Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới

Thiên Nga So Zuôn





Chúng Tôi Đi Công Tác








- Chúng tôi đi công tác!

Mà nào phải đi công tác. Tôi mạnh miệng trả lời sau khi hỏi thăm đường lên nhà Thiên Nga So Zuôn, nhà văn trẻ người BaNa, ở độ tuổi ngoài ba mươi có đôi mắt sáng và hàng mi không cần chải cong lên bằng loại keo đắt tiền như các diễn viên điện ảnh, chào nhau bằng một nụ cười lộ hàm răng trắng đều đặn, hương thơm trong trang đời thường nhật, còn đọng lại trên mỗi trang viết trên tạp chí Văn nghệ Bình Định nữa kia. Thế mới biết nước đầu nguồn bao đời đã đổ về Núi Một ở An Nhơn, đổ về Hầm Hô ở Tây Sơn để nuôi tốt cây lúa đồng bằng, còn gột rửa tắm táp nuôi dưỡng cả làng cả họ xưa nay quanh con suối như thế nào. Đó có phải là nguyên nhân mà mười lăm năm nay chị em Thiên Nga So Zuôn ngược lên miền cao Canh Liên quê mẹ để ở, sau lời trăng trối của người cha từng là cán bộ kháng chiến tập kết ra Bắc trở về quê Canh Thuận, Vân Canh sinh sống.

Chúng tôi thể như bị lạc giữa những khuôn vườn cây ăn quả, còn nhà cao cửa rộng thông thoáng mái đỏ mái xanh san sát bên nhau. Rồi cũng ra được khỏi khu dân cư thị trấn Vân Canh. Theo hướng tây, con đường bê- tông lượn vòng qua hết núi này đến núi kia khuất cả tầm nhìn. Bên vạt rừng keo rợp bóng, chúng tôi nghỉ ngơi tiếp sức cho cuộc hành trình vừa khám phá vừa thăm gia đình “đứa con gái” của cố nghệ nhân Prao Unh So Zuôn: nhà nghiên cứu sưu tầm, biên soạn truyện cổ, sử thi người dân tộc Ba Na, biên soạn bộ chữ Chăm H’roi. Và rồi bao khúc đèo lượn đèo, núi tiếp núi để dẫn nhịp đến đỉnh Dốc Đá thẳng đứng trước mắt, thách thức kiêu ngạo. Nhưng dễ gì lay chuyển ba tay lái cừ khôi, không một chút nao núng khi có người bảo đi chi lên đấy!... Lúc hỏi đường. Dốc nối dốc vươn cao vượt tầm nhìn dẫn đến Cổng Trời mở ra. Một lần nữa, ba chiếc xe máy dừng lại, tha hồ ngắm những góc nhìn thật đẹp. Phải chăng đã có một Cổng Trời “Đà Lạt” ở độ cao 1500m, giữa Bình Định nóng bức trong ngày hè. Không ngoa. Chiếc cổng Xã Canh Liên kính chào quý khách đón tiếp chúng tôi phần nào xua đi đoạn đường chỉ có xe hai bánh là chủ yếu.

Còn câu chuyện từ Canh Thuận theo giao liên đi bộ vẹt cây, trèo đèo, leo dốc phải mất một ngày đàng tính theo đường chim bay mới đến Dốc Ông Beo(1)trời tối sẩm những hồi hộp lo sợ nhưng phải dừng chân, đốt đuốc, dùng cơm nắm với muối mè, rồi nghỉ lại đêm để sáng hôm sau tới làng Kon Lót(2) Canh Liên khoảng hơn chục ngôi nhà sàn nho nhỏ. Trong hồi ức hơn bốn mươi năm về trước, nơi đây là căn cứ địa cách mạng, chị tôi kể lại chuyến xóa mù đầu tiên sau năm bảy lăm, hôm ấy được ông già Lúi(3) họp dân cho gạo, cho mì, cho chuối cán bộ (hồi đó họ gọi thầy cô là như vậy). Còn bà con thì kiếm thêm quả mít để ăn. Họ tốt bụng vô kể. Các thầy cô theo học trò lên rẫy ở chỗ nào chờ lúc các cháu nghỉ tay để dạy cho được một câu bài hát Quốc ca của Văn Cao!... Tôi chịu thua!... Canh Liên rộng quá. Trước mắt vẫn là rừng tự nhiên và đồng cỏ lớn.

Giờ đây, xe băng ngang qua trường Dân tộc nội trú Canh Liên đã tầng hóa. Mùa hè, cây phượng vẫn đỏ một góc sân, đan xen lá xanh non mởn chờ năm học mới bắt đầu. Chúng tôi tiếp tục vượt bao đồi dốc và ngang qua đồng cỏ lớn mới đến được đầu làng Kà Bưng, nhà Thiên Nga So Zuôn lại ở lưng chừng con dốc xói mòn lởm chởm đất đá. Rất mừng, cơ duyên hôm nay “cây bút trẻ” không xách theo giấy mực lùa đàn bò lên núi cao. Mới hôm Hội Văn học Nghệ thuật Bình Định tổng kết cuối năm, thể như xa lâu ngày, vui mừng xúc động đầy bất ngờ khi chúng tôi có mặt trong ngôi nhà đơn sơ chỉ hai mẹ con, trên tường những giấy khen, bằng khen ngay ngắn thẳng hàng!... Bữa trưa được bày ra bên suối nước, đủ các món đặc sản biển chế biến khéo léo, có cả “trứng, cá luộc” đầy hấp dẫn của Võ Hạnh(Hoài Ân) chuẩn bị từ hôm trước. Mua thêm bánh tráng tại làng. Bếp lửa lên xanh khi nước trà ngả màu bả trầu, hay là do nước suối tổng hợp các lá rừng vậy. Mặc. Chúng tôi mỗi người chia nhau một chén cho đỡ khát…

Chông chênh nắng ngả. Chia tay con dốc bóng chiều. Những quả bơ trong vườn nhà Thiên Nga So Zuôn tươi xanh là món quà gởi về xuôi vơi đầy cảm xúc. Những nhánh Lan rừng còn bầu bạn con suối ban trưa giờ cũng được thân thiết với bàn tay người, càng bỡ ngỡ với bao cái nhìn trầm trồ định mức giá cả tiền Việt Nam của các văn nghệ sĩ Bùi Tấn Phước, Trần Ngọc Sơn và thầy giáo Nguyễn Thành Minh “chuyên gia” các loại Lan cũng không quên mang theo túi xách, dây thun buộc chặt “đưa nàng về dinh” làm sở hữu riêng. Tự nhiên Lan thấy mình sáng giá!... Làm bạn với người, Lan ấm áp những tin yêu hơn. Lan ở núi rừng theo môi trường tự nhiên sống nhờ gió, nhờ nắng, nhờ mưa mà phát triển, mà duy trì. Nhưng Lan rừng nhớ mưa, mưa rừng khó thể ngớt, mưa đầy nguồn bể, tuôn thành suối đổ về đồng bằng. Người đồng bằng lo xa hơn đã xây hồ đắp đập chứa nước, dự trữ nuôi cây lúa lâu dài. Còn cả làng Kà Bưng có hơn bốn chục ngôi nhà sàn, nhà trệt xúm sít bên nhau khó khăn khi mùa khô đến, suối cũng cạn dần, mọi sinh hoạt còn chờ thêm vào cái bể nước đang được xây nơi ngã ba đầu làng kia sắp hoàn thành để đưa vào sử dụng.

Vậy là Lan rừng mới yên tâm theo người về xuôi cảm nhận thêm ngọn gió nồm mặn mà hương biển như thế nào. Nhưng về xuôi, cái bụng Lan rừng sẽ nhớ cô giáo chị hai của Thiên Nga So Zuôn lắm, đã gắn bó với trường Mầm non nơi đây hơn mười năm rồi. Cả làng có một trường tiểu học với hai phòng học nhỏ. Làng ít người nên lớp học cũng ít cháu hơn. Còn từ lớp một đến lớp bốn là không quá năm học sinh trên một lớp. Học sinh lớp năm phải đến trường xã nội trú Canh Liên cách làng hơn 10 cây số.

Thường mỗi ngày hè, gởi con gái cho ngoại chăm, Thiên Nga So Zuôn vào rừng chăn con bò ăn cỏ, mặc lá rừng xôn xao, chị đâu chỉ say sưa với những truyện ngắn về tập tục người đồng bào cũng như việc bảo vệ núi rừng quê hương, chị còn có những câu thơ đậm chất lãng mạn trẻ trung thật đáng yêu: “… Em mặc cho nắng gắt/ Sơn bóng làn da nâu/ Mồ hôi ra ướt áo/ Tay trần vẫn hái mau// Kìa ráng chiều rẻ quạt/ Gùi to bông đã đầy/ Em nụ cười hớn hở/ Vội về sau tán cây”(Cô gái hái bông).

Về với gia đình, bản làng sau một ngày lao động. Ta quý lắm người Ba Na, mặc dù theo chế độ mẫu hệ, dầu vậy nhưng chị em Thiên Nga So Zuôn vẫn luôn cởi mở như thể sẻ chia thân phận phụ nữ dẫu hay lam hay làm, còn bị bạo lực áp bức, hay có chị phải nuôi con một mình, có những người mẹ đau đáu khi biết con gái mình bị xâm hại tình dục,… dẫu có đền bù vật chất cũng là sự việc đã muộn rồi. Phải chăng từ chuyện nhà đến chuyện làng trong gia đình Việt hôm nay vẫn còn ám ảnh.

Xe trở lại con đường đã đến, tốc độ lên xuống có khác hơn không?!... Cũng như hai nàng văn Lưu Thị Mười, Võ Hạnh không cầm tay lái mà chúng tôi chùng lại nỗi lòng đâu đó không cầu đến Dốc Cổng Trời tự nhiên, hun hút gió lùa mây trôi trên đỉnh đầu. Những nhánh Lan rừng bồi hồi ngoái lại quang cảnh trong tầm mắt bị lùi xa, chỉ day dứt lối mòn lạo xạo sỏi đá đã bị “bật mí” bao nỗi xốn xang người về đến vậy ư!..


10. 7. 2016


1 Kôông Beo: tiếng Ba-na: Kôông: núi, Beo: cọp

2 Kôông Lot (lột: lở).

3 Cách gọi tên của người Ba-na: Lúc đầu người đàn ông có con, thì gọi theo tên con. Đến khi có cháu gọi theo tên cháu. Gọi ông già Lúi là gọi theo tên cháu gái của ông.



@.Cập nhật theo bản mới của tác giả chuyển từ Bình Định ngày 30.6.2017.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004