là chính uỷ, người cai quản tinh thần, mà lúc yếu thế, lại đâm ra sợ lính tráng.

Câu ca các cụ để lại: "Ba tháng biết lẫy, bảy tháng biết bò, chín thàng lò dò biết đi". Nhưng đám trẻ này chỉ thích bò lổm ngổm như bầy vượn trong vườn bách thú. Hình như, chúng không thích đi bằng hai chân thì phải? Chúng lại hay chui vào xó nhà, gầm bàn mà hú gọi nhau, như thể cánh sơn tràng lạc rừng. Loài người lại giống à? Một ý nghĩ thoáng vụt qua đầu như dòng điện, khiến cho Mộc bàng hoàng.

Mộc chỉ phải mó tay, khi đoàn quân trở về. Mộc ẵm từng đứa vào nhà và xếp xe nôi vào gầm cầu thang. Nếu cái nào trục trặc thì sửa ngay, để kịp thời phục vụ chuyến hành quân dã ngoại vào chiều hôm sau. Mộc vừa thu dọn, sửa chữa, vừa tủm tỉm cười. Hợp tác xã ngày xưa, bị phương Tây coi là trại lính, thì bây giờ, trong nhà này cũng đã trở thành trại lính Liên Hợp Quốc. Một bầy rồng ngũ sắc đang quần tụ. Làng Tuyền là trung tâm, là điểm đến của thiên niên kỷ thứ ba. Mộc lại ngẫm ngợi về một đoàn tàu liên vận quốc tế. Đoàn tàu xã hội chạy theo thời gian. Đoàn tàu vĩ đại ấy, lúc thì mười bốn toa, lúc thì hai mươi sáu toa, rồi trật bánh đổ tàu, gượng lại chỉ còn năm toa. Những toa còn lại, tự lắp đầu máy riêng, thay bánh sắt bằng bánh lốp, như kiểu những cái ô-tô kỳ dị, mạnh ai nấy chạy, không cần phải có đường ray định hướng nữa.

Nước mình, cái ga xép mang số hiệu 1986, cực kỳ quan trọng, đổi hướng chạy tàu. Về mặt xã hội, nó không khác gì một cuộc cách mạng. Đổi hướng là một cuộc cách mạng mà không có chiến tranh đổ máu, quả là tài tình. Xã hội mới mọc ngay trên xã hội cũ, như cây măng mọc trên gốc tre già và dần dần mọc chồi, nẩy lá, trở thành cây tre non, thế chỗ.

Mộc ngẫm lại, thời gian làm tuyên giáo, cứ canh cánh trong lòng, lo giữ gìn bản sắc dân tộc. Nhưng hỏi bản sắc là gì, ai nấy đều lúng túng, vì những phẩm chất tốt đẹp, lúc đầu, ngỡ chỉ dân mình mới có, đến khi mở cửa ra thế giới, thì điều ấy, dân nước nào cũng có cả. Văn hoá hiện đại, giúp loài người xích lại gần nhau, thậm chí, đổ dồn cả vào một nhà. A, sự nhảy vọt về thời gian hay sự nén lại về thời gian, đang diễn ra ngay trong làng Tuyền này, ngay trong ngôi nhà này?

Mộc nhớ, cái đận đi triển khai nghị quyết về văn hoá dân tộc ở vùng núi cao. Đến vùng này thì tuyên truyền cái gì cũng phải thiết thực, cụ thể, có hình ảnh cho dễ nhớ, không cần lý luận cao siêu. Tỷ như, tuyên truyền về bảo vệ sức khoẻ để bảo đảm phát triển lực lượng lao động (đó là lý do sâu xa), nhưng phải cụ thể, khi đau bụng phải uống thuốc của bệnh xá, không được dùng cứt lợn khô mà sắc uống nữa. Do vậy, Mộc bảo đám nhạc sỹ, soạn thành bài hát phòng bệnh và chữa bệnh: "Đi ỉa thì phải uống ô-rê-zôn… ". Ban đầu, nghe rất lố bịch, thế mà lại hiệu quả. Nhiều điều, tưởng nghịch lý, nhưng lại có tác dụng tức thời, thậm chí, lâu dài là đằng khác.

Buổi sớm, sương mù phủ trắng thung lũng, rét tê rét tái, nước đái đóng thành que. Mộc vục dậy, chạy quanh thị trấn phố núi, làm gương về tinh thần thể dục. Lũ chó trong các ngôi nhà ven đường, được dịp tỏ lòng trung thành, nâng cao cảnh giác, báo động kịp thời, làm cả phố huyện náo loạn. Thậm chí, chúng còn kéo đàn mà đuổi theo, Mộc chạy vội về trụ sở cơ quan huyện uỷ, tưởng đứt hơi. Hôm sau, Mộc dùng dằng, không muốn chạy thể dục nữa, sợ làm kinh động, nhưng nhác thấy cán bộ các ban, ngành, đoàn thể đã tề tựu trên sân, quần áo thể thao, giày ba-ta trắng, mũ vải trắng, nom cứ như hội thao. Thế là Mộc nhập bọn, thực ra là dẫn đầu, cùng bí thư, chủ tịch. Một cuộc chạy trình diễn bất đắc dĩ.

Đàn chó không biết tình thế đã đổi khác, vẫn xông ra, đuổi theo đoàn cán bộ trình diễn thể dục. Thế là, lệnh giết chó được ban ra. Nội trong một ngày, máu chó chảy thành suối, xương chó chất thành gò. Một con chó mèo trốn thoát lên nhà tay cán bộ tuyên giáo huyện uỷ. Chỗ ẩn náu kín như bưng, nhưng tay này đang ngấp nghé chức phó ban, liền báo đội trật tự đến, xích cổ lôi đi. Mộc chứng kiến cảnh ấy. Con chó không kêu, không tháo chạy. Nó ứa hai hàng nước mắt, nhìn Mộc, đầy vẻ oán hờn và nhìn tay cán bộ chỉ điểm, đầy vẻ thương hại. Lần đầu tiên, chạm cái nhìn của chó, khiến Mộc gai người và trở thành nỗi ám ảnh về tinh thần chó, sức mạnh chó.

Sự sốt sắng ấy của đám cán bộ ở đây, cũng có nguyên do nữa. Ấy là, khi bầu ban chấp hành, nhân sự đã duyệt hẳn hoi, thế mà không hiểu sao, bí thư dự kiến lại trượt ra ngoài. Hôm sau, ngay lập tức, phải bầu lại cho kỳ trúng thì thôi. Nên bây giờ, nhất cử nhất động của đám người ở đây, hết thảy đều phải ngước lên trên.


*

Mộc quay cái quả cầu bé xíu, có hình củ khoai tây móm méo, treo trên đầu xe nôi, làm lục lạc cho lũ trẻ chơi. Mỗi khi xe chuyển bánh, chúng lại đồng thanh kêu loong coong, leng keng, rất chi là vui tai, khiến bọn trẻ nhảy quớ cả lên.

Không hiểu sao, bọn trẻ trong tiểu đội ngũ sắc này, lại rất thích vày nước, hay bởi nguồn gốc sự sống xuất phát từ nước, như lũ ếch? Do vậy, lộ trình hành quân dã ngoại, nhất thiết phải qua bến đền Lừ, cho lũ trẻ lấy que đập nước tung toé, rồi mới nghe thuyết minh tự động qua stu-đi-ô:

Sồi ngàn đời

Nối thân nhau

Nắng không héo

Lửa không cháy

Đại bàng đậu

Kiến bò chơi.


Nền nhạc trầm hùng, khiến chúng ngất ngây. Bài hát được dịch ra các thứ tiếng trên thế giới. Chúng lẩm nhẩm theo, vỗ tay bắt nhịp. Bọn trẻ con trong thị trấn Làng Tuyền cũng xúm xít quanh đoàn xe nôi, bám đuôi áo nhau, đung đưa nghiêng ngả câu đồng dao:

Cành cành cộc cộc

Sắc sắc không không

Không không sắc sắc

A Di Đà Phật.


Và, tất cả hoan hỷ, cười rỡ lên.

Cộc cộc cành cành

Không không sắc sắc

Sắc sắc không không

Cành cành cộc cộc

Phật A Di Đà.


Trẻ con dễ hoà hợp. Khi hoà hợp, chúng được niềm vui chung, mà không mất gì, vô tư.


4.

Hồi này, khách thập phương đổ về làng Tuyền như trảy hội. Họ kháo nhau, hình ảnh bầy rồng ngũ sắc sắp hiện trên Cửa Đá. Ai thấy, sẽ gặp may mắn trọn đời. Một trăm năm mới có một lần.


Tiến sỹ Huỳnh Chung Thuỷ cũng từ Mỹ trở về thị trấn Làng Tuyền, mang theo mấy chú rô-bốt, cao nghều, đầu to, trán dô, bàn tay ếch, mắt ốc nhồi, cằm lẹm. Bọn trẻ ngũ sắc thấy đồng loại, cùng kêu lên "à, à, à… ". Rô-bốt thay thế trung đoàn trưởng và chính uỷ, đưa tiểu đội năm màu da, hành quân dã ngoại. Bọn trẻ lại có vẻ thích thú hơn. Bởi, ngay từ khi xuất phát, những chú rô-bốt đã hát vang bài "Cây sồi", "Suối Mẹ Tiên" theo nhịp hành khúc, đi ra khu di tích, nơi dựng tấm biển "Thoạt kỳ thuỷ", được viết bằng hàng trăm thứ chữ.

Khốn nỗi, Trang cô nương, mỗi khi thấy bóng dáng Huỳnh Chung Thuỷ ở đâu là phát uất lên. Cô nhớ lại lá thư xanh riềm răng cưa, phảng phất mui nước hoa, tức thì sùi bọt mép, nên Mộc đành phải đưa con ra ở khách sạn mang tên Cửa Đá. Anh chàng lặng lẽ thuận theo ý bố. Vẻ bất cần, Thuỷ đút hai tay vào túi áo thổ cẩm đỏ, khiến cho đôi rồng vàng thêu trên ngực áo bị kéo dài ngoẵng ra. Mộc nom thấy con mặc áo đỏ choé, lại thêu rồng như trên hoàng bào của nhà vua, thì có vẻ không thuận mắt. Thuỷ cảm nhận được điều đó, nhưng lờ đi, coi như một sự vô tình.

- Từ một gia đình đã không hoà hợp nổi, thì làm sao có thể tiến tới xây dựng một thế giới đại đồng? Người lớn thật khó hoà hợp. Khi phải hoà hợp, người ta phải luôn cảnh giác, sợ chúng bạn thuổng của mình. - Thuỷ phân vân.

- Nhiều vấn đề đặt ra, chỉ mang tính lý tưởng, mơ ước, khát vọng của con người mà thôi. Nhưng đó, chính là cái đích cần hướng tới của sự phát triển. Con người, vừa phát triển, vừa tha hoá. - Mộc ôn tồn giải thích, ngầm để con trai hiểu về tầm trí tuệ của bố.

- Thực ra, chủ nghĩa này cũng là vấn đề lý tưởng. Nhưng lại bị thần thánh hoá, làm như thể đó là chốn thiên đường, nên xa vời thực tiễn. Không biết tuyên truyền thế nào, mà nhiều nước đã bị tôn giáo hoá chủ nghĩa và không ít lãnh tụ bị thần thánh hoá, đến độ độc tôn. Do đó, những chủ nghĩa, quan điểm khác lạ là bị coi như hạ đẳng. Người có chính kiến, bị coi như phản động, nên tất yếu dẫn đến suy tàn. - Thuỷ diễn đạt tiếng mẹ đẻ đến độ nhuần nhị, khiến Mộc ngạc nhiên.

- Con nhìn xã hội theo phía bên kia nhìn sang mất rồi. Người trong cuộc không hẳn nghĩ như vậy đâu, mặc dù họ không đến nỗi u mê.

- Dân mình cũng có cái thói háo danh hão, cái gì cũng cho mình nhất: nền chính trị tiên tiến, văn hoá đậm đà bản sắc, truyền thống dân tộc, đến như tình báo cũng giỏi nhất thế giới. Ôi, lạy các bố bản!

Mộc ngạc nhiên:

- Không phải thế sao? Bố vẫn tuyên truyền như thế. Mà ngẫm ra thì đúng như thế thật.

- Ha, ha, ha…

Thuỷ cười to, chảy cả nước mắt:

- Bố bị nhiễm vào tận xương tuỷ rồi, nhưng là thứ lý luận một chiều, không đối chứng. Con xin phép nêu ra để bố xem nhá. Nền chính trị tiên tiến, sao lại sợ tự do, dân chủ? Văn hoá đậm đà bản sắc thì nước nào chả thế. Người ta cũng yêu nước, cũng chống ngoại xâm, cũng cần cù lao động, sáng tạo. Mình thì, chèo, tuồng, đến múa hát cung đình... đều nhập từ Tàu sang cả. Các nghề thủ công cũng do quan lại đi sứ phương Bắc mang về, công nghệ hiện đại thì du nhập Âu, Nhật.

- Chèo mà của Trung Quốc à? Đó là văn hoá đặc sắc có một không hai của cư dân đồng bằng Bắc Bộ đấy chứ.

- Thế, bố không đọc Đại Việt sử ký toàn thư à? Trong đó có nêu rõ rành rành.

- Ơ, thế thật à? Bố đọc nhiều lần rồi chứ, sao không để ý nhề?

- Thậm chí, mình còn tự coi là cái nôi của nhân loại nữa.

- Chả phải thế sao? Khe nước, đồi Hai Đụn, hang Rốn và Cửa Đá còn sờ sờ ra kia?

- Có giả thuyết đang được chứng minh, rằng nguồn gốc loài người ở Đông Phi, cách đây đã mười mấy vạn năm.

- Phức tạp quá đi mất. - Môn cáu, vì không đủ lý lẽ vặn lại con trai, trong khi đó, mình đã đi đóng đinh vào đầu bao nhiêu người, bao nhiêu thế hệ một niềm tin sắt đá.

Mộc đâu có ngờ, cái thứ sắt đá ấy chỉ bền vững trong môi trường duy ý chí, khi mang ra gió bão của đa luận thuyết, lập tức han gỉ và rã rời.

- Những thứ đó tuy rất quan trọng, nhưng không phải quyết định. Cái quan trọng bây giờ là cởi ách nô lệ của chủ thuyết. Thôi, không bàn về xã hội nữa. Cụ thể, về gia đình chẳng hạn, thực tế cho thấy, xã hội hiện đại thì gia đình lỏng lẻo, các quan hệ cũng rất dễ bị phân rã. Đó vừa là nguy cơ, làm cho con người bị rô-bốt hoá, nhưng lại vừa là cơ may cho sự độc lập phát triển.

- Huyết thống, truyền thống bị phá vỡ hết sao?

- Rô-bốt cũng chế được ra các rô-bốt khác nữa. Chúng đâu có mã của a-xít dri-bô nu-lê-ic?

Dì Gió thì thào vào tai Thuỷ, lời mẹ nhắn về. Và, dì Gió cũng đưa lời Nàng hỏi thăm Mộc. Nàng còn mời Mộc cùng đi với con sang bển. Nhưng Mộc không thể. Mộc cảm thấy mình đã là người của hôm qua. Ngày dài như vô cùng tận. Kìa, tất thảy, hãy kéo mặt trời xuống đi, hay là thời gian bị nhốt trong Cửa Đá mất rồi.

- Mẹ gia nhập đảng cộng sản, bố ạ.

- Vậy sao? - Mộc đi từ ngạc nhiên này, đến ngạc nhiên khác.

- Các đảng phái, các tổ chức, đoàn thể xã hội đã có tính toàn cầu, để liên kết giải quyết những vấn đề chung của thế giới. Người ta không thể chỉ tranh đấu cho quyền lợi của giai cấp, mà là của loài người.

- Nguy cơ của loài người, phải chăng là bệnh liệt tráng(18) và ung thư?

- Tuy đó là những điều nan giải, nhưng với y học tương lai thì lại không khó khắc phục. Cái khó là ở chỗ, một khi đã khắc phục được, thì nguy cơ lại chính là không còn gì để thử thách loài người, nghĩa là, mất đi sự chọn lọc tự nhiên.

- Viển vông quá. Ai có đủ uy tín để chỉ ra điều đó?

- Không thể cứ phải có ngọn cờ chỉ đường và thần tượng làm đức tin, thì mới dám tiến bước. Trí tuệ mới soi đường cho xã hội tiến lên.

- Như thế, lại chính là con đường của chủ nghĩa Mác.

- Nhưng cốt lõi của chủ nghĩa Mác là vấn đề đấu tranh giai cấp và vấn đề chuyên chính vô sản kia mà?

Mộc xốc lại cổ áo sơ-mi, theo thói quen mỗi khi gặp vấn đề bức xúc, nên hai ve áo thường đen sẫm ghét thấm mồ hôi, nom như hai dấu kẹp chì.

- Tuy xin ra khỏi đảng, nhưng bố vẫn trân trọng. Mỹ lãnh đạo thế giới ư? Về khoa học, công nghệ thì Mỹ có thể chiếm lĩnh đỉnh cao, nhưng về văn hoá thì chưa chắc đâu. Nếu như, một đất nước mà bị lệ thuộc kinh tế thì có khi vẫn chưa mất nước hoàn toàn; nhưng một khi bị nô dịch về văn hoá, thì coi như tiêu vong. Con hãy khuyên mẹ con… Ngày trước, mẹ con rất thích mặc váy màu hạt dẻ.

- Nói đầy đủ, là váy dài, màu hạt dẻ, phải không bố? Mẹ con đoan trang và vị tha. Con phải sống sao cho xứng với công lao của mẹ, đúng không? Con hiểu ý bố rồi. Nhưng bố con ta vẫn phải tiếp tục tranh luận cho ra nhẽ. Một đảng mà chỉ mạnh trong thế độc quyền, nếu đa đảng, lập tức sẽ bị suy yếu. Tại sao? Ca dao tục ngữ Việt Nam có câu: "Ở nhà nhất mẹ nhì con, ra đường khối kẻ còn giòn hơn ta". Các đảng phái không nên thôn tính nhau, mà cùng hợp tác để phát huy sức mạnh tập thể. Bố có nhớ bác Hiền không? Bả, hồi xưa, học cùng khoa triết với bố đó. Bây giờ, định cư bển với mẹ con, cùng chung cư, nên củng cố thêm niềm tin cho mẹ. Cái bi kịch của đất nước là người cầm quyền lấy sự độc tôn chủ thuyết đặt lên trên quyền lợi dân tộc. Lẽ ra, những người trí thức phải có trách nhiệm thức tỉnh, thì lại cúi đầu phục tùng. Đó là tư tưởng cầu an, một sự nô lệ của nô lệ. Trí thức là phải có tinh thần phản biện xã hội.


Mộc thở dài, tỏ ra ngán ngẩm. Thuỷ vẫn hăng hái tranh luận một cách vô tư:

- Còn việc bố định bàn về văn hoá bản sắc, văn hoá chia cắt vùng, miền, quốc gia thì có lẽ đã lỗi thời. Tại sao không kiến tạo một nền văn hoá chung cho toàn nhân loại, nền văn minh trái đất để có thể hội nhập với văn minh vũ trụ, trong tương lai?

- …

- Có thể bố đã sống quen trong chế độ chấp hành chỉ thị là trên hết, như kiểu người dân trong xã hội phong kiến, phải cúc cung tuân theo ý chỉ của hoàng thượng. Chưa quen sống trong nền dân chủ, nên có những luận điểm gây khó chịu, nhưng bố không thèm tranh cãi, để giữ hoà khí…

Bỗng dưng, Mộc nhún vai một cái đầy kiểu cách, như thể ông Tây, khiến Thuỷ cũng trố mắc ngạc nhiên.


Ôi, cái bọn ăn cơm Tây, hay nói thẳng ngay, tự do suy nghĩ, sống không cần lệ thuộc, ăn mỗi người mỗi xuất, ngủ mỗi người mỗi phòng, thảo nào lắm phát minh, sáng chế. Cánh ta ăn cơm ta, hay chuyện ngầy ngà, suy nghĩ cũng phải đắn đo do dự, sống dựa vào nhau như tre ấm bờ, cả nhà chấm chung một bát nước mắm, ngủ chung một giường, hay ganh tỵ và khôn vặt. Hai nền văn minh, hai lối sống, liệu có hội nhập được chăng?


Mộc mệt mỏi, khối óc đã đóng lại, để tự bảo vệ an toàn. Nhưng khi nghe nhắc đến Hiền, thì Mộc lại tỉnh như sáo. Các tế bào não được khởi động trở lại. Mộc nhớ chứ. Người con gái thủ đô, từng dấm dúi đưa cho Mộc bao nhiêu tài liệu lưu hành nội bộ của trung ương, mà bố cô được phép nghiên cứu. Thời ấy, lén đọc được những tài liệu ngược chiều, khác với tinh thần của tạp chí Học tập (19), làm cho tầm suy nghĩ của Mộc được rộng mở hơn, thậm chí, bị coi là ngang ngạnh, "hâm tỷ độ". Bởi, điều đó trái với cách đào tạo sinh viên kiểu thày tu, sự định hướng một chiều trong công việc, như thể đặt lên đường ray tàu hoả, cứ thế, đến hết ray thì kịch tầm. Không như tôn giáo, tôn giáo chỉ cần niềm tin và luôn mở, cứ như ta đi trong lâu đài, hết lớp cửa này, lại mở ra lớp cửa khác, vô cùng. Còn chủ nghĩa này, có ngọn đuốc soi đường, lý luận ra đời trước hiện thực xã hội hàng trăm năm, và đến chỗ ngọn đuốc ấy không soi đường nữa thì bế tắc, khủng hoảng.

- Bác Hiền và mẹ con cứ tiếc hoài cho bố. Một người như bố, nếu không lạc đường luẩn quẩn, thì đã làm nên sự nghiệp lớn lao, tầm cỡ quốc gia, có khi vượt ra ngoài quốc gia. Chủ nghĩa tập thể và bình quân đã giết chết bao nhiêu tài năng, làm lụi tàn cả một vườn hoa trí tuệ. Và rồi, chính bản thân cái chủ nghĩa ấy cũng tự sụp đổ tan tành.


Mộc cảm thấy choáng váng, như bị nhát búa giáng xuống đầu, những sợi dây thần kinh và mao mạch đứt lựt phựt như tay lưới mục, hoa cà hoa cải nổ toá ra, toàn thân gục xuống, nhưng vẫn nghe loáng thoáng tiếng dì Gió kêu lên: "Này là cầu vồng ngũ sắc, này là bầy rồng ngũ sắc đang bậu trên Cửa Đá kia kìa!".

Quan ngài Thuỷ Văn Thổ vội lướt tới, toan vực Mộc dậy, nhưng không kịp nữa rồi.


*

Từng bầy dơi từ trong hang Rốn xổ ra như quãi trấu, bay loạn xạ, đen kịt bầu trời làng Suối, che khuất cả cầu vồng và bầy rồng. Tiếng kêu đứt hơi như chuột gặp mèo: "Chít! chít!" (Sập hang đến nơi rồi!). Hàng đàn cóc, ếch, nhái nhảy ra như rắc mạ, tràn ngập cả đường làng và sân đền Lừ. Chúng cũng cất tiếng kêu hoảng loạn: "Ộp! ộp!" (Sắp sụt đất đấy, chạy mau).


Suối Mẹ cạn kiệt. Đồi Hai Đụn phồng to. Hang Rốn rộng huếch. Cửa Đá rung rinh. Đền Lừ lắc lư. Hàng sư đoàn người tháo chạy toán loạn như gà nhép gặp diều hâu. Nhưng bọn trẻ trong tiểu đội ngũ sắc lại tỏ ra vô cùng thích thú. Chúng cứ bám theo nhau, nhảy quớ lên và cười đùa ngật ngưỡng, y như trong hội múa rồng.


***


Ngày đã cạn,

mà mặt trời không lặn.


******

- Khởi thảo, 3/6/2007, tại phòng 501, Trung tâm Văn hoá, Hội Nhà văn Việt Nam, (ngõ 275, đường Âu Cơ, phường Quảng An, quận Tây Hồ, Hà Nội).

Hoàn thành, 26/7/2008, thị xã Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang.


Chú thích:

(1) Cung hình (tiếng Trung): thiến.

(2) Nông trang tập thể (tiếng Nga)

(3) BBC: British Broadcasting Corporation (Liên đoàn phát thanh Anh Quốc)

(4) Hungary: Hung-ga-ri (phiên âm qua tiếng Trung Quốc)

(5) Tổng công ty xuất nhập khẩu tạp phẩm (viết tắt tiếng Việt)

(6) Nguyễn Du, Truyện Kiều

(7) Thơ Nguyễn Bính

(8) Ti-vi do Ba Lan sản xuất

(9) Đoạn văn này, có 125 chữ, không dùng dấu câu.

(10) Tác giả Ni-cô-lai A-xtơ-rốp-xki

(11) Tác giả Đinh Linh

(12) Tác giả Hoàng Văn Bổn

(13) Jean Paul Sartre trích câu này của L. F. Ce'line, làm đề từ trong tác phẩm Buồn nôn.

(14) Máy bay (tiếng Pháp)

(15) Diện xuất cảnh những người đã học tập cải tạo (tiếng Anh)

(16) Thuyền nhân (tiếng Anh)

(17) Tổng bí thư đảng Cộng sản thống nhất Đức

(18) Hội chứng suy giảm miễn dịch

(19) Tạp chí Cộng sản, cơ quan lý luận và chính trị của trung ương đảng Cộng sản Việt Nam


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ TuyênQuang ngày 08.7.2017.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004