Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới

tiểu thuyết


ĐẤT BỎNG



        PHẦN THỨ HAI


CHƯƠNG 6




Viêc mang cơm lên tầng ăn tranh thủ hoặc mang gạo lên nấu ăn đã thành phổ biến. Tầng bè mở dày hơn. Làm ăn rộn rã hơn. Than vẫn tập trung đầu trục hai chuyển xuống máng ga rồi từ đó, tàu kéo về Cửa Ông. Than ra liên tục đều đặn. Ngoài trục Hai còn đặt tiếp trục Hai bảy đưa than từ núi Trọc, Đèo Nai xuống. Trục Hai là trục đặt trên tầng thứ hai từ phố lên. Trục có hai sa rô (bệ đặt hàng). Khi than đưa lên sa rô, trọng lượng kéo tụt xuống. Người và toa không ở dưới được kéo lên theo chiều ngược lại. Để trục này hoạt động, kĩ sư người Pháp sau một đêm tóc bạc trắng mới nghĩ ra. Tất cả mọi ngả đường vận chuyển than đều bằng goòng Những toa goòng thấp. Hai người đun đẩy kich kéo. Ở đây trên trời dưới than. Lò cai Chi hết than rồi nhưng tên lo chi (Lộ Chí) còn đó. Cả khu Sở Cũ than đã hết. Diện khai thác ào ào chuyển về Đèo Nai. Người ta phân biệt Sở Mới với Đèo Nai trên còn Sở cũ là Đèo Nai dưới. Truc Hai bảy xây dựng năm 1927 có nhiệm vụ chuyển than từ trên núi Trọc, Đèo Nai, đầu Dái Nhện (sau gọi là đồi 228) xuống. Than từ chân trục Hai bảy được đưa về đầu trục Hai. Phía dưới trục Hai, người ta khai thác than lò. Người thợ sau ca về chỉ đủ thời gian thông đèn, đổ bã đất, xem tăm nước, mài búa lò và ngủ, chuẩn bị cho ca sau.

Sau ngày bà Khảo chết, Xuơ ở căn nhà ấy, bán hàng và nhấm nhẳng đưa chuyện. Cai Quệ thường đến mua hàng, bông phèng vài câu. Quán ngày càng đông, bán đủ thức ăn vật dụng cho cu li tầng, cu li lò. Xuơ tỉnh táo tươi tỉnh hẳn. Bà Khảo chết để lại cho cô kha khá của nả. Khôn ngoan, cô giấu, làm ra vẻ nghèo túng, vặt đầu cá vá đầu tép qua ngày. Thế mà khối người thương, để ý đến. Cô cứ ẻo lả, rắn đóng giả lươn. Xuơ khao khát một ngày nghỉ hàng, leo tầng xem than, xem lò bễ thế nào. Mang tiếng ở mỏ từ ngày mở mắt, nghe người ta nói mở vỉa, cắt tầng chẳng hiểu đầu cua tai cá ra sao. Cô thường nói vậy nhưng rủ tào lao không thèm đi. Người chỉ dẫn phải hiểu biết cặn kẽ để khi về, cô còn biết đường tán hươu tán vượn, cây chết tươi người chết đứng cơ. Phải kể chi tiết hấp dẫn, câu được khách, bán được hàng. Cai Quệ hồ hởi:

- Lên núi Trọc. Nhìn tầng bè chỉ có nhất. Toàn bộ than tầng phơi ra trước mắt. Cháu còn được nghe sự trả thù của hai dòng họ đến phát ghê lên.

- Chuyện thế nào hả chú?

- Cháu biết không? Người Hoa có hai điều mà bất kì ai, bất kì dân tộc nào cũng phải học. Đó là cần mẫn và đoàn kết. Họ chịu khó chịu khổ, làm không kể giờ giấc, đầu dần cuối dậu. Đi đường gặp bãi phân trâu, còn bọc lá mang về bón cho đất. Rau họ trồng bao giờ cũng tốt cũng to hơn rau của mình. Họ sống vì nhau. Ai cùng họ hàng làng nước còn khổ nghèo, họ giúp vốn giúp công, giúp kinh nghiệm. Làm ăn thất bát, họ giúp cho lần hai, lần ba. Sau ba lần, khổ vẫn hoàn khổ, số giời đày, họ mới thôi. Trường hợp họ Hoàng, họ Lục trên núi Trọc ngàn năm có một hoặc do không hiểu hết ngọn ngành sự việc ấy. Cháu lên mà xem.

- Bao giờ đi được?

- Sáng mai, đi theo phu tầng, trưa về thôi.

- Cho cháu đi cùng nhé!

- Mày có nhớ thì dậy.

- Vâng!

Quệ thành cai do cẩn thận, giao việc gì thì thực hiện chu đáo. Hết ca, một mình ở lại, tầng bè dọn dẹp thoáng đãng. Từ khi là cai, có tí quyền, bọn mèo đàng chó điếm tán tụng. Quệ cũng khoái. Lúc đầu còn e dè. Mỡ để miệng mèo không dám. Dần dần, ngày một ngày hai hoá hư, đánh bạc quên tay ngủ ngày quen mắt, Quệ lao vào dan díu với những bà cả nể, những chị em có chồng sồn sồn càng dễ chơi ngang, những đứa lười làm thích gạo ngon công khống. Hắn cũng chả khoẻ mạnh gì nên thường xuống Cẩm Bình vào nhà ông lang Thìa cắt thuốc, nhờ vợ sắc uống. Thấy chẳng khá lên mấy, Quệ dò hỏi các bà già. Người nói giá đỗ, kẻ nói trứng gà. Thím Và - người Hoa - nói rượu ngâm tắc kè, phống sì. Hắn tìm cả. Chẳng thay đổi được gì. Chuyện ấy lâu dần thành chuyện tào lao, tán gẫu trong giờ làm, trong giờ nghỉ để xua tan mệt nhọc. Thằng Pha tâm sự:

- Bác phải tìm cơ! Ở làng cháu có ông Lã Cung Đại. Thày thuốc riêng của nhà vua đấy. Năm nay, tám hai tuổi rồi, khoẻ như lực điền. Thuốc ấy quý lắm. Chỉ thang trước thang sau là móc đèn đất lật toa goòng ngay.

- Mày ở làng nào? Sao lại móc đèn đất lật toa goòng?

- Cháu ở Liễu Đôi cạnh Thanh Liêm, Liễu Đề đấy bác.

- Thế còn…

- À! Uống một ngụm. Cái của nợ cứng ngắc treo được cả đèn đất không sợ rơi. Còn toa goòng có những cái bánh sắt. Đưa của ấy vào. Đứng lên. Bánh xe xô lệch, xoay đổ nháo nhào.

- Chỉ khoác lác!

- Làng cháu có tay thanh niên, hai mươi hai mốt gì đó mà chim cò chẳng có. Cha nó dẫn vào. Nghe kể qua loa, ông ấy xem xét một lúc rồi đưa thuốc về sắc uống. Chưa được một ngày. Mới nửa đêm, nó bật dậy, hét toáng lên. Cả nhà thức giấc, mừng như vớ được vàng. Chim nó to dài như cái điếu thằng Quả đang hút kia.

Thằng Qủa vội thở khói, bị sặc, hai tay đấm ngực thùm thụp, mãi mới hồi lại được.

- Rồi sao nữa, kể tiếp…

- Mẹ nó cưới vợ cho. Đẻ ngay tút xuỵt một thằng cu. Thằng bé vừa lọt lòng, mắt sáng quắc, mở thao láo. Nó vọt cầu vồng, bật trôi cả tã.

- Được! Dịp nào mày nghỉ. Về quê, tao nhờ…

Nhưng nó lần chần không về. Quệ phải đưa tiền cho nó. Chắc cũng khá nhiều rồi chờ đợi đến bỏng mắt. Mịt mù bóng chim tăm cá. Mấy chục năm sau, khi Quệ đã nghỉ làm, trong một lần chuyện phiếm, ông Cải kể:

- Lã Cung Đại là quan thái thú người Trung Quốc từ đời nảo đời nào kia. Vợ ông, dăm bảy bà mà chưa có mụn con nào. Một tên lính biết chuyện, chuyển đến ông bịch thuốc kèm theo đơn mà gia đình nó truyền được bảy đời. Ông uống rồi có con. Tính riêng con trai đã ba đứa. Lúc đó, đã hơn bảy mươi tuổi, ông vẫn đều đặn chuyện buồng the. Mấy bà vợ phải kêu ca phàn nàn về sự hăng hái của ông. Thương vợ, ông quẳng bịch thuốc ra sân. Bọc thuốc vỡ. Những viên thuốc tung toé. Con gà trống đang đói, mổ ăn. Ăn được ba viên, nhìn thấy gà mái, nó xô đến, dính chặt thân vào, mổ lia lia suốt bốn ngày liền. Nó vừa đạp vừa mổ đến lúc đầu gà mái trụi lông, sưng to nần nẫn, đỏ to bằng quả cam chanh. Người ta gọi thuốc ấy là thốc kê hoàn. Hoàn là viên, kê là gà, thốc là đầu. Tiếc rằng đời sau, bài thuốc ấy không truyền được lại.


Xuơ đến sớm, ngóng chờ ngoài ngõ cùng xếp Quệ lên tầng. Hắn bước từng bước chắc chắn. Xuơ háo hức lúc dừng, lúc chạy gằn, luôn mồm hỏi. Đến tầng, Quệ chỉ tay:

- Cháu muốn xem gì thì xem, hỏi gì thì hỏi, khéo không ngã đấy! Chú còn phải làm.

Xuơ thong thả bước. Toa nối toa ầm ầm, chằng mắc vào nhau. Những thanh đường sắt rung giật từng nhịp. Cu li vất vả. Nó không dám kể, dám hỏi. Ở tầng còn ông già, râu bạc trắng, phơ phất trước ngực. Những đứa con gái còn cởi trần đã phải nhặt than, bốc vào rổ xảo. Mấy anh thanh niên lao xà beng choàng choạc. Nhìn chán, nó lần ra mé tầng.

- Xem chán mắt chưa?

Nó quay lại:

- Chú Quệ!

- Leo lên đây! Chỗ hai dòng họ đánh nhau mấy năm trước. Chỗ Kìm Cối hai tay vỗ đùi, bật từ mái nhà này sang mái nhà khác ở mé này cơ!

Xuơ leo lên. Quệ đưa tay cho Xuơ nắm lấy. Hai chú cháu vòng qua mom tầng. Một ngôi nhà thấp, hoang tàn và ảm đạm. Cây cối rậm rạp. Sắn dây leo um tùm. Xuơ thích lắm, rút một sợi, kéo lằng nhằng, đưa lên nhai. Cô đã tính nếu có thể cắt về, bán rẻ cho trẻ con ngõ phố. Chợt nghe loạt xoạt, Xuơ hết hồn. Con rằn xám bạnh cổ phì phì trườn đến, thè lè cái lưỡi đỏ. Đầu lưỡi tẽ làm đôi cứ thụt ra thụt vào. Xuơ luýnh quýnh, chân ríu lại, ngã nháo nhào:

- Chú Quệ!

Hoàn hồn, Xuơ đã thấy mình nằm gọn trong vòng tay chú. Quệ đỡ Xuơ, không nói gì, ôm chặt Xuơ hơn. Cô giẫy ra, mặt nóng rựng. Hai cánh tay Quệ lúc ấy thành thép rồi. Xuơ kinh hãi, không còn đủ sức giẫy giụa. Bàn tay Quệ lần lần cởi cúc áo, cởi dải yếm, xoa nắn bầu ngực căng mẩy, nóng hôi hổi của cô. Cánh tay Quệ nâng người cô lên sát vào người hắn. Một bàn tay kéo dải rút quần luồn xuống, hối hả tìm kiếm day day. Cô gần như đứt hơi, lả người đi. Hắn hầm hập càng lúc càng dồn dập.

Một lúc sau, tất cả lại ắng lặng, bình yên như cũ. Quệ nhặt mảnh áo phủ cho cô. Xuơ thút thít khóc. Hắn dỗ dành không thành lời. Bàn tay vỗ nhè nhẹ vào vai cô. Lâu lâu, hắn luồn tay, nắn nắn vào ngực cô thêm mấy lượt. Cô để mặc, tức tưởi. Hắn an ủi, đỡ cô dậy. Cô lững thững, bàng hoàng bước theo Quệ, nước mắt lã chã. Hắn vừa lấy cùi tay lau nước mắt cho cô vừa dặn nếu ai hỏi nói là bị trượt chân, sái cẳng.

Đồng và Yên sống cùng nhau qua ba cái tết. Tết của nhà nghèo, lẹt đẹt pháo. Cái nổ cái xịt. Khói um trong nhà. Xác giấy tơi bời ngoài cửa. Ba năm rồi, vợ chồng chưa con cái gì. Lò càng vào sâu càng hẹp. Thợ cuốc phải trườn bằng cùi tay và đầu gối, ngửa mặt xỉa than. Mỗi nhát lao phải nhắm mắt. Than ào ào đổ xuống xong mới mở mắt nhìn trong ánh sáng leo lét của ngọn đèn đất. Than lúc ào ào, lúc cạy từng vảy. Tải than bằng mai. Lò dốc, người chân đất, cởi trần, mặc quần đùi. Có người nóng quá, cởi hết. Mồ hôi chảy theo vòi như đái. Phụ nữ cũng phải chui lò, móc than đội ra. Ăn được thì làm được. Lò đã dài, sâu hơn chục thước. Đồng nhoai lên ngách thượng. “ Roạt”. Tối mắt tối mũi lại. Người thợ bên trên xỉa trượt. Cây xà beng lao hụt mất đà quất chéo vào ngực Đồng. Tưởng gẫy xương. Lôi ra ngoài, vết dập to như vốc tay, nhùng nhũng máu đen. Đồng nằm ngửa, thở khọt khẹt. Yên gào lên khi thấy chồng, mặt như vùi trong bùn nước, lổn nhổn những mạt than. Cai Lạng cho cô nghỉ, cùng một phụ nữ khác dìu chồng về.

Ngỡ hôm trước hôm sau đi làm được, ai ngờ kéo dài hàng nửa năm. Đồng nằm đắp bao tải rên hừ hừ, lúc lại hất tung chăn, oằn oài trên giường. Người đầm đìa mồ hôi, hung hắng ho. Cầu - một người làm ở tầng bên - nghe tin lại thăm rồi lặng lẽ về mang sang cho nửa cân gạo nếp: - Cô cứ nấu cháo cho anh ấy húp. Những người bị thương kiêng ăn đồ nếp nhưng nhà nghèo, có là tốt rồi. Ăn được mới có sức.

- Cảm ơn anh!

Yên nấu cho chồng bát cháo, bón từng thìa. Ăn xong, Đồng tựa vào vách, thở. Đột ngột, người hật lên một tiếng. Thấy nhờn nhờn, anh nhổ ra tay. Một bọng máu đã đen. Xoè bàn tay, lấy ngón trỏ di di nhẹ. Bọng máu vỡ. Anh đưa lên mũi. Mùi khăn khẳn, khăm khắm. Giấu không để vợ biết, anh gỡ đất vách chùi cho lạc màu, phủi đi.

Yên lo lắng, chạy ngược chạy xuôi khi chồng không đỡ. Sỏi sang, hỏi han cặn kẽ, giúp được chục trứng mua chịu của bà chủ nhà. Đá cùng mấy bác dưới phố lên thăm. Nhà cửa đông đảo được một lúc lại vắng.

- Đau quá thì để cháu lên chăm sóc chú. Chẳng ngại gì đâu. Còn người còn của. Chú ạ!

- Thôi anh! Cần gì thì em nhắn.

Cần thì cần rồi nhưng cháu lên, cơm cơm cháo cháo thế nào. Nhà hai vợ chồng son, hai tay vày lỗ miệng chưa đủ. Giật đầu cá vá đầu tôm. Nghèo thì chịu. Ốm no bò dậy.

Yên phải cố thôi. Đường từ núi Trọc sang chỗ làm gần cây số, cũng đỡ. Khép cửa xong, chưa kịp dọn dẹp đã nghe tiếng Cầu:

- Anh ấy có đỡ không?

- Nhà em vẫn vậy. Mấy hôm nay lại ho tợn.

- Bên tôi còn gừng già đấy. Chốc nữa tôi mang sang.

- Chúng em nhờ anh nhiều quá.

- Ồ! Việc gì? Cùng cảnh áo ngắn cả. Đùm bọc lấy nhau chứ! Giúp được gì cố giúp.

Chập tối, nấu xong vấu cơm. Yên thấy Cầu mang sang củ gừng to. Anh dặn cô giã dập ra cho có bột, xào nóng lên đắp chườm cho Đồng:

- Chắt lấy chút nước cốt cho anh ấy nhắp. Tốt đấy cô ạ!


Khu nhà lại chìm vào đêm vắng. Bình thường, nó còn yên tĩnh đến sáng hôm sau, khi tiếng còi giả cấm gióng giả cất lên. Núi Trọc rùng rùng trở dậy. Người vào ra đi lại lộn xộn. Yên lại leo dốc cùng đám bạn lò. Những lời thăm hỏi Đồng thưa vắng dần. Người người hì hụi làm. Có làm mới có ăn. Tay năm tay mười còn đói rã họng đầy đường đầy phố ra kia. Thay vào những lời hỏi han an ủi chân tình, bắt đầu có những điều cợt nhả...Không hiểu sao hôm nay cai Lạng lại hỏi thăm, tỏ vẻ săn sóc chồng cô. Nếu bận quá, đi làm muồn muộn một chút cũng được. Ai lại vậy. Đồng lương làm mồ hôi nước mắt. Ăn đều tiêu sòng. Làm ít mà hưởng nhiều khác gì ăn không. Người ta làm, lơ là một chút bị vụt bị đập. Có người ngã xuống chân tầng, ốm đau quặt quẹo rồi chết. Chủ còn lờ đi cũng chẳng sao.

- Cháu cám ơn ông nhưng phải làm tử tế chứ ạ!

- Là tôi bảo vậy.

Cái xi (phân kí) bị bật vài rẻ. Yên ngồi cạp lại. Mấy người thợ vác mai vào sau:

- Chồng vẫn ốm à?

- Vâng!

- Bỏ thế phí lắm em ạ!

- Phí gì cơ! - Yên nghĩ mình buộc lại xi có gì chưa đúng cách.

- Em ấy!

Những lời cợt nhả, chọc ghẹo thật đùa, điềm nhiên tung lên. Hêt giờ. Yên xăm xăm chạy về, chớp chảo gánh nước, nấu ăn hay tranh thủ cuốc đất, gieo rau. Tối tối tranh thủ khâu vá. Đồng khi nặng khi nhẹ, bệnh lúc xuống lúc lên. Ngọn đèn hoa kì le lói trên gương mặt xương xẩu, hốc hác của chồng của vợ.

- Anh ăn có thấy ngon không?

- Đắng miệng lắm!

- Cố ăn đi tí chút.



Mưa mấy tuần liền. Nước từ núi cao chảy dồn xuống cac khe suối, xé rách vùng đất than ra làm mấy đoạn. Năm nào cũng vậy. Đường chính tuy ít xe cộ nhưng người đi bộ nhiều. Xe tay xe kéo xe bò xích lô…cũng lắm nhưng chỉ dọc các con phố cũ, phố mới. Khu vực đó đã có cầu. Ngoài nơi dân mỏ tập trung, cầu chưa bắc. Đường tạm bợ, hễ mưa là nước xé. Đường bị chia cắt, chờ phu lục lộ, khi nào đi được thì đi. Có đoạn hết mùa mưa sang mùa khô chưa giải quyết nổi… Phương tiện đi lại giữa Cẩm Phả - Cửa Ông là xe hoả chở than kèm theo hai toa chở người, gọi Song loan. Những quan chức việc công cưỡi ngựa. Khi gấp thì rầm rập, bình thường nghe lóc cóc. Người cần kíp đi xe kéo. Con đường mới mở kéo ra phía biển tránh đường chính. Ngã tư Cẩm Phả bấy giờ, một lối lên tầng qua cổng kho, một lối xuống khu dân vôi Cốt Mìn. Một lối đi Mông Dương (qua phố Cũ), một lối đi Hòn Gai (qua khu phố mới). Con đường mới bỏ cả phố Cũ, phố Mới. Một đầu qua cầu hai (nay đã mất) chạy qua cầu năm (sau này gọi là cầu hạnh phúc, cầu Trắng) sát nghĩa địa tây, nghĩa địa ta. Mưa xuống là phu nghỉ. Giếng đầy hòm vơi. Gạo muối dần dần hết. Giếng cứ đầy, mưa cứ trút. Có nhà đã phải vay gạo. Cơm độn sắn độn khoai. Các lán phu chật người. Mùi hôi hám ẩm mốc bốc lên. Cờ bạc rượu chè hoành hành, sát phạt nhau. Tiếng chửi tục, chửi thề ầm ĩ. Cả sở mỏ nghỉ. Yên nhìn trời ngao ngán, chợt nghe tiếng gọi khẽ. Anh Cầu nấu cháo, nhớ đến Đồng. Anh đập củ hành, múc bát to, đội mưa sang cho. Yên đổ cháo vào vấu, đưa bát trả, chưa kịp cảm ơn. Cầu đã về. Nước chảy loang trên tấm lưng trần. Chiếc nón cũ lênh bênh bị màn mưa nhập nhoà xoá mất.


Trong lán phu, Sỏi đang vào cầu. Hàng tập tiền nhàu nát vo vún trong lòng anh. Có tiền, giọng người ta khác lắm. Ăn to nói lớn, ăn mạnh nói bạo. Bên anh, mấy tay thợ hết tiền, nằm nghêu ngao. Hai tên hết tiền sau, leo qua tên đang hát, tìm chỗ lách vào. Tên này không hát nữa, càu nhà càu nhàu, nằm gọn lại, gọi với:

- Này! Thắng cho anh em cút rượu nhé!

- Đ.mẹ! Nằm đấy đái ra mà uống!

- Mẹ mày có uống được không mà bảo bố?

- Thôi đi!

Im lặng. Chắc nó được nên chuyện ngỡ to lại xẹp nhẹ như bong bóng xì hơi. Thằng nằm lại rên rỉ hát.


Quán của Xuơ vẫn đắt hàng. Sau ngày động núi lở rừng ấy, cô đóng cửa, khóc rưng rức. Hoài phí công sức giữ gìn giờ tan nát hết. Không thấy cảm giác lo lo rạo rực như hôm Toàn Cấu. Cô nghĩ lan man, không thiết ăn uống gì. Tối khuya, cai Quệ đến gọi cửa. Cô gài chặt, căm thù thằng đểu giả đến tận cổ:

- Xéo mẹ ông về đi!

Tiếng Quệ khẽ khàng nài nỉ. Chỉ nghe tiếng khóc rấm rứt, hắn bỏ về. Cô nằm, người đau ê ẩm. Con gái như thứ đồ chơi cho bọn đàn ông bặm trợn thô lỗ hay sao. Hơn hai mươi tuổi. Phải kiếm được chỗ để nương nhờ dựa dẫm. Anh Quân đó. Vào hàng cứ ngồi lì tới khuya. Anh có tình ý với mình nhưng nhát, ngại ngần không dám hé răng. Mình thường bắt gặp cái nhìn trộm, vụng về kiếm cớ lảng sang chuyện khác. Anh Dự người ta nói mồm miệng như tép nhảy vẫn vào hàng, từ tốn từng cử chỉ, ăn nói đúng mực, khẽ khàng. Anh Lâm thấy mặt là cười. Cái cười thân thiện hồn nhiên mà rất có duyên. Cả ba người, ai cũng sẵn lòng chờ cô sai bảo. Xuơ thừa biết nhưng giữ giá, cứ để vậy cho mấy chú trống choai gọi thóc mài cựa. Bây giờ thì hết rồi. Tan nát cuộc đời rồi. Còn ai thiết cái con ma vầy quái vò này nữa. Cô lại nức lên, vùi bộ mặt chan hoà nước mắt vào cái áo đầu giường. Khóc chán, cô thấy nhạt miệng, bụng đói. Nằm lì đến mức không thể cố nằm được nữa, cô ngồi dậy, vấn lại tóc. Thoáng nghĩ cả việc thắt cổ, uống nước lá ngón, cô tưởng tượng cảnh Quệ bị chửi rủa, bêu riếu, nhục mạ bên cạnh xác cô. Người ta tôn thờ Xuơ như tôn thờ nữ thần trinh trắng bị oan ức. Các anh Quân, Dự, Lâm cũng có mặt. Ai nấy đều nghiêm trang, ăn mặc hơi cổ cổ một chút, khăn xếp, áo dài đen, quần trắng. Dầy Gia Định bóng loáng. Quệ bị đánh, thâm tím mặt mũi, quỳ mọp xuống van lạy liên hồi trước mũi dày các anh. Cảnh tượng ấy lúc mập mờ lúc hiện rõ ngay cả lúc cô ngồi tựa giường. Lúc Xuơ mở áo, cởi yếm, nâng nâng đôi bầu vú mình. Nó vẫn trắng hồng, và đẹp, đẹp mỡ màng nhễ nhại. Cô lại ngả người, khóc nấc lên.

Hôm sau, cửa vẫn cài chặt nhưng Xuơ đã dậy. Tập giấy Quệ bỏ vào nhà từ tối hôm trước. Cô giở ra. Hai đồng mới cứng. Số tiền lớn bằng một phu khoẻ làm cả tháng. Nó trả giá cho thân thể trinh trắng của mình đây. Lặng lẽ, cô đặt nguyên tập giấy gói tiền vào đầu giường, xuống nhà dưới rửa ráy, xem xét. Cô tự biết mình đã bị tước mất cả một thời con gái hơ hớ rồi.

Hôm sau, hôm sau nữa, cô mở hàng, tiếp tục bán. Tính tình trầm lắng hẳn, cô sợ cả những cái nhìn và nụ cười vô tư của người gặp gỡ. Nghĩ ai cũng biết chuyện mình, cô e dè, khép nép, ý tứ hơn. Phu phen vẫn vậy, mua bán và mặc cả, nói năng và cười cợt, nhẹ nhàng và xửng cồ, ý tứ và bặm trợn…lâu rồi cũng quen. Điều gì mà chẳng quen, chẳng quên. Dần dần, Xuơ tự tin hơn, coi thường tất cả, coi khinh tất cả những lời nặng nhẹ, những kẻ đâm bị thóc chọc bị gạo. Cô dò hỏi, biết mụ vợ Quệ hiền lành, cam chịu nhẫn nhịn nhưng đàn con ghê gớm lắm, sẵn sàng dao búa như chơi. Đứa đầu hơn tuối Xuơ. Thằng thứ hai, thứ ba…Thôi! Không nghĩ ngợi trông chờ gì ở thằng đểu giả, khốn nạn đó rồi. Tự mình phải đứng lên, trông đợi chính mình thôi. Mình còn trẻ, xinh đẹp, khôn ngoan, không đến nỗi, lo gì. Trên đời khôn sống mống chết. Khôn khéo lấy miệng mà sai, ngu dại lấy vai mà đỡ. Chẳng ai thương ta bằng ta, chúng chỉ khua khoắng mồm mép mà thôi. Đứng được cũng phải gồng mình gắng sức. Có người có ta sợ gì không sống nổi trong cuộc đời đầy rẫy cạm bẫy này.

Nỗi sợ mọi người biết chuyện, sợ mình có chửa ngày một ngày hai dần dần tan đi. Xuơ bán hàng không nhớ hay cố tình không thèm nghĩ đến chuyện trên núi Trọc hôm ấy nữa. Tuy thế, tính nết cũng thay đổi, cô trầm lặng hẳn, ít bỗ bã hay thêm dấm ớt đưa duyên như trước.


CHƯƠNG 7


Yên ngao ngán mở hòm, vét mãi còn hai lẻ gạo. Sợ chồng biết lại lo, cô lấy tay vụm lại, bốc nhẹ bỏ vào vấu. Bố cô ngày còn sống vẫn dạy. Con gái phải biết giữ ý. Bụng đói, ngậm cái tăm vào. Ai hỏi, trả lời vừa ăn xong. Đừng có vét hòm, cạo nồi quèn quẹt mà làng xóm chửi cho. Nhà không có người dạy mới thế. Cô mang vấu xuống bếp. Mưa kéo thành dải thành dây trước mái tranh. Biết vay đâu bây giờ cho đủ bữa. Chép miệng, cô chìa vấu ra giọt gianh hứng nước nấu cháo. Còn chút củ cải thái khô, cô ngâm nước muối, đun lên làm thức ăn. Mấy hôm nay, lán thợ kêu trời lên rồi. Chiều chiều, trời hênh hểnh nắng. Đêm mưa dữ dội, ào ào từng đợt rồi lại ngớt, rồi lại ào ào. Mấy con nhái vườn màu thẫm, có sọc vàng trên lưng kêu liên hồi kì trận. Kiểu này còn mưa, còn đói. Mấy hôm trước, Yên đã phải sang nói khó với bà Đàm xáo, mua chịu cân gạo xấu. Tằn tiện chỉ ba ngày là đói lồng đói lộn lên rồi. Không biết có nơi nào, người ta bắt nhái ăn chưa.

Trong nhà, tiếng Đồng lại rên mỗi khi giở mình.

Lán phu, xóm thợ nào có hơn gi. Cái đói gõ cửa, đập mặt từng nhà. Đã hơn một ngày, Sỏi nhịn đói. Anh đội mưa xem có gì nhét bụng. Đi mãi, gặp vườn khoai lang, anh nhìn trước nhìn sau, nhổ giây cuộn lại, ôm vào bụng, lom khom chạy về. Ba bốn thợ đói nhổm dậy, xúm vào nhặt, bỏ cuộng lá già, băm vụn ra, bỏ muối vào nấu lên. Chờ sôi một lúc, họ bắc ra, cùng nhau xì xụp.

- Nhà tao khổ thật cũng chưa phái ăn như lợn thế này.

- Lúc sung sướng rượu chè lu bù sao không dè giữ. Có cái vào mồm còn hơn nằm nhịn.

- Không khéo té re thì khốn nạn.

Chốc lát còn nồi không. Cả bọn leo lên phản. Được một lúc, bụng sôi ùng ục. Sỏi đau quá, chạy ra đồi. Những gì vừa ăn tháo ra hết.

Uể oải đứng dậy, Sỏi chợt thấy Cắm Bẩu tay cầm dao quắm, lững thững bước. Chắc nó biết, đi tìm người nhổ rau nhà nó. Sỏi lủi nhanh về, báo cho cả bọn. Nhặt lấy những gì sót lại từ cuộn dây lang, vứt xa ngoài mưa. Nằm rồi, Sỏi làu bàu:

- Sao bụng đau mãi thế?


Mưa mãi rồi cũng nắng. Nắng gắt tưởng xé đất. Cu li ốm hàng loạt. Yên khật khừ đi làm. Lạng bảo cô:

- Mệt thì nghỉ. Mưa hàng tuần thế, than ra sao được. Chỉ dọn lò thôi.

- Cũng muốn nghỉ nhưng không nhịn được. Mấy hôm nhịn đói rồi. Phải cố thôi.

- Sang tôi mà vay!

- Xa! Với lại cũng ngại.

- Ngại gì? Chiều nay sang đi.

Lò chưa ra được than. Đường nhoe nhoét bùn loãng, trơn lầy. Hơn chục người cuốc mai xúc gạt múc đổ trong đầm đìa mồ hôi. Trưa nay không thấy ai mang vấu. Hình như họ đói cả. Nhịn đã mấy hôm rồi. Sức người đâu phải sức voi. Không thấy hùng hục nheo nhéo í ới nữa. Một không khí lặng lẽ uể oải. Nhìn cung cách ấy, biết than chưa ra được, Lạng bỏ về sau khi nhắc mọi người gắng sức mà dọn sạch đường lò. Lạng vừa khuất, mấy tay thợ nằm ườn ra. Họ trêu chọc, cười cợt, lấy phân kí đập cho bớt bụi, che mặt ngủ. Mấy bác thợ già kinh nghiệm hơn giục:

- Làm đi! Có dọn sạch đường, ngày mai than ra mới dễ.

- Bố cứ từ từ đã, mệt lắm. Đi đâu mà vội.

- Thế mày nghĩ tao không mệt à? Làm sớm đi rồi nghỉ.

Yên theo mấy người dật dờ về. Đồng vịn vách nhà thở. Yên vào. Không ai nói năng. Núi Trọc buồn vắng. Những con đa đa từ mé rừng liến thoắng từng hồi: - Bất thực túc Chu gia! Bất thực túc Chu gia!

Người ta nói hồn Bá Di, Thúc Tề, anh em con cháu nhà Thương. Khi nhà Chu diệt Trụ vương lên ngôi, họ không thèm ăn thóc gạo nhà Chu mà vào rừng nhặt rau ăn quả rồi chết đói hoá thành. Người dân quê chả cần biết Bá Di Thúc Tề là ai, suốt ngày lặn lội bùn đất dặn nhau bắt tép kho cà. Cái tay vày cái miệng, nghe tiếng đa đa cứ gọi là chim nhớ bắt tép kho cà. Ra mỏ làm ăn vất vả, lăn lộn tầng bãi kiếm cơm, họ mượn tiếng chim nhắc nhở: - Chết thì chết không ra!


Đó là gà gô, nhiều như lá rụng. Chúng thường quanh quẩn bìa rừng, kiếm hạt quả, sâu bọ và bay từng đoạn ngắn.

Đồng bảo Yên:

- Đến con chim nó còn nói thế. Điềm giời đấy. Bỏ làng bỏ quê ra khổ đến như mình là cùng rồi.

Yên gạt đi:

- Có phải đến giờ chim mới kêu đâu. Nó kêu từ đời kiếp nghiệp lai nào ấy. Qua đận này hết khổ. Sông có khúc, người có lúc.

- Lúc cái con khỉ. Có ai sung sướng đâu. Cả một lũ túng nghèo. Khoẻ đi ăn cướp, ốm thì bò lê. Sông có lúc đục lúc trong còn nhà mình lúc nghèo lúc khổ.

Nói từng ấy, Đồng mệt, lần tay tìm vào giường. Yên chờ chồng nằm im, rón rén cầm cái bị ra đi. Cô tìm nhà Lạng. Đói cào đói cấu phải liều thôi. Nhà Lạng ở ngoài núi chỗ ngang dốc. Cô mới vào một lần. Người ta ăn to nói lớn, chỉ nhờ vả mình mới đến chứ bình thường ai bén mảng làm gì. Lễ tết đã có chồng. Đến nhiều, người ta cho là lợi dụng, hàng xóm lời ra tiếng vào, ngại chết. Chó đã ran ran ngoài cổng. Cô khúm núm bên ngoài. Mấy lần toan về nhưng nghĩ đến chồng ốm đói nằm nhà không đành lòng, Yên nấn ná. Chó sủa ắng dần. Không thấy người ra, Cô lại hất hất chân. Chó lại ầm ĩ sủa. Mãi sau, có tiếng kẹt cửa:

- Cô Yên à? Có việc gì? Vào đây!

Trông điệu bộ biết ngay rồi, Lạng bảo vợ:

- Đây là cô Yên. Hai vợ chồng cùng làm chỗ tôi. Bà lấy cho cô ấy vay năm cân gạo. Năm cân đủ chưa?

- Chết! Cháu chỉ vay ba cân thôi

- Chú ấy độ này sao? Còn ho nhiều không? Gắng thuốc men cho chú ấy.

- Dạ! Cháu cảm ơn ông bà!

Cầm bị đựng ba cân gạo, khoác lên vai, cô xăng xái ra về. Vào nhà, tối om om. Đồng nằm chán, ngồi dậy lần ra ngoài. Vừa đứng lên, mắt tối xẫm lại, anh quật xuống nền nhà.

Vực được chồng vào giường, Yên cắm cúi thổi lửa. Lát sau, nồi cơm lục bục sôi, toả hương ngào ngạt trước mặt người đang đói. Tiếng Cầu dắng bên ngoài:

- Sao nhà cửa thế này? Thắp đèn lên xem nào?

- Bác Cầu! Mời bác vào chơi!

- Anh đỡ chưa?

- Nhà em vừa ngã. Yên vần cơm, nói với từ bếp lên.

- Chết! Sao thế? Có việc gì không? Tôi mang sang mấy cái trứng, cô bắc lên cho anh ấy ăn.

Đặt bàn tay chằng chịt gân guốc lên trán Đồng, Cầu than thở:

- Khổ thế đấy! Nghèo thường gặp nạn. Đã khó chó cắn thêm. Hay cô bớt chút cắt cho anh ấy mấy chén thuốc. Không lơ mơ được đâu. Dễ đến ba tháng rồi còn gì.

- Hơn rồi bác ạ. Mồng mười tháng sau vừa bốn tháng.

- Phải cố ăn mới mau lại sức. Thôi! Tôi về đây!

Cánh cửa khép lại. Ánh lửa bập bùng. Yên vẫn chưa thắp đèn. Tiền đâu mà mua dầu. Bác Cầu mang cho năm quả trứng. Qủa trứng lúc này quý lắm. Nó như sâm trước mặt người ốm đói đòi hỏi nâng đỡ sức lực. Cô lặng nhìn, mắt rân rấn nước.

Bọn trai tráng kéo nhau đến quán Xuơ. Chắc hôm nay tiền bạc rủng rỉnh, chúng đi đứng, kéo đặt ghế mạnh bạo không như những lần trước. Thằng cao kều gọi rượu. Xuơ cầm ca đưa chúng. Mấy đứa chuyền tay. Được hai vòng, rượu hết. Xuơ đón ca rót tiếp. Chúng ầm ào chuyện đất chuyện trời, chuyện lò chuyện tầng. Ca rượu dốc loanh quanh vào những cái miệng sục sôi như ong vỡ tổ. Chỗ quen biết, thường qua lại, người bán người mua thông tỏ hoàn cảnh nhau, ít phải giữ kẽ. Xuơ nói năng đưa đẩy thêm thắt tí chút. Thằng mập béo tên Binh đang thao thao việc đánh đố chữ. Thế nào hôm nay chữ Ta cũng về. Thằng cao kều ra vẻ đàn anh, im lặng nhìn Binh ra chiều ngẫm nghĩ. Hôm qua nó thắng, nay kéo cả bọn ăn khao. Thằng mặt tròn tên Lầm lặng lẽ nhai kẹo, uống rượu. Những người sành uống chẳng bao giờ uống thế nhưng chúng cần gì. Tiền giời ơi ấy mà. Cứ uống cứ gọi. Rượu cay kẹo ngọt trộn lẫn nháo nhào trong dạ dày mạnh mẽ của chúng, chẳng sợ. Thao thao một hồi, Binh nhận ra chỉ có mình nói. Nó ngượng ngập nhìn Xuơ, tay bốc kẹo. Chiếc kẹo nhỏ, bên ngoài bọc vừng. Bỏ lọt thỏm vào mồm, trước khi nhai, nó còn giơ ngón tay, đưa lưỡi liếm những hạt vừng dính. Kẹo roạc roạc vỡ, lổn nhổn trong miệng nó. Rượu vào lời ra. Có nhiều đâu. Chưa hết ba ca rượu và chục cái kẹo, máu đã rần rật bốc lên, đỏ mặt tía tai. Chuyện oà ra như than chảy, như đá lăn. Rồi chính Xuơ lại là tác nhân cho bọn chưa biết uống thích uống, hăng tiết vịt, tung toé những lời đề cao mình. Đề cao mình đừng hạ thấp người thì chỉ lố chứ chẳng sao nhưng với bọn nông nổi chưa vỡ bọng cứt này thì càng nói càng gây hoạ. Khi Xuơ nhận ra, chuyện đã quá xa rồi khó kéo lại được nữa. Ghế bàn chai lọ trở thành trợ thủ đắc lực cho những kẻ phàm tục được rượu nối giáo. Xoảng xoảng, bịch bịch, chát chát, bốp bốp… Hàng loạt thanh âm máu lửa tràn ra. Ngoài quán, người qua lại tụ tập khá đông, xì xào chỉ trỏ. Tiếng đập, tiếng quật của gậy gộc nghe đến khiếp.

- Đi đi. Đầu không phải lại phải tai thì khốn ra.

Có tiếng người đi qua ném lại.


Quân đi làm về, thay áo, sang nhà Xuơ. Mấy hôm làm muộn, không đến thấy nhớ. Hôm nay, tự dặn mình phải cố, nói cho xong điều định nói. Nghĩ trong đầu, lẩm nhẩm ra miệng. Nhất định thế! Nhất định thế! Chưa đến nơi, Quân thấy người đông túm tụm. Nhà Xuơ có chuyện, Quân gạt đám người xúm xít lao vào. Ghế bàn đang bay đập. Quân quát to một tiếng, tay đỡ tay gạt, xô đến chỗ Xuơ. Xuơ đang ngồi nép cột, mặt tái xanh tái xám, người co dúm như búi giẻ nát. Ôm thốc Xuơ vào lòng, giơ lưng ra đỡ đòn, Quân bế cô xuống nhà dưới. Đặt cô nằm ngay ngắn, anh bước lên. Mấy tên kia lúc ấy, nhận ra mình quá trớn, sợ phải đền, sợ phải trả tiền, ầm ào rút đi. Quân ở lại, thu dọn hàng quán. Mọi thứ xô lệch, bát ca vỡ méo, gậy guộc lung tung. Anh kê lại, sắp đặt, quét dồn những thứ đã vỡ gẫy vào một góc. Người xem tản mát dần. Chiều đã tắt. Quân cài cửa, bước xuống gian dưới, an ủi Xuơ. Xuơ nấc lên từng chặp. Anh ngồi xuống, cầm lấy tay cô. Xuơ ôm lấy anh tìm sự tin cậy. Quân lắp bắp điều gì chắc để cô yên lòng nhưng không thành tiếng. Đêm ấy, Quân ở lại quán Xuơ.

Chuyện xảy ra tình cờ đã gắn Quân với cô bán hàng. Ở đời được voi đòi tiên. Từ không dám ngỏ lời yêu thương với người ta đến lúc gặp dịp cờ tới tay, Quân được cả. Dấn lên, anh đã nghĩ đến việc nhờ bà mối, đi lại nói năng, thông tỏ giúp dập hai bên. Có buổi đi làm về, anh đến thẳng nhà Xuơ, chẳng thay giặt gì, hai đập ba xoa, lên giường nằm. Xuơ bán hàng những lúc thấy muỗi còn xuống qua, giả bộ cầm thứ gì lên, tiện thể quạt đôn quạt đáo cho anh. Về khuya vắng khách, anh ngủ lại. Họ bàn tính đến tương lai. Hào quang thực sự toả trong lòng họ. Nhưng được vài tuần, Quân lủi mất tăm.

Dự và Lâm thấy Quân thân thiết với Xuơ dần dần lảng. Nay lại kiếm cớ gần gũi. Bão táp dập vùi, Xuơ ngao ngán rời rã. Nghe nói Quân bỏ sở, đi xúc than ngoài cảng. Cô thở dài. Thôi! Chắc Quân biết chuyện mình với Quệ rồi. Cái thằng khốn nạn. Đã chiếm đoạt được mình lại còn đi khoe. Phải khoe thì Quân mới biết, chứ chuyện mình với Quệ nào có ai hay. Quân ơi! Gì thì gì. Có điều, muốn xa mặt cách lòng cũng nên nói với nhau một tiếng. Ai đời đùng đùng bỏ đi như trốn nợ chạy cướp vậy. Đời người như thế là tan rồi, còn gì nữa mà hi vọng, mà mong ngóng, mà chờ đợi. Nhiều lúc trong thâm tâm, cô muốn buông thả mình, liều nhắm mắt đưa chân, đến đâu hay đến đấy. Dự hay Lâm cũng là lũ thằng Quệ, thằng Quân mà thôi. Trông cậy gì ở chúng. Cái bọn chỉ muốn ăn tươi nuốt sống đám đàn bà con gái nghèo khổ khốn quẫn, nhẹ dạ cả tin. Úp được mặt vào chỗ ấy rồi là chạy làng, lại còn lên giọng cao ngạo, khoe mẽ lung tung.


Thời gian ầm ào trôi qua vùng đất than bụi. Từng đồi cây lớn cây cao, sim mua, ràng ràng bị cắt xén xẻ đào lấy hướng mở đường cho than đi. Người chết, ốm đau, què quặt, sâu quảng, ho lao…đất nhận hết. Bổ xung vào vùng đất này những lứa măng tơ, khoẻ mạnh, bạo dạn. Có thể chúng lớn lên ở đồng ruộng xa xôi, đông đúc hay hẻo lánh. Có thể chúng ở tầng bãi này, tầng bãi khác. Vụt lớn lên đã thấy đời mình bó buộc, dính chặt chắc bền với than. Những băng tầng mới mở đầu trục Hai bảy còn gặp những bao tải lủng củng xương. Chắc bậc tiền bối nào xấu số khi hết hơi sức phục vụ chủ. Roi vọt đập xuống đầu cu li tầng tầng. Ông Cam già, đầu hai thứ tóc, bị vụt, không đứng dậy nổi. Ngồi một góc tầng, ông khóc thành tiếng như đứa trẻ lên năm. Cởi cái áo bao tải, một vệt lằn trên lưng to như bắp tay tím đỏ. Chị Điều mang con lên tầng, đặt một chỗ. Đến trưa nhìn con tím đen. Kiến càng chạy trên xác con như dòng người vào làm mỏ. Tức tưởi và vội vã.

Cũng nhiều cai, xu ba giăng (Sur veillant: Giám thị) ác quá, bị trừng trị. Lầm đang leo dốc. Mấy thằng ập đến, trùm khăn vào đầu, đánh dúi dụi, thừa sống thiếu chết. Máu mồm máu mũi nhoe nhoét, ựa cả cái lẫn nước. Cai Xê tát bà già. Bà già lạng người, chống tay xuống tầng, bị gẫy. Mặt bà tái mét, run như dẽ. Cánh tay gẫy lắt lẻo. Mấy hôm sau đi làm về, Xê bị đẩy xuống tầng, gẫy cả răng. Bọn khố rách áo ôm còn đái vào đầu, bôi phân người vào mặt Xê rồi mới kéo nhau bỏ chạy. Biết ai mà báo, mà truy xét, đành ngậm bồ hòn thôi. Công việc cả. Số kiếp vậy. Đắng ngọt tự mình chịu. Cu li sống làm phu mỏ, chết bỏ gốc sim là chuyện bình thường. Cai ký giám thị hoạnh hoẹ chèn ép phu phen áo ngắn quần cộc, lại khúm núm với bọn thẳng lưng. Nhiều tên mất hết nhân cách, mang cả vợ dâng hiến cho chủ, kiếm miếng thơm tho, ăn trên ngồi trốc, đe nẹt nạt nộ lũ cùng đinh. Những mụ đầm tây theo chồng sang, những thím An Nam xinh xẻo được chủ lấy làm vợ, làm đồ chơi, tung tẩy dạo quanh khu biệt thự. Chúng sang trọng đài các diêm dúa thật nhưng bóc trần xì ra cũng tham lam, thô bỉ, thớ lợ chồng chất. Có thằng hễ thấy con gái sành sạch một chút là tìm cách ve vãn chiếm đoạt lại bị vợ cắm sừng tua tủa trên đầu vẫn phải chịu. Có tên mù dở, dăm ba chữ tây tầu lẫn lộn, đến đâu cũng xi la xi lô, quốc địa, quốc hồn, quốc tuý cho oai. Khối thằng bị xỉ vả quát nạt lại im lặng rồi thét la hù doạ kẻ khác. Vùng than như một xã hội thu nhỏ. Nhiều phong trào có cốt cách thuần hậu tràn đến như học chữ quốc ngữ hay thuốc ta trị bệnh cho ta…lướt qua như làn gió mát lành. Nạn cờ bạc trộm cắp đánh hôi đánh hội, rầm rộ rùm beng, quần đảo xóm thợ vốn khô gầy nheo nhóc. Rượu nốc tì tì. Lão Phô đi làm, chai rượu giắt lưng. Đến một tợp, trưa một tợp. Chiều tợp nữa. Về tợp cuối. Lão uống rượu trước khi học ăn. Đám cu li cười lăn lóc.

- Không tin à? Mẹ tao khi ngủ với bố tao phải uống rượu cho ông ấy ngửi mùi, làm việc cho hăng hái. Các con ông chỉ có tao yếu nhất vì khi đẻ ra tao vọt cầu vồng. Cầu vồng là rượu mới phí chứ. Bao nhiêu là tinh tuý phải chịu bỏ. Nếu giữ được rượu ấy trong bụng, tao còn khoẻ gấp mấy anh tao. Chúng mày đã thấm vào đâu.


CHƯƠNG 8


Vai vắt túi vải chéo, người thanh niên đứng chờ cạnh đường giơ tay vẫy. Ông Bảng giật dây. Con bò chậm hẳn lại. Chiếc xe từ từ dừng.

- Bác cho cháu nhờ về xóm thợ với ạ!

- Lên đây!

Ông Bảng nói, chẳng chú ý thêm. Con bò lững thững bước.

- Bác về đâu ạ?

- Anh về đâu?

- Cháu về làm mỏ. Nghe nói ở đó nhiều việc.

- Phải! Có điều trụ được cũng trầy vi tróc vẩy. Anh quê đâu? Vợ con gì chưa?

- Cháu ở Hải Phòng. Gia đình làm ruộng bác ạ. Nhà nước lấy đất xây nhà máy. Bố con cháu làm thuê cấy rẽ làm mướn. Mất đất, làng cháu kiện cáo mãi chẳng được gì đành kéo nhau tha phương cầu thực. Bác có gần làn phu không ạ?

- Anh về nhà ai?

- Cháu có biết ai đâu. Nghe nói ở mỏ sẵn việc là cháu về thôi.

- Gay đấy nhỉ?

- Sao hả bác?

Bánh xe lọc xọc nghiến trên con đường rải đá đất. Vài chỗ nước mưa làm trơ ra, lủng củng đá. Con bò nặng nhọc bước.

- Bác có quen giới thiệu giúp cháu. Lao động nặng cũng được. Cháu quen rồi.

- Ờ! Để xem!

Phàn trở về mỏ vào buổi chiều đầu thu năm 1928 ấy. Phố phường khô khốc. Hàng long não bên đường xơ xác phờ phạc như người ốm đói. Vài dãy nhà lọt thỏm giữa vùng cây cối trập trùng gò đồi. Nhờ bác Bảng chỉ dẫn, anh được cai Công nhận vào làm. Trong nhóm phu, Phàn nhanh chóng gây được cảm tình. Ai cũng quý mến. Công giống cha, ầm ầm quát mắng khi tức giận, khi việc không chạy, than ùn tắc mà thôi. Bình thường, Công cũng lành, thuộc tầng bè như lòng bàn tay. Ngày nào còn lơ nga lơ ngơ, lên tầng mợ Nam phải chỉ bảo cặn kẽ từng li từng tí. Sau mấy năm, Công thành con người khác. Nhìn mẫu than, Công biết vỉa đi ngang hay đi dọc, đi xuống hay đi lên. Công yêu cầu người thợ phải hiểu kĩ càng công việc mình làm. Đang tự nhiên có hòn đá bói phải chuyển chỗ ngay, đề phòng tầng lở... Với người quản lí công việc thế luôn tồn tại hai loại phu. Một giỏi giang như con dao pha, biết cặn kẽ một việc, làm được nhiều việc. Một phải đần, bảo gì làm nấy, không chần chừ, không bàn cãi, không dám nêu ý kiến riêng mình. Họ dùng gân bắp thay cho trí khôn. Phàn chịu khó tìm hiểu, nhanh chóng nắm bắt được cách thức giải quyết vướng mắc trong công việc. Trong số người làm công có cháu mới mười hai, mười bốn. Có chú mới ngoài hai mươi. Anh đã hai mươi lăm. Gìa hơn anh thì nhiều. Cụ Dưỡng bảy mươi, bác Kỳ sáu mốt. Chú Cải, chú Đá…đều xấp xỉ bồn mươi cả rồi. Do cách ứng xử và làm việc năng nổ, chỉ sau vài tháng, anh được mọi người vị nể. Làm xong việc, anh thường giúp đỡ những người xung quanh, tìm hiểu hoàn cảnh gia đình các bác các cô chú, các anh em. Nhiều chị để ý, dấm dứ em gái, cháu gái cho anh nhưng Phàn làm sao ấy, không vồ vập mặn mà chuyện đôi lứa. Thấy người bắt chuyện gợi ý, anh thường tế nhị từ chối. Công trạc tuổi anh, rất khoái vì Phàn được việc, nhanh nhẹn và cẩn thận. Những va chạm xô xát nhỏ thường xuyên xảy ra khi công việc căng thẳng nặng nề dễ khiến con người dồn nén ấm ức. Chuyện kèn cựa, bé xé ra to giữa người này người khác chỉ từ những hành động con con nho nhỏ chẳng đâu vào đâu ấy. Phàn thường dập tắt mọi vướng mắc khi thoáng thấy khói, không để lửa lây lan thành mảng lớn.

Chẳng ai rõ anh là người của thanh niên cách mạng đồng chí hội về vùng mỏ hoạt động, lôi kéo cu li cần lao đứng lên. Hết giờ làm, anh tìm thăm nhà các bạn thợ, làm lụng giúp hoặc bày cách giải quyết những khó khăn vướng mắc hàng ngày. Anh vào nhà Cải, hướng dẫn chị em Thuần học chữ. Nó đã mười hai, đằng sau ba bốn đứa em. Đám con trẻ lau nhau nghịch ngợm la hét, vày đất nghịch cát lớn lên. Phàn dạy chúng theo kiểu truyền khẩu: “O tròn như quả trứng gà - Ô thì đội mũ ơ là thêm râu - o, a hai chữ khác nhau - chữ a khác bởi móc câu bên mình” hoặc “e, ê, lờ (l) cũng một loài - ê đội nón dấu, lờ (l) dài lưng hơn”. Bọn trẻ học Phàn rồi theo nhau, học nhau cũng mau thuộc. Dùng mặt đất làm bảng, que làm bút, chúng biết được khối chữ. Bố chúng - người đã bằng ý chí từ bỏ quê hương ra vùng than, tích tụ kiến thức một đời qua ông Đục, ông Bội và các lứa phu - cũng phải ngạc nhiên về Phàn. Cải đưa Phàn xuống nhà Hoán, sang nhà Động, nhà Bưởi, vào nhà Cheo. Mới ngày nào về mỏ bằng trăm nỗi cay cực, giờ họ con đàn con đống, có nhà cửa nhưng tăm tối lầm than chưa buông tha họ.

Chú Động - ông Binh Bình - có bắc đẩu bội tinh, ăn lương mãn đại mà cùng đường về mỏ, chui lò cuốc than. Gìơ chú đã yếu, được Su ba giăng Hậu - người cùng làng làm sếp - cho trông coi kho gỗ. Không để chân tay rỗi, chú biến kho gỗ thành vương quốc riêng với cây cối hoa cảnh. Bụi than đã ảnh hưởng tới phổi khiến chú thường thúng thắng ho. Chú hay đến nhà thờ cầu kinh vào sáng chủ nhật. Phàn đến chơi, nói chuyện cây thế hàng buổi. Chú cũng là người mau chuyện, rộng rãi phóng khoáng. Giục vợ con pha trà, chú vào chuyện luôn. Trà cũng vào loại thường thường vừa vừa nhưng thế đã khá. Cu li nước giếng nước bể, tu từng hơi từ gáo dừa bát chậu. Nước đun sôi để nguội đã là xa xỉ thì pha trà cũng là thói học làm sang, không phải ai cũng được đối xử thế. Chú Động làm vậy có ý muốn giữ khách.

- Có cậu ở đây. Tôi có câu đối người ta cho hôm khao làng. Chả biết mô tê gì. Cậu xem, giảng giải cho tôi nghe với.

Chú Động rề rà kể lại quãng đời của mình sang Pháp. Lí do được đôi câu đối, cất giữ ra sao. Bắc ghế lên, chú lấy tập giấy, đập đập vào tay, vào đùi cho hết bụi. Phàn đỡ tập giấy, mở ra. Đôi câu đối chữ nho. Nét như cắt. Màu đen óng ánh trên nền giấy hồng điều.

Thát phạt hoan hoàn tê ư tư sắc tứ

Binh Bình thoái thoại hát ô hô huyền hồ

Đọc to dòng chữ trên, Phàn chùng giọng:

- Thế này bác ạ! Đôi câu đối này người ta viết ca ngợi bác. Thát là giặc Thát. Quân Nguyên Mông ngày xưa ba lần đến cướp nước mình bị quân dân nhà Trần đánh cho tả tơi, chạy không kịp mặc giáp. Sau này, người ta dùng chữ Thát chỉ giặc cướp nói chung. Phạt là đánh. Thát phạt là đánh giặc. Hoan hoàn là vui vẻ trớ về. Tê ư tư sắc tứ có nghĩa được ân biểu bằng sắc của vua ban. Binh bình thoái là binh lính trở lại làm dân nhưng bác tên Bình có nghĩa người lính tên Bình. Chữ thoái còn được đọc là thối, nghĩa như lui. Ở đây đọc là thoái. Thoái binh, thối binh mang nghĩa lui binh, rút lính về. Thoại: nói, hát: quát. Ô hô: than ôi(dùng làm lời ta thán). Huyền: treo, hồ: cung. Binh Bình thoái thoại hát ô hô huyền hồ. Người lính tên là Bình trở về đàng hoàng đĩnh đạc (nói, quát) thở than khi phải treo cung lên vách (vì hết chiến tranh rồi, không dùng đến nữa, không được thoả thích ý chí mình). Đôi câu đối này hay ở chỗ chữ Hán mà đọc nghe như quốc ngữ. Phải là bậc khoa bảng, mũ áo xênh xang mới làm được thế.

Chú Động khoái quá, vỗ đùi cười. Rót thêm nước vào chén cho đầy, chú cao giọng, quên mình đã thay đổi cách xưng hô:

- Đúng là hậu sinh khả uý. Tôi hỏi nhiều người. Ai cũng loanh qua loanh quanh. Chỉ có chú. Thật tường tận. Chú học cao thế sao lại phải ra mỏ làm công việc oái oăm này?

- Dạ! Cháu qua loa trường làng thôi. Đời mà bác. Anh hùng rạng rỡ như bác còn phải về mỏ làm thợ nữa là. Cháu ở đây còn sợ không làm nổi, bác ạ.

- Các chú còn trẻ, biết nhún nhường thật đáng quý nhưng những gì tốt mà quá cũng chẳng hay đâu. Rỗi rãi cứ coi đây là nhà, vào chơi nghỉ ngơi tuỳ ý.

- Dạ!

Phàn xin phép ra về. Trăng đã treo cao. Chú Động không dám giữ, hẹn hôm nào nghỉ xuống chơi. Ở chơi lâu lâu hẵng về, ta nói chuyện cây cảnh.

- Chú có biết nhiều về hoa lá cây cảnh không? Tôi là thợ lò, khao khát yêu quý khí trời tới tận cùng. Cây lá nuôi dưỡng, gìn giữ tâm tính con người. Gấn gũi chẳng biết đâu. Chui lò đất đá một màu âm u, ngột ngạt hơi thở mới thấy không gian cây lá thiêng liêng lắm, chú ạ.

Phàn về lán phu. Nhiều người đã ngủ. Mấy đứa còn thức rỉ ran kể lể chuyện riêng tư. Vài tiếng ú ớ nói mê. Những cái vật tay đạp chân, xoay mình của đám thợ trẻ. Anh thấy mình vừa qua buổi tối không mấy có ích. Từ nay đừng bao giờ khoe khoang kiến thức vô bổ nữa. Vốn hiểu biết có được phải phục vụ phong trào, phục vụ đoàn thể, nuôi dưỡng nâng đỡ tinh thần anh em chứ không được mang phô diễn. Khôn đâu đến trẻ khoẻ đâu đến già. Đã nói cứ chân chỉ hạt bột, những việc gần gụi cụ thể. Nói dông dài lan man có thể có người thích, nếu quá đà, tiếng lành đồn xa, tiếng dữ đồn xa. Kẻ thù sẽ phát hiện dấu tích mình. Anh mường tượng ngày còn kiếm cơm ở Hải Phòng. Bao nhiêu cờ lê, ốc vít, dụng cụ từ thép sinh ra qua bàn tay thư sinh non nớt của anh. Làm thợ cơ khí đâu có dễ. Phải cúc cung tận tuỵ phục vụ thày, học lỏm học mót, nhanh tay nhanh mắt, phải tinh ý và tinh quái nữa. Được đoàn thể cử về gây cơ sở ở vùng than đau thương. Chân ướt chân ráo, mu ti mù tịt, chưa biết thế nào, đến nay, anh đứng vững trên mảnh đất dày đặc tăm tối đắng cay. Anh trực tiếp giác ngộ hai người. Không phải dễ dàng khơi gợi được ngay. Người tăm tối thì nhiều nhưng chọn ai, giác ngộ ai phải cân nhắc. Không thiêú gì người khốn khó không dám đấu tranh. Không thiếu gì người sợ hãi những bóng ma ngày đêm hù doạ. Phải lựa lọc kỹ. Hai người là dân lam lũ, lăn lộn lớn lên từ tầng than hầm mỏ. Đạo - người bà con xa của chú Động - ngoài hai mươi, khảng khái lắm. Anh là người gốc đạo. Khi nhà thờ cha Hoàng Ngọc Đẩu cháy, mới mười bảy tuổi, Đạo đã xông vào lửa dỡ phá chống chữa. Anh tiếp tục vun thu, góp công góp sức dựng lại nhà thờ năm 1926. Đạo đang cùng giáo dân đóng góp công của, tu sửa, xây mới, đưa cổng nhà thờ quay sang phía đường rẽ (đối diện nhà thờ cũ) lưng quay về đường đi Hòn Gai, phía dãy Bay Màn. Từ khi có đường mới, đường đi Mông Dương mất tên. Hàng loạt phố mang tên tây nghe lốp ba lốp bốp như thằng ngọng học nói sang. Đường đi Hòn Gai thành đường Hòn Gai tồn tại đến đầu những năm chín mươi thế kỷ hai mươi. Nếu đóng góp hòm hòm, nhà thờ mới sẽ xây sau vài ba năm nữa. Người thứ hai là Hoán. Anh có gia đình vợ con dưới Cẩm Bình hiền lành chất phác, áo vải khăn thâm. Đã làm gì thì tận tuỵ tận tâm, không ngại khó. Ba anh em sẽ nắm tay nhau. Ba thành sáu, sáu thành mười hai, mười hai thành vô vàn. Khi lực lượng đã dày đã đông, họ cùng nhau xốc phong trào đấu tranh giành quyền lợi.

Con tắc kè đánh lưỡi vào đêm. Một, hai, ba…Có lẽ mai trời nắng.


Dạo này, Sỏi hay xuống nhà Đá. Tiện chân, anh ghé vào quán Xuơ, lúc mua gói thuốc lào, đi ngay. Khi nán lại, nấn ná với ca rượu trắng, cái kẹo vừng. Dư dả thêm vài bìa đậu phụ, đĩa lạc luộc, gói lạc rang, lắng nghe chuyện người. Chuyện người giả giả thật thật, ai nghe bỏ đấy nếu không muốn dây dưa phiền phức đến mình. Rượu vơi vơi dần, Sỏi lặng lẽ vắt túi lên vai. Mấy lá rau thò bên ngoài miệng túi mang ra từ nhà Đá. Vợ Đá bán hàng có duyên, đồng ra đồng vào rủng rỉnh. Chị khéo nói, biết Đồng ốm đau, thấy Yên xuống thường dúi cho khi một hào khi năm xu. Chồng biết hay không chả cần quan tâm. Anh em nhà họ cơ mà. Bận túi bụi, mỗi khi Sỏi tới, chị chỉ thăm hỏi vài câu, đút vào túi vải một hai mớ rau không thì thôi. Sỏi lững thững leo bộ lên núi Trọc. Nhẩn nha lên xuống quá nửa giờ. Đôi khi anh ghé qua nhà Động. Từ ngày được phân công ra coi kho gỗ, Động ứng luôn đất ở cho cha Đẩu làm nhà thờ. Anh lên kho, san đất mở mang. Vợ chồng con cái làm nhà mới. Vườn tược rộng rãi, hoa lá cây cành xum xuê. Sỏi vào, bâng quơ mấy câu, làm chén nước trước khi leo dốc. Thường thường, Sỏi ngồi gốc đa. Cây đa to phía sau khu chợ Cũ trước cửa đền. Đền cũng cũ. Rêu xanh lờ mờ, ẩm ướt. Hàng đa bóng mát toả một khu rộng. Rễ đa thả từng đoạn dài cho trẻ con bám vào đu leo. Kết thành bậc cho người đu lên, cho người ngồi nghỉ. Phía trước bên dưới là chợ, rì rầm bán mua. Ra phía sau, bước lấn qua đường lò hình vòm là một thế giới khác. Đền âm u và tĩnh lặng. Bầy chim chỉ huyên náo vào lúc rạng sáng và tầm chiều xuống. Qủa đa rụng dày dưới gốc tầng tầng lớp lớp. Đôi khi ngồi nghỉ, Sỏi cũng mang theo rượu, mở nút lá chuối ực một ngụm. Quán Xuơ, gốc đa, nhà Động tự dưng thàng ba điểm dừng nghỉ. Không bao giờ Sỏi dừng ở cả ba nơi. Dừng thế, lên núi Trọc tối muộn hoặc quá bữa. Anh thường dừng hai nơi, có khi một. Dừng nhiều mà làm gì. Vừa mất thời gian lại đến nhà muộn, vừa tối tăm nhỡ ra còn rắn rết.

Xuơ đã chán cả Dự và Lâm. Cô sống tự nhiên thoải mái, không bận tâm đến đàn ông nữa thì biết mình có chửa. Ậm oẹ nôn khan từng hồi, thèm của chua trái chát. Cô cũng thảng thốt lo âu nhưng rồi suy đi tính lại, cô thây kệ. Có ai anh em họ hàng đâu, sợ gì? Cười ba tháng chứ ai cười được ba năm. Cô mặc nhiên không che giấu. Bụng ngày ngày càng phình to, Xuơ nghĩ tới bà Khảo. Không chừng cô cũng là con đẻ của bà. Có bao giờ thấy bà kể gì về chồng con đâu. Sóng trước bổ sao sóng sau bổ vậy. Không khéo đời con mình cũng như đời mình mà đời mình khác chi đời bà Khảo. Bây giờ, ngay chính Xuơ cũng không rõ đích thực ai là bố. Những đêm mưa gió gào khóc, nằm không ngủ được, cô căm giận Quệ, căm thù bọn đàn ông đã làm cô dở dang. Cô nghĩ tới cai Toàn. Bọn đàn ông là một lũ khốn nạn, hùm xé voi dày không hết tội. Chúng coi đàn bà là thứ đồ chơi, dùng thì dùng bỏ thì bỏ, quăng vứt bừa bãi cho đời trôi nổi. Toàn một lũ dâm dật no cơm rửng mỡ. Nhưng chúng nào có sung túc no nê gì. Hai tay vày lỗ miệng may mới đủ. Ngẫm nghĩ chán ra, đã hăm lăm hăm sáu, cô thuê một bà già đến ở, dọn dẹp cửa nhà và chờ ngày cô sinh. Thôi! Ăn ít đi một tí vậy. Đứa con gái ra đời. Mẹ tròn con vuông. Vài năm, bà cháu sán nhau. Thấy bà chu đáo cậy nhờ được, cô khuyên bà nếu muốn cứ ở. Cô coi như mẹ. Khi bà trăm tuổi, cô sẽ làm ma, áo khăn săng hòm tử tế. Thế là bà ở với cô.


Sỏi qua lại quán khi mua khi không. Xuơ nói bà là mẹ chồng cô. Chuyện dần dà nhiều người coi là thực. Có bà, Xuơ rảnh rang hơn. Nhà cửa hàng quán thuê người sửa sang to rộng thoáng mát. Người có phúc, đận khổ qua đi, tài lộc tự nhiên vào. Xuơ chít khăn mỏ quạ, mặc áo nâu thẫm nâu non, yếm lụa nền nã với quần nái đen. Có người trông nhà trông con, phụ bán hàng, Xuơ đi dự hội áo dài quần trắng. Con Xu cũng qua đốt nặng nhọc, biết chạy nhảy thưa gửi đủ điều. Xuơ càng đẹp ra xinh thêm. Cái đẹp của gái một con rừng rực cuốn hút.

Yên lên tầng muộn. Đêm qua, từng cơn sốt cạn ho khan dằn vặt tấm thân ốm yếu của Đồng khiến cô mất ngủ. Sau ngày mang gạo sang nhà Lạng trả, cô được giao việc dọn bãi, nấu nước uống cho phu lò, không phải chui rúc nặng nhọc tăm tối nữa. Đi làm giờ giấc đỡ căng thẳng hơn trước. Muộn thì quàng cái tay cái chân lên là được. Đỡ phải nghe những lời trêu chọc láo lếu xé ruột xé gan. Lò ngày than ra như xối, ngày lại tắc hệt người nấc nghẹn. Lạng hùng hổ, hăm hở đôn đốc, quát tháo, mặt phừng phừng. Khi vào ngồi nghỉ đỡ bát nước, Lạng cũng từ tốn:

- Cô xem thế nào cho nước vừa uống. Đừng nóng quá, họ phải chờ, mất việc. Đồng thế nào rồi?

- Nhà cháu vẫn khi ho khi sốt. Vừa nhúc nhắc tưởng khá lên lại nằm bệt xuống.

- Lần sau có thiếu, nói với tôi. Tôi cho vay tiền. Khỏi phải đến nhà, qua lại điều tiếng ra. Đời nhiều đứa rỗi hơi hay thổi rơm đơm chuyện lắm.

- Dạ! Cháu nhớ rồi. Cảm ơn ông!


Hôm ấy hết ca, phu phen đã về. Yên thu dọn, chuẩn bị sẵn sàng cho công việc ngày hôm sau. Lạng về ngang đường thấy trời mưa to, lo lắng quay trở lại xem lò bãi. Yên thấy mưa, nép tránh vào cửa lò cho đỡ hắt. Lạng ngạc nhiên:

- Cô chưa về?

- Cháu dọn bãi cho xong, lại gặp mưa. Cháu về ngay đây.

- Làm gì mà vội?

Vừa nói, Lạng vừa kéo Yên ập vào người mình. Dịp may trời cho, không thể bỏ.

- Chết mất thôi! Bỏ ra! Đừng! Tôi là gái có chồng. Tôi kêu lên bây giờ! Đừng làm bậy!

- Cô cho anh!

- Tan cửa nát nhà tôi rồi. Bỏ ra đi!

- Không việc gì đâu. Không phải sợ!

Hổn hển, Lạng đưa tay lần lần. Yên giẫy giụa một lát rồi đờ đẫn. Tất cả nhoè nhoẹt trong mưa.

Trời tối dần. Yên ngồi thút thít khóc. Lạng nỉ non dỗ dành, hứa hẹn. Mưa vẫn đều đặn rơi.


Đồng nằm nhà. Người đau như bò cạp đốt. Anh lật mình, tránh chỗ giột, nhìn ra ngoài mưa. Nền trời cuối chiều ảm đạm nhưng cây vườn như được lau rửa sáng sủa. Màu xanh tươi tốt đã rộn lên. Bên luống khoai sọ, lá cứ gật gù, lúc lúc lại đổ hết lượng nước đã hứng được. Vài con nhái nhỏ nhảy loăng quăng dưới rãnh vườn. Mấy chàng nhái đực ngồi chồm chỗm, phồng những bong bóng cằm ra kêu. Mưa trời mau tối. Đồng lo vợ ướt, lướt thướt đau ốm lại khổ rồi mừng về muộn sẽ tránh được mưa. Tối một lúc, Yên mới về. Cô vội xuống bếp thay quần áo. Lát sau, lửa bốc đùng đùng. Tiếng đổ nước rồi tiếng cô vọng với lên:

- Anh đỡ không?

- Vẫn vậy!

Yên đã bưng mâm lên nhà:

- Cố mà chịu anh ạ! Đợi phát bạc em cắt cho anh mấy chén thuốc bắc. Cửa hiệu nhà ông Vịnh nghe đâu tốt lắm. Nhiều người khen.

-Thuốc men làm gì cho phí tiền. Cố mấy hôm nữa, qua đợt chuyển mùa vài ngày là khỏi thôi.

Tối ấy, vợ chồng Yên ăn cơm. Bát cơm bốc khói với củ cải thái khô chấm mắm. Thỉnh thoảng cô lén nhìn Đồng. Chồng cô cố làm ra vẻ không còn đau đớn nữa. Anh bảo chồng nói thì vợ phải nghe. Đừng thuốc men làm gì. Mất tiền mua rễ cây lá lẩu vớ vẩn phí đi. Cứ cơm đủ ăn, áo đủ mặc là bách bệnh tiêu tán vạn bệnh tiêu trừ hết. Cô vợ yên lặng, chỉ mong ăn cho chóng xong để tự do nằm một mình mà mường tượng lại.

Cờ bạc trở thành nguồn giải trí đặc biệt, sát phạt đám phu phen tăm tối. Có tiền thì đánh, không tiền thì vay, xin xỏ, xin đểu để đánh. Thậm chí tổ chức cướp của, cướp bạc để đánh. Đã dây vào là dễ nghiện. Nghiện dễ ngấm vào xương cốt lắm. Được bạc mặt vác lên, vung tay vung chân, tụ tập rượu chè lu bù, ném tiền qua cửa sổ. Thua bạc, mặt xám như lông chuột lội nước, ruồi bâu không thèm xua. Lán núi Con, núi Lớn đêm nào cũng rả rích ba bốn điểm tụ tập. Người khôn ngoan trông nhìn, lắc lắc đầu. Chập tối những con bạc đã lôi kéo nhau lững thững bước qua ngõ qua cổng. Từng gương mặt khô khao, xương xẩu, ấp ủ hi vọng. Đàn bà rửng mỡ cũng đàn đúm đua đòi đi đánh đi xem… Núi Lớn, núi Con đều có hai bà. Nhà khá. Khá so với phu mỏ lúc ấy. Đủ ăn. Bình thường không phải vay mượn chứ cũng tre đập dập, róc sạch vỏ đan thành vách. Cột gỗ lim kê đá tảng. nền đất. Nhiều ngày sương mù hoặc ẩm trời, nền nhà như dội nước, chỗ nhoe nhoét, chỗ dày cứt giun đùn. Giường kê ướt rượt. Vài ba cái áo mỏng vắt dây, sặc mùi ẩm mốc. Hai chị em bà Âm bà Ớ đều qua tuổi bốn mươi ở núi Lớn. Ba Ấm có lán cho thuê. Bà Ớ thường cho vay lấy lãi. Hai chị em đều chết chồng. Con cái lộc ngộc cả. Núi Con cũng có hai bà. Bà Ẩm bà Ương là hai chị em dâu. Bà Ẩm chồng khoẻ mạnh, thường cùng đi săn với dân Sán Dìu, dân Hoa kiều, dân làng Động. Nhà rộng. Mỗi lần đi săn thắng lợi, nhà ầm ào tiếng người, rộn ràng như gặp hội. Xả thịt nai, thịt báo ngoài vườn, nấu ninh nghi ngút. Đàn ông cởi trần, ngực cuồn cuộn từng vồng màu mật mía. Tiếng nói choang choang. Người được chia, người đến mua, người đến xem. Đàn ông ăn to nói lớn, oang oang quát tháo thể hiện mình. Đàn bà khẽ khàng ý tứ hơn, ăn trầu thuốc, nhổ bèn bẹt. Trẻ con chạy nhảy, len lách, thông tin cho nhau. Anh kéo em, chị bồng con cõng cháu. Tiếng lao xao líu ríu một vùng. Thịt ăn không hết, bán không xuể. Từng nhà đem những tảng lớn, khía sâu, bóp muối treo hong trên bếp. Lâu lâu, bồ hóng bám vào, không thể thối. Khi cần mang xuống, ngâm nước vo gạo cho mềm, rửa sạch, làm thức ăn vẫn ngon và có hương vị riêng. Loại thịt này ở các nhà thợ săn, người ta tích trữ hàng năm như nhà nông tích lúa. Những thằng con trai thau tháu bám bố vào rừng. Bà Ẩm ở nhà một mình thường kéo em dâu đi xem đánh bạc. Chồng bà Ương làm mỏ, người lực lưỡng nhưng chậm. Đi làm về, ăn uống đầy dạ đầy diều, lăn ra ngủ. Bốn đứa con đang tuổi ăn tuổi chơi, chưa lớn nhưng không còn phải săn sóc kĩ lưỡng nữa. Bà trồng sắn, trồng từ và các loại khoai: khoai lang, khoai sọ, tía riềng… cùng các loại rau đậu, hành tỏi. Tối tối cơm nước xong, bà đi ra đi vào, hong hóng chờ chị rủ. Đánh bạc có hôm đến sáng. Chồng hỏi, chị nói sang nhà em, em kể sang nhà chị. Lần lần như thế, nay đám này mai đám khác, nay đám gần mai đám xa. Cờ bạc quyến rũ người ghê gớm lắm. Nó như trai gái luyến nhau vậy. Có buổi bà Ẩm cầm cái một chiếu, bà Ương cầm cái một chiếu. Cờ bạc canh đỏ canh đen, lúc thắng lúc thua nhưng kèm theo đó là đồ ăn thức nhắm. Muốn gì thoải mái gọi, có điều giá cả vô tội vạ. Thích thì ăn uống không thì thôi. Những loại tầm tầm sắn luộc, ngô nướng, lạc rang, rượu, thuốc…Chủ nhà lúc nào cũng sẵn sàng, tiền trao cháo múc. Có hôm hai bà vơ từng ôm bạc. Chị hô em vét đến cạn canh. Mấy thằng đàn ông gán cả quần đang mặc, dái đen quắt, khúm núm xin quần về. Có hôm trắng tay. Chị em xác như vờ xơ như nhộng. Một liều ba bảy cũng liều, gán cả áo. Hai đầu vú thâm xì nhấc lên nhấc xuống theo cánh tay giơ hạ, trên nền da ngực màu dưa khú. Những tiếng a ô à ồ xuýt xoa tiếc nuối. Cái kim bọc giẻ lâu ngày cũng phải tòi ra. Ông Ẩm, ông Ương nhắc vợ, quát vợ, gạn gùng hỏi cặn kẽ cả hai chị em, cấm ngặt, không được lôi kéo tụ tập bài bạc nữa. Lúc đầu, chị em chối đây đẩy, sau kêu đánh cho vui. Hai ông dẫn dụ. Cờ bạc không ở chung với người lương thiện. Bao nhiêu gương tày liếp, cửa nát nhà tan, đĩ rài đĩ rạc không chịu soi. Tay đã nhúng chàm khó bề gột rửa, bà Ẩm, bà Ương vẫn chui lủi các điểm đánh bạc. Hai ông bàn nhau. Đêm ấy, rình túm được. Bà Ẩm ngơ ngác, trưa nay chồng vào rừng, thường dăm bảy ngày mới về thì dây thòng lọng đã quàng vào cổ. Vừa đau vừa sợ, bà cắm cúi chạy theo. Ông Ẩm lôi vợ về:

- Người ta bảo cờ bạc là khát nước lắm nhá! Ông cho uống nhá! Uống đến hết khát nhá! Nhớ nhá!

Chỉ từng ấy câu, hết vòng lộn lại. Mỗi lần “nhá” là một lần đầu bà ngập trong chum nước. Con cái khóc lóc chung quanh không dám can. Bà mệt, quỳ mọp xuống, van lạy không ra hơi, xin tha. Sau cùng, ông bắt bà quỳ, hứa với ông, với các con. Phải hứa cặn kẽ từng điều, hứa đi hứa lại. Lúc ấy có bắt bà làm gì mà bà không làm. Từ đó, bà khiếp hãi, chí thú hẳn.

Bà Ương chạy được. Ông chồng bậm bạch đuổi theo, ném ngay hòn đá trúng lưng. Bà khuỵu xuống. Mặt mũi nhoe nhoét máu me sỏi cát. Mấy đứa con dìu mẹ về. Bà ốm xo ốm rụi, nằm bẹp gần thấng trời. Dậy được, vừa sợ chồng vừa không còn người rủ rê nên cũng thôi.


Bà Ẩm sống bằng tiền cho thuê nhà và nấu cơm phu. Những cu li sống đơn lẻ, những nông dân ra mỏ làm theo thời vụ rồi lại về. Họ ở tạm bợ sơ sài, không đòi hỏi nhiều chỉ cần chỗ ăn chỗ ngủ. Tiền bà không nhiều cũng thừa tiêu. Bà Ớ chồng để của lại cộng thêm tháng ngày căn cơ chắt bóp nên có tiền, bà cho vay lãi. Chỉ những ngươi quen biết thân thiết, có thứ để cầm cố, bà mới cho vay. Trong lúc ăn đủ no là mơ ước lớn lao của con người thì dù chọn nơi chọn chỗ cho vay, tiền bạc nhiều cũng không thấu. Thôi thì được đâu hay đấy. Hai bà thong dong rỉnh rang xem bọn túng nghèo sát phạt và tán chuyện lăng nhăng. Khuya là về. Nếu cần thì ở lại. Vắng người thì thế nốt, thay chân. Cờ bạc như ma quái. Nó biết nịnh bợ rủ rê người mới, cho được luôn. Đã bập rồi thì khổ. Cửa mất nhà tan, chồng vợ chia lìa, con cái nheo nhóc. Các bà thì chẳng sao, chỉ mất ngủ. Con cái lớn. Chồng không còn, chả ràng buộc gì. Đêm dài lắm, ngủ sao cho hết.


Uống xong sáu chén thuốc, Đồng phục hồi dần. Anh đi lại nhiều hơn không nằm li bì và ngồi ủ rũ như trước. Yên vui thấy chồng bắt đầu túc tắc một vài việc quét nhà, nấu ăn. Đôi lúc, cô cũng thoáng lo. Cái lo mơ hồ nhỡ chồng biết chuyện dơ dáy của mình. Cuộc sống bề bộn những mối cần tháo gỡ. Nỗi lo thoáng nhanh khi nó còn chập chờn nơi chân trời xa lắc. Cô quyết thôi nhưng bọn đàn ông tham lam, thô bỉ, đã được còn muốn được nhiều hơn. Cô đành nhắm mắt đưa chân. Mình khổ nghèo, cam chịu cho qua cuộc sống chó má này. Cô dặn Lạng phải cẩn thận, không được sàm sỡ trước mặt mọi người, sợ đến tai chồng. Khi tốp thợ trẻ vào rừng chặt cột chống, đám phu già lụi cụi trong lò, Lạng vừa giục vừa ép Yên ra đồi. Cỏ săng cỏ le, lau bụi um tùm. Việc bậy bạ vụng trộm cũng chóng vánh. Chả ai biết ma ăn cỗ.

Đồng trở lại làm sau bốn tháng mười bảy ngày khi uống xong sáu chén thuốc bắc. Mấy hôm đầu, Lạng cắt anh vào chân vác cột vác xà. Khi sức đã quen đã khá, anh lại vào khao cuốc than. Thương vợ, anh quần quật mong có nhiều tiền bù cho những tháng ngày nằm dài. Vợ anh vẫn thế, chăm chỉ và ít nói. Hết giờ nhanh chóng về nhà, cơm cơm cháo cháo phục vụ chồng. Đến kỳ phát bạc, dù nhiều dù ít, cô cầm lặng lẽ, không ra vui không ra buồn. Tình nghĩa vợ chồng nhạt dần chỉ liên quan với nhau bằng sợi dây vô hình lỏng lẻo. Sống với nhau như nghĩa vụ. Đá lên chơi. Anh em ồn ào tụ bạ. Yên xăng xái mua bán nấu nướng. Nhà vui vờ được nửa buổi rồi nhanh chóng tĩnh lặng buồn tẻ. Thực tế, nỗi buồn đến ngay trong bữa ăn khi Sỏi báo tin Xuơ có chửa.

- Nó nói con anh!

- Ý anh thế nào?

- Chả biết có phải không. Xem xem đã. Nếu giống thì mình nhận. Không thì kệ.

Đá lặng nghe hai thằng em nói rồi cơn giận dữ làm anh ầm ĩ, chửi bới một thôi một hồi cho đã miệng. Chợt nhớ đây không phải nhà mình. Dù của em trai cũng không thể tự tung tự tác được, anh hậm hực:

- Nghĩ sao lại đâm đầu vào đấy hở đồ ngu? Bây giờ phải có nghĩa vụ với người ta. Không thể bỏ lửng, làm việc thất đức ấy được. Phải xem, tìm cách nào. Cô ấy đã nói thế, dù không phải con mình cũng không thay đổi được. Mày làm việc này bằng bôi tro trát trấu vào mặt chúng tao rồi. Sao ngu thế. Học khôn không học lại học dại.


Theo ngày hẹn, quá trưa, anh em Sỏi xuống nhà Đá. Giục con sang mời bác Cải, bác Ao, Đá quát vợ đang bán hàng, chuẩn bị cơm nước. Chị vợ khéo nói, thương chồng nhưng mải việc, mang ít rau cà, cân cá giục con làm. Biết việc hệ trọng, chị mua thêm chai rượu. Nấu nướng xong, nghe mẹ dặn, mấy đứa khép cửa. Có chén rượu, anh em cứ việc nhắm đưa cay, ăn uống thầm thào to nhỏ tới xẩm tối.

Sỏi Đồng chào mấy anh em ra trước. Đến chỗ rẽ núi Lớn, trời mịt mùng từng mảng xẫm. Thấy chó nhóc nhách sủa phía nhà mình, Đồng bước dấn lên. Anh thoáng thấy bóng Lạng lững thững phía trước. Nhà Lạng phía dưới núi, đi đâu làm gì lại qua lối này.


Bỉnh đã ngoài bốn mươi. Từ ngày lấy Trắm, anh khoẻ ra. Thằng Vòi chuẩn bị lấy vợ. Tuy chồng hơn nhiều tuổi nhưng Trắm không ỉ lại. Việc gì làm được là cô làm và thương chồng, coi Vòi là con mình, mắng mỏ tự nhiên không giữ ý. Nhà cửa ngăn nắp tuy không nhiều đồ đạc nhưng ấm cúng. Chẳng phải thông minh thông thái với ai, lạt mềm buộc chặt, cô âm thầm quản lí Bỉnh không để anh dính dáng cờ bạc và đám bậu xậu. Chẳng tin ai được đâu. Của mình mình phải giữ. Lơ là một chút rồi hối không kịp. Đi làm về, anh giúp được gì thì giúp, chăm nom mấy luống rau, ăn ngủ cho đều đặn. Gương mặt Bỉnh dần rạng ra, không còn xương xẩu đen đúa như trước. Trắm quét dọn lán phu xong, chuẩn bị các mối hàng cho công việc chuyển than. Xong xuôi, tắm giặt cơm nước rồi ôm con. Con Hoà đã ba tuổi tự ăn, tự chơi được rồi. Nhà nghèo đứng lên như người ốm dậy, phải từ từ không thể nôn nóng níu kéo ngay được. Cô không biết ông Đục nhưng qua chồng, kính phục ông và thân thiết tôn trọng mấy anh em Cải, Đá, Bào, Ao. Ngày họ nghỉ, Trắm đến. Nhà Đá, nhà Ao buôn bán chợ búa bận rộn luôn tay, không quen không làm được. Mỗi khi vào chợ, Trắm thường tạt qua. Người ta mua thế nào, mình mua thế, trả tiền sòng phẳng.

- Em còn tiền. Khi nào thiếu, em xin. Bây giờ lấy của anh chị, em hư ra đấy.

Cô thường vào nhà Cải, chơi vơi Thuần, vào nhà Bưởi chơi với Đảm, cô cháu với Gái. Con Gái cũng đã lớn, biết lễ phép, giữ gìn ý tứ ra trò. Gái theo cô sang nhà Bào. Bào hiền lành. Mười rằm cũng ư mười tư cũng gật. Con Bi đã lớn. Thằng Ve miệng ăn chân chạy. Thãi cùng lứa với Trắm. Bào mũ ni che tai mặc kệ chị em mỗi khi Trắm vào, việc mình mình làm. Rảnh rỗi, anh mua tre nứa đan rổ rá, xảo thúng, phân kí mang lên nhà Ao, nhà Đá gửi bán. Một vài người đến nhà đặt mua. Anh đan chưa đẹp nhưng chắc chắn và bền.

- Cô Thãi yên chí rồi. Sau này không làm mỏ chả sợ thất nghiệp.

Những việc lặt vặt ấy lấy hết thời gian rảnh rỗi của Trắm. Thằng Vòi dấm dẳng cuối năm lấy vợ. Nhà phải ngăn đôi hay làm mới, riêng biệt ra. Hỏi nó, nó noí tuỳ mẹ. Thế là khổ cho mình rồi. Sẽ tốn kém kha khá chứ chẳng chơi. Cắt lúa rụng thóc không tránh được nhưng phải làm sao đỡ rụng hoăc rơi rụng vào nơi có ích.


Hai vợ chồng mãi không có con, Đồng chán ra mặt. Anh uống rượu. cái chai nửa lít lúc nào cũng đặt phía đầu giường. Nằm buồn, anh cầm chai, rút nút chuối dốc vào mồm. Một ngụm thôi. Đồng nút lại, đặt vào chỗ cũ. Ngụm rượu đầy trong mồm, anh dồn sang má bên này chán lại dồn sang má bên kia. Ngụm rượu bị đưa đảy vài lượt rồi chia nhỏ ra, nuốt. Có tối dăm bảy ngụm. Yên dọn dẹp tới khuya mới lên giường. Những hôm có tiền, Đồng thường đi chơi. Khi tổ tôm, khi xóc đĩa hoặc tụ bạ mấy thằng uống rượu như uống nước. Yên không dám nói gì, không biết can ngăn thế nào đành phó mặc số phận. Bác Đá cũng lên, mắng cho luôn nhưng chứng nào tật ấy. Anh về chưa khuất, tụi bạn đã ngấp nghé gọi đi rồi. Có đêm đang ngủ ngon, Yên phải bật dậy. Đồng say không biết gì. Bạn bè khiêng về, vất vào giường. Anh nằm cò queo, thở phì phò, nồng nặc hơi rượu. Cô lặng lẽ lấy vôi bôi vào chân chồng. Sáng dậy soi đèn, Đồng thấy cô nằm, khoé mắt còn đọng nước. Thực sự, Đồng cũng thương Yên, cũng muốn vợ vợ chồng chồng ríu ra ríu rít nhưng khi màn đêm buông xuống, nghe tiếng bạn bè í ới, quên hết. Sau đợt ốm lệt bệt, anh khoẻ ra, mặt mũi hồng hào, người có da có thịt. Dạo này, Đồng lại suy nhược, mặt xạm đen. Thức đêm thức hôm, cờ bạc gọi mời, rượu khan nốc vào. Cơ thể mạnh mẽ mấy cũng phải suy kiệt. Đồng không để í, lấy tụ tập làm vui, đổi cái mệt nhọc này lấy cái mỏi mệt khác. Bạn bè đểu giả nhiều, ăn nói dễ nghe dễ vào. Bạn bầu tốt không ít nhưng ăn nói thật thà, băm bổ, không dễ vào, không dễ nghe. Dần dần cả anh chị cũng chịu. Chú ấy lớn rồi phải biết suy xét chứ có còn lên ba lên năm đâu. Yên buồn chán hết hi vọng. Đồng đi đâu, bao giờ về, chả ai biết. Bản thân anh không ý thức được. Nơi làm việc người ta xâm xỉa, trêu chọc cho khoái khẩu nhưng ném vào lòng Yên từng chùm gai bồ kết. Nhức nhối buốt xót chẳng biết cách gỡ.

Tối ấy, Đồng vào sới. Tiền mang theo ít, hết veo. Nấn ná vẹo vọ mãi không ăn thua. Hút thuốc lào vặt chán, Đồng ra về. Aó vắt vai, anh thả cu đái rong thành vệt dài. Quái. Bóng người lẻn ra cửa đi về phía núi Con. Anh dừng lại, dụi dụi mắt, bước vào. Yên đang tắm, dội ào ào phía sau nhà. Chả lẽ trộm. Nhà mình có gì mà lấy. Vật mình xuống giường, anh không hề bận tâm thêm. Cờ bạc thế mà xui. Chả rõ tai mình nghe ngóng ra sao toàn trượt. Biết chồng về, tắm xong, Yên nồng nỗng lên nhà, nhắt nhỉ:

- Về sớm thế? Sao không ở lại đến khuya? Cháy túi rồi à?

Đồng thở dài, quay mặt vào bức vách.

Mấy hôm sau, chập tối, quần đùi áo cộc, anh lững thững vào sới. Không đủ tiền, anh ngồi chầu rìa. Thỉnh thoảng thấy thật chắc ăn, anh mới đặt cửa theo. Cả chiếu toàn một bọn hôi hám, không ai kéo, cứ từ từ chuyển dịch vào góc nhà. Được vài bát, Đồng hết sạch. Đen như mõm chó. Đồng lầu bầu bước ra, dật dờ về. Chợt có gì như linh tính mách bảo, anh dừng lại. Có tiếng người hay tiếng động khả nghi. Anh khẽ khàng bước thêm hai bước. Cánh cửa mở kèn kẹt. Yên ngó đầu ra rồi thụt vào ngay. Bóng người đàn ông đẩy cửa, bước vùn vụt. Bất ngờ chẳng chuẩn bị gì, Đồng quát to một tiếng. Chó sủa ào ào như có người khua. Vào nhà, anh run run tìm diêm thắp đèn lên. Yên co dúm lại góc giường. Đồng tỉnh táo. Hình như đau đớn tột cùng đến quá bất ngờ làm con người chai lì đi.

- Việc gì phải sợ. Có gan ăn cắp có gan chịu đòn chứ! Sợ gì?

Yên run bần bật khiến cả giường cả nhà như cũng run theo. Động lao vào, túm ngực áo vợ, giật tung ra. Một mảng sáng mập mờ run rẩy. Yên lắp bắp:

- Em lạy anh! Em lạy anh! Em có tội! Cắn rơm cắn cỏ em lạy anh!

- Không việc gì phải lạy.

Đồng lôi Yên dậy, díu dập rồi lại đẩy cô nằm ngửa trên giường:

- Mày thích làm đĩ hả? Tao lôi mày xuống nhà thổ cho mà làm!

Người Yên nhấp nhô, gấp gáp, hổn hển như cá ngạt nước. Tiếng nói lào thào, hai tay chắp vào nhau, vái chồng lia lịa. Đầu cô rũ rượi. Mái tóc dài xoã ra, dềnh lên dập xuống qua những cái giật liên miên như gà mổ thóc.

- Mày ngủ với nó bao nhiêu lần rồi. Nó là thằng nào?

- Dạ! Dạ!

- Tao hỏi. Mày phải trả lời cho thật. Nó là ai?

- Em xin anh!

- Tao có gì mà xin. Chỉ có con vợ thích làm điếm này thôi. Ngủ với nó có sướng không? Hả? Hả?

Sau mỗi tiếng hả, đầu Yên bị dập vào tường, dập xuống giường…Lúc sau, người cô nhũn ra. Đồng to giọng:

- Sáng mai. Diện cho đẹp vào. Tao dẫn xuống nhà thổ. Ở đấy nhàn lắm, bán trôn lấy cái mà ăn.

Đồng hất mạnh tay. Yên xõng xoài trên giường. Người rũ ra, mềm oặt như bọc giẻ rối.

Vừa căm uất, căng thẳng vừa mệt mỏi rời rã, Đồng ngủ được một giấc dài đến sáng. Anh bật dậy. Nhà vắng hoét. Chả lẽ Yên đi làm. Đồng ra sân. Lán phu đã vắng lắm. Thợ lên tầng cả rồi. Vài con sẻ nhanh nhảu đáp xuống vườn. Quay vào bếp, vấu tách củi lửa lạnh lẽo. Anh chợt nhìn nghiêng ra. Trên cành nhãn, một xác người treo lòng thòng. Đồng đờ người, ú ớ không thành tiếng.



Từng tốp từng tốp thợ dúm dó bò lên dốc. Con đường mòn len lách qua những khóm cây, những hốc đá, trườn trong cỏ rối. Tiếng chim đa đa bắt tép kho cà cứ gióng giả cất lên khiến đồi núi thêm buồn vắng. Đám thợ nặng nhọc leo. Những lời nói nhát gừng. Tiếng thở, tiếng chân bước, tiếng quang đòn chạm vào đám lá tạo thành hợp âm buồn.

Phàn đến đầu dốc. Mấy tay thợ túm tụm ngồi thở, chờ đỡ mệt leo tiếp chặng nữa. Thúng thắng những tiếng ho, tiếng dặng hắng của mấy người đuối sức. Họ kêu ca làm không đủ ăn. Công việc tối mày tối mặt. Thằng con mấy hôm ươn người nay lại nặng thêm. Phàn quăng mình ngồi phệt xuống. Mũi mồm tranh nhau phả ra những làn hơi đục trắng. Phía dưới kia, Cốt Mìn nhờ nhờ trong sương. Xa hơn nữa, một màu mờ đục.

- Thời tiết này còn ốm nhiều.

- Bác đi làm rồi ạ?

- Chưa khỏi đâu. Cố thôi. Nghỉ nhiều rồi. Không làm thì treo vấu.

Những lời hỏi han thưa thoáng. Từng người từng người, chả ai giục ai, lặng lẽ đứng lên leo tiếp hoặc tản ra các tầng chung quanh. Sương khói xoá nhoà bóng họ. Thỉnh thoảng tiếng người ngã. Tiếng chọc ghẹo nhau.

- Cố lên! Có tiền thoải mái tổ tôm, xóc đĩa, phá ùi, cờ bạc rượu chè.

- Hôm qua, thằng Tập vào nhà thổ. Không biết giờ đã mở mắt được chưa?

- …

Phàn nghe, thỉnh thoảng góp lời, khơi vào nỗi thống khổ xót xa của họ. Những mẩu chuyện gần gũi. Chuyện của người từng trải. Những câu chuyện về công việc, về sự việc cũ mới cứ rầm rầm rì rì len lách theo những bóng người, những con đường trôi đi bất tận. Mặt người đen đúa cóc cáy như mặt tầng. Đâu đâu cũng thấy người ốm vạ vật. Lúc đầu về mỏ, Phàn không thể tưởng tượng con người lại có thể lam lũ lầm than đến vậy. Việc đoàn thể giao, anh chưa biết phải làm thế nào, bắt đầu từ đâu. Xung quanh anh, những con người phổi ruỗng, thở phi phao. Những cơn ho ậm ạch, khò khè hay dội rít từng hồi. Những chị phụ nữ, đầu dày trứng chấy. Từng mảng từng mảng tóc bết lại. Quần vá đụp, áo có như không. Trong nhà, chẳng mấy người có chăn đắp. Rét quá, họ đắp chiếu hoặc đốt lửa sưởi. Có nhà phải trải ổ lá chuối, ổ ràng ràng. Họ làm than. Người yếu dựa người khoẻ. Vợ cậy nhờ chồng. Anh dựa vào em, em dựa chị. Than vẫn phải ùn ùn ra trong sự cố gắng của mọi người. Ai không bám theo được. Nghỉ. Một vài ngày. Khỏi. Tiếp tục làm, chết thì chôn. Lại có người thợ khác thay thế. Cái phản bằng gỗ ghép nơi Phàn ở to dày và chắc chắn. Hôm trước, anh cùng mọi người khiêng ra nắng dỗ dộng. Rệp rơi ra rung rủng. Con nào con nấy to vàng, bò loạn xạ. Múc nước kì dội, ai thấy cũng lắc đầu. Nước đen nổi váng như nước bùn than. Mỗi người một niêu, một vấu. Ngày tạnh ráo, khói theo chiều gió bay xanh cả một vùng. Ngày mưa, họ mang nấu trong nhà. Ngột ngạt khói. Người nọ chờ người kia. Tiếng văng tục, chửi bới nhau như cơm bữa, trộn cả vào bát cơm. Cơm gạo xấu nhưng trắng, vừa đủ cho người ăn yếu. Phàn sống với họ được gần một năm. Sau đó, anh ở nhờ nhà chú Động. Đã ngoài bốn mươi, chú Động ngấp nghé tuổi già. Bão táp sóng gió trong cuộc đời phu mỏ thấm vào ông. Ông thấy anh là người tin cậy có thể gửi gắm nhiều điều. Bà vợ ít tuổi hơn ông nhưng trông lại già hơn. Công việc làm tầng, công việc cửa nhà lấy đi nhiều hơi sức của bà. Ông mới buộc bà nghỉ, về săn sóc vườn cây cảnh cho ông. Bà chiều ông, về, suốt ngày tưới tắm, chăm cây như chăm trẻ.


... CÒN TIẾP ...



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ QuảngNinh ngày 08.7.2017.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004