Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





Đãi Sỏi Tìm Vàng



Lang Thang Một Rẻo Đất Ven Hồ Tây



1. Làng Yên Phụ.



L àng Yên phụ có tên là Yên Hoa, sau đổi tên là Yên Phụ (do kiêng tên huý mẹ vua từ đời vua Thiệu Trị) Đất làng Yên Phụ hình thành cùng với Hồ Tây, là một trong các phường thuộc khu Yên, gôm Yên Cư, Yên Canh, Yên Thành, Yên Ninh, Yên Quang, Yên Hoa ở phía Tây Thăng Long qua các triều đại Lý , Trần , Lê. Đến triều Nguyễn, sau khi đổi tên Thăng Long (rồng bay lên) thành chữ Thăng Long (thịnh vượng ) rồi sau đó vua Minh Mệnh nhà Nguyễn đổi tiếp Thăng Long thành tỉnh Hà Nội và chia nhỏ các phường, làng, trại. Phường Yên Hoa trước đây có diện tích bao trùm cả phía đông hồ Trúc Bạch, theo địa bạ Gia Long năm 1806 thì tên làng Yên Hoa thuộc tổng Thượng huyện Quảng Đức phủ Phụng Thiên. Đến năm thứ bẩy đời vua Thiệu Trị (1847) vì Yên Hoa trùng với tên của Thái hậu nên Yên Hoa đổi thành Yên Phụ. Năm 1889 làng Yên Phụ được cắt về tổng Thượng huyện Vĩnh Thuận phủ Hoài Đức tỉnh Sơn Tây. Năm 1915 lại cắt về tổng Thượng huyện Hoàn Long tỉnh Hà Đông, năm 1942, Pháp lập ngoại thành, làng Yên Phụ thuộc tổng Thượng đại lý Hoàn Long Hà nội. Năm 1954, khi tiếp quản thủ đô chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hoà lập tiểu khu Trúc Bạch rồi lập khu phố Ba Đình. Năm 1982 khi thành lập quận thì đổi làng Yên Phụ thành Phường Yên Phụ thuộc quận Ba Đình. Tháng 01-1996 Yên Phụ chuyển sang quận Tây Hồ thành một phường lớn gồm 11 cụm dân cư, làng cổ bây giờ là cụm dân cư số 4, ở đó có cổng làng, có đình làng. Tôi đến đình làng Yên Phụ gập các vị để tìm hiểu về vị thánh được thờ tại làng. Ông Thái bí thư chi bộ của làng Yên Phụ hướng dẫn tôi đến gập cụ giáo sư Đặng Quang Uẩn để hỏi chuyện.

Cụ Đặng Quang Uẩn kể rằng:


* Thần tích vị thành hoàng làng Yên Phụ


- Yên Phụ thờ một vị thần tương truyền là Linh Lang đại vương trong một ngôi đình có kiến trúc độc đáo xây theo kiểu chữ Đinh với năm gian nhà đại bái xây dọc, tạo nên chiều sâu tạo vẻ thâm nghiêm nơi thờ cúng và ba gian hậu cung nằm ngang.

Đình thờ ba vị thành hoàng làng là Uy Đô Linh Lang đại vương và hai vị vương em là Vương Đôi đại vương và Vương Ba đại vương

+ Theo thần tích thì ba vị Uy Linh Lang đều là con của Lạc Long Quân hiển linh ở vùng Hồ Tây. Đời vua Trần Thánh Tông (1253-1278) bà Chính cung hoàng hậu Minh Đức tuổi đã cao mà chưa có con, nên thường đến các đền ở vùng Hồ Tây để cầu tự. Một hôm hoàng hậu đến đền Nhật Chiêu, sau khi cầu tự, bà nằm nghỉ tại bờ vực Kim Ngưu mơ thấy một người mặt đẹp như ngọc, môi đỏ như son, đầu đội mũ mây,mặc áo gấm, đến trước mặt bà cúi chào và nói: “ Tôi là Uy Linh Lang làm vương ở đất này đẫ lâu, nay gập thánh giá tới đây ban nhiều ân sủng, hôm qua đã tâu xin thượng đế được đội ơn cho phép xuống trần gian ” phút chốc bà bàng hoàng tỉnh dậy vẫn còn phảng phất đâu đó mùi hương lạ, từ đấy bà có thai. Sau 14 tháng đến ngày mồng hai tháng hai năm ất Sửu vào giờ Tỵ bà sinh ra một bọc thai. Cho đó là điềm gở, bà sai cung nữ bỏ vào thúng mang vứt đi. Khi mặt trời lên cao độ ba con sào, bỗng có tiếng nổ vang, bọc thai nứt ra, một cậu bé nằm trong thúng, tiếng khóc lanh lảnh như chuông, xa gần đều đến xem, huyên náo cả cung vua. Bà Minh Đức sai cung nữ ra xem thấy đó là cậu bé liền bế về thưa lại với vua Trần, nhà vua cười nói: “Ngày xưa nguyên phi Cao Tân sinh ra Hậu Tác cũng giống như vậy, sao gọi là yêu quái được? ”. Từ đấy hoàng tử được đem vào cung nuôi dưỡng, đặt tên là Uy Đô Linh Lang, lớn lên thông minh tài trí hơn người, được nhà vua quý lắm Hoàng tử rất thích du ngoạn các nơi để học tập, bèn dâng biểu xin được ra đi, được cha mẹ cho phép, hoàng tử thay đổi y phục đến học tại nhà Khang công. Ngày tháng trôi qua, sức học đã trùm mọi việc, sa môn tăng chúng đều khâm phục, nhà vua lại gọi về kinh đô để kèm cập võ nghệ

Năm Trùng Hưng đời vua Nhân Tông, quân Nguyên sang đánh nước ta lần thứ ba, mọi người đều lo ngại, nhưng Ngài lại hiên ngang phấn chấn nói: “Con người ta sinh ra ở đời nên tỏ rõ là bậc có chí khí lẫm liệt như bậc đại trượng phu, có chết nơi chiến trường mới đáng là bậc anh hùng. Nếu không liều chết cứu dân trong lúc gian nan thì lấy gì để tiếng cho đời sau?”. Ngài bèn dâng biểu xin đi giết giặc, lại mộ hơn một vạn người luyện thành quân tinh nhuệ, gọi la “thiền tử quân” tiến đánh quân Nguyên, có ngày đánh liền tám trận, bắt sống tướng giăc, lại hợp quân cùng với Trần Hưng Đạo, Trần Nhật Duật đánh tan quân Nguyên, từ dó nước ta thanh bình. Vua Trần luận công phong ngài là Dâm Đàm đại vương Uy Đô Linh Lang. Giờ ngọ ngày hai tháng Hai năm Canh Tý, Ngài không bệnh mà nhập diệt, thọ ba mươi sáu tuổi, an táng tại thôn Thanh Cù, xã Ngọc Thanh, huyện Kim Thi tỉnh Hưng Yên. Sau khi ngài mất, dân lập một đền thờ gọi là điện Nhật Chiêu tại nơi trước kia cung nữ vứt bào thai, và một đền thờ nữa tại nơi Ngài ở gọi là cung An Trì, sau gọi là Bắc cung. Khi xưa đất Yên Phụ còn rộng thì cung An Trì thuộc về phường Yên Phụ, từ ngày người Pháp phá cung An Trì, lấy đất đó xây trường thông ngôn (sau ngày cách mạng tháng Tám 1945, trường thông ngôn đổi thành trường tiểu học Mạc Đĩnh Chi nay là số nhà 66 phố Phó Đức Chính ) dân Yên Phụ chuyển bài vị về thờ tại đình Yên Phụ hiện nay. Theo sắc phong thờ tại đình có ba vị là Uy đô Linh Lang đại vương, gọi là Vương Cả, hai em là Vương Đôi đại vương và Vương Ba đại vương. Làng cổ Yên Phụ kiêng các chữ Lang, Cả, Đôi và Ba mà gọi chệch khoai lang là khoai dây, ông Cả gọi là ông Trưởng, đôi gọi là hai, ba gọi là bơ.

+ Dân làng làm lễ hội đình Yên Phụ vào hai ngày: Mồng chín và mồng mười tháng Hai âm lịch, ngày mồng chín làng tổ chức lễ mộc dục, bơi thuyền ra giữa Hồ Tây để lấy nước sạch đem về bao sái. Ngày lễ Mồng Mười cỗ tế có bò thui do hai giáp là Giáp Đông và Giáp Nam đóng góp. Hội làng có rước từ cung An Thọ về đình, tế xong lại rước thánh hoàn cung, ngoài lễ rước, hội làng có thi bơi, thuyền bơi thi do mười hai người đi từ Ao Vả sau đình ra chùa Trấn Quốc rồi quay vế đích lĩnh giải. Theo các cụ cao tuổi kể lại thì rước ngày xưa có ba kiệu gồm một kiệu nhỏ và hai kiệu đại. Trong lễ thì quan trọng nhất là tế thần do các vị chức sắc khoa mục đã khao vọng làm chủ tế. Theo hương ước của làng, nếu Giáp Đông làm chủ tế thì Giáp Nam đọc văn tế và ngược lại. Ngoài ngày hội làng, có tục lệ quy định: Các “tich đánh cá” vào ngày rằm tháng giêng có sửa lễ xôi oản, thủ lợn và chuối đặt trên năm chiếc thuyền bơi đến Phủ Tây Hồ ở Quảng An làm lễ Mẫu.


* Phụ lục 1:


- Sự tích thánh Uy Đô đại vương và ngày chuyển táng


+ Theo văn bản “ Sự tích thánh Uy Đô đại vương và ngày chuyển táng” viết từ năm Vĩnh Khánh (1730) còn lưu tại đình thôn Thanh Cù xã Ngọc Thanh huyện Kim Thi tỉnh Hưng Yên do Nguyễn Thị Oanh Viện Hán Nôm dịch ghi rằng: “ Đời Trần cai trị đất nước kế nối gồm 12 đời vua, bấy giờ có ông họ Trần tên huý là Đức Huân là bậc công thần trong tôn thất, bà vợ là Trương Thị Bình vốn là em cùng cha khác mẹ với Cao Dương công chúa. Ngày ấy bà Tiên Phi đến chơi làng Vũ Điện huyện Nam Xương nằm mơ gập phải rắn thần, liền sợ hãi bỏ về kinh sư. Bà hoàng hậu đi chơi ở phía Tây, đến rửa mặt ở hồ Ngọc, chợt gập con trâu vàng đưa ngọc dâng lên. Tiên Phi vội nhận lấy nuốt luôn vào bụng, thế rồi mang thai. Đủ mười bôn tháng bà sinh ra một bọc, đến giờ Sửu ngày Hai tháng Hai năm sửu thì nở ra đức thánh ở cung Sùng Đức phường Nhật Chiêu. Đức thánh sinh ra mặt rồng mày hổ, thân rắn đầu người, mắt có hai đồng tử, mũi cao trán rộng, thân dài năm thước, ứng hiệu tôn thánh Linh Lang hiệu là Uy Đô đại vương. Đến khi khôn lớn, người rất thông minh lanh lợi, có đủ tài trí hơn người, nhà vua rất vui mừng cho đó là việc tốt lành, liền cho ngài ra cai trị ở trên rừng dưới biển. Bấy giờ Uy Đô được phong là thượng tướng quân ở lộ Thiên Sách. Ngài là người tài kiêm văn võ, biết chăm nom cai quản dân chúng, đồng thời có nhiều mưu lược anh hùng cái thế, hiểu biết hơn người, lại rất giỏi chính sự, xưa nay không ai sánh kịp.Vì thế Ngài đã dẹp yên giặc giã bốn phương, thực hành giáo hoá khăp nơi, được triều đình phong chức tước.

+ Ngày mồng ba tháng giêng năm Giáp Ngọ, ngài vừa tròn hai mươi sáu tuổi đã không nghĩ đến công danh liền bỏ quan quy y đạo Phật. Mười năm sau, ngài đắc đạo, đi giáo hoá khắp nơi, đến năm ba mươi sáu tuổi, vào giờ ngọ ngày mồng tám tháng tám năm Canh tý ngài viên tịch. Triều đình làm lễ ở cung Long Càn, đến giờ Tỵ ngày mồng Mười tháng Ba năm Đinh Hợi làm lễ chuyển táng ở cánh đồng xứ Đống Mối làng Thanh Cù, huyện Kim Động. Mộ đặt theo hướng toạ càn hướng tốn, nhật nguyệt chiếu lâm. Những người hiểu biết đều đặt lễ tế ở bên đường, cúng cháo, đốt tiền giấy, mong ngài cứu độ. Về sau có chỉ dụ của nhà vua nói rõ: Nay trúc đã nảy măng vậy cho dựng đền thờ gọi là đền Trúc Lâm Trần Tam thánh công từ. Về sau những đệ tử của ngài trông nom thờ cúng, nên uy đức của ngài càng thêm lớn lao, thiên hạ càng thêm tôn kính, đời gọi là Trần Linh Lang. Nhân dân ở hai xã Mạn Trù và An Xá đến giờ Thân năm Giáp Thìn tổ chức đón rước thánh vị về chùa làng, do vậy liền chọn làm ngày tôn hoàng đế lên ngôi để cai trị đất nước.

+ Triều đình lại ban cho sắc phong, tước hiệu là “Hiển Linh - Cự Thanh - Khoát Đạt - Cự Thần - Thịnh Đức Chí Nhân - Phổ Huệ Dương Vũ - Dũng Lược Phấn Chí - Cường Cấn Uy Nghi Phù Tộ - Dực Vận Trấn Dinh - Vĩ Công Cao Huân - Hậu Đức Hồng Ân, Bác Trạch Thông Minh Chính Trực - Uy Đô Linh Lang đại vương.

(Văn bản này lưu tại đình thôn Thanh Cù xã Ngọc Thanh, huyện Kim Động, Hưng Yên do Nguyễn thị Oanh tiến sĩ Hán Nôm đang công tác tại Viện phiên dịch).


* Phụ lục 2:


- Việt điện u linh tập ghi chép về An Trì Linh Lang


+ Vương vốn dòng giõi Hồng Bàng, cháu con Bách Việt. Ngày xưa Lạc Long Quân lấy con gái Đế Lai là Âu Cơ sinh được 100 người con trai (câu chuyện này có ghi trong Lĩnh Nam chích quái lục) sau chia đàn con làm đôi, nửa theo mẹ (lên rừng) nửa theo cha (về biển), mỗi bên cai quản một phương chăn dắt dân chúng.

+ Đại vương thuộc tộc Giao Long, là con trưởng tên là Giáp Xích, hiệu là Uy Linh Lang cùng với sáu người em đều được thụ phong ở đất này, đó là các vương có tên hiệu là Bạch Giáp, Hoàng Giáp, Hắc Giáp, Thanh Giáp, Chu Giáp, Tử Giáp. Về sau anh linh rờ rỡ giúp dân độ vật, nhiều lần hiển ứng được tôn sùng phong tặng. Đến đời vua Trần Thánh Tông, bà chính cung Minh Đưc hoàng hậu chưa có con nối dõi nên thường hay đến đền cầu đảo, hơn nữa mỗi lần tới đây bà thấy thêm yêu phong cảnh nơi Ngưu Uyển (vườn Kim Ngưu). Bỗng một hôm nằm nghỉ trưa bà thấy một người mặt đẹp như ngọc, môi đỏ như son, đầu đội mũ mây, mặc áo bào gấm, đến trước mặt bà cúi chào và nói: “Tôi là Uy Linh Lang làm vương ở đất này đẫ lâu, nay gập thánh giá tới đây ban nhiều ân sủng. Tôi đã tâu lên thiên cung được đội ơn cho phép xuống trần gian. Phút chốc bà tỉnh dậy, thấy trong lòng rạo rực tự nhiên có thai. Trải qua 14 tháng đến giờ Tỵ ngày hai tháng Hai năm ất Sửu bà sinh ra một bọc thai, nhưng cho đó là điềm chẳng lành bèn sai cung nữ giấu vào trong cái thúng mang vứt đi. Những người qua lại đây thấy lạ nhưng chỉ dám đứng xa nhìn vào, không ai dám lại gần. Khi mặt trời lên cao gần ba con sào, bỗng nhiên bọc thai vỡ ra tiếng nổ như sấm, dân làng vội chạy tới xem thì thấy bào thai đã vỡ, hiện ra một cậu con trai nằm ngửa trong chiếc thúng, tiếng khóc lanh lảnh như chuông. Thế rồi xa gần huyên náo, tiếng đồn lan tới tận trong cung. Hoàng hậu cho là lạ, liền sai cung nữ ngầm ra xem sao, cung nữ thấy cậu bé dáng vẻ thanh tú, lẫm liệt đĩnh ngộ lạ kỳ, bèn trở về thưa lại với vua. Vua cười nói: “Ngày xưa nàng Nguyên phi họ Cao Tân tên là Khương Nguyên sinh ra Hậu Tăc cũng giống như vậy, sao có thể gọi là yêu quái được”. Thế rồi vua cho đem vào cung nuôi dưỡng, được năm tháng đã biết nói, đầy tuổi thì biết đi. Đi đứng nằm ngồi dáng vẻ hệt như người lớn Vua cho rằng cậu bé sau này ắt trở thành người tài giỏi nên càng yêu mến quyến luyến đêm ngày sủng ái và đăt tên là Uy Linh Lang. Khi lớn lên cậu bé thông minh tài trí, học hành uyên bác, xa gần ai nấy đều ngợi khen. Đến năm hai mươi tuổi, chàng thích nhất được đi du ngoạn các nơi, bèn dâng biểu lên hoàng hậu xin được đi du lịch (xuất gia). Vua và hoàng hậu đều bằng lòng chàng bèn đổi mặc áo thường dân đến học nhà ông Triệu lang khang ở ấp Vũ điện huyện Nam Xương, chưa đầy một năm mà kinh sách tất thảy đều làu thông. Ngày tháng trôi đi, chàng hộc thêm được nhiều điều bổ ích và trở thành người trên thông thiên văn, dưới tường địa lý. Cửu lưu Tam giáo không chỗ nào không hiểu biết tường tận và giỏi hơn cả là kệ từ và kinh Phật, sa môn tăng chúng hêt thẩy đều khâm phục học vấn cao diệu của ông. Hoàng hậu nghe thấy mọi người ca ngợi, liền sai sứ giả đón ngài về kinh, ban cho ấp ở Binh Thọ, Nam giao và cấp lương tháng để mỗi khi rảnh rỗi an dưỡng tinh thần, cứ như vậy được hơn hai mươi năm. Đến đời vua Trần Nhân Tông, tướng Nguyên là Toa Đô đem hơn bốn mươi vạn quân chia hai đường thuỷ bộ tiến vào cướp nước ta. Trong nước rối loạn, ở khắp nơi trong nước từ triều đình đến thôn dã tất thảy đều lo sợ hoang mang, một này tin cáo cấp làm bốn năm lần kinh động. Nhưng ngài lại hiên ngang phấn chấn nói: “Con người ta sinh ra ở đời nên lẫm liệt hơn người, tỏ rõ là bậc đại trượng phu, chí khí ở tứ phương nơi chiến trường da ngựa bọc thây. Nếu không liều chết cứu dân trong lúc gian nan thì lấy gì ghi tên trong sử sách để tiếng cho đời sau?”. Ngài bèn dâng biểu bày tỏ phương lược diệt giặc, tự mình lập đội quân Hưng Nghĩa để diệt trừ giặc mạnh, Vua ngợi khen ý chí của Ngài và đồng ý. Thế rồi ngài thu thập môn hộ, dựng cờ nghĩa, chiêu mộ sĩ tôt được hơn một vạn người, phân bổ các đội rèn luyện trận pháp, lấy hiệu là “Thiên tử quân”, phục kích tiến đánh quân Nguyên ở Hàm Than, quân của ngài thừa thắng truy kích lại đánh tan quân Nguyên ở sông Đông Mai, hội với các cánh quân của Hưng đạo vương, Ttrần Nhật Duật ở Vạn kiếp. Quân doanh đầy đủ lại tiến đánh quân Nguyên ở Màn trù, nhỏ trại Đông Kết, một ngày giao chiên tám lần, cả tám lần đều thăng, chém hơn ba vạn tên. Bắt sống tướng giặc Lý hoà La và rất nhiều binh lính. Người Nguyên từ đó lo sợ không dám tiến đánh nước ta, từ đó đất nước thanh bình, về sau do có công đánh giặc Nguyên, ngài được phong là Dâm Đàm đại vương.

+ Năm ngài ba mươi sáu tuổi, vào giờ Ngọ ngày Tám tháng Tám năm Canh Tý, Ngài không bệnh mà mất. Vua và hoàng hậu thương xót không nguôi bèn lập miếu thờ ở nơi trước kia vứt bọc thai và đặt tên là Điện Nhật Chiêu, còn gọi là điện Linh Bảo hay là Linh Lang thánh từ. Nhà vua còn cho xây đền thờ ở Bình Thọ để ban khen Minh Đưc hoàng hậu. Đến đời vua Trần Nghệ Tông, thần do có công ngầm giúp lại được ban thêm mỹ tự là Dực Chính Hiển Ưng phù hựu đai vương. Sáu người em cũng được phong tặng... Đến nay anh linh càng hiển ứng trải qua các triều đều được tôn sùng. Ngôi đền hiện còn ở phủ Phụng Thiên, huyện Quảng Đức, phường Yên Phụ

(Tài liệu do Nguyễn thị Oanh dịch, Mai Hải duyệt lưu trữ tai đình Nhật Chiêu phường Nhật Tân )


* Các di tích


Phường Yên Phụ hiên nay bao gồm làng cổ Yên Phụ (nằm sát Hồ Tây), rẻo đất ven đê (nay là phố Yên phụ và đường Nghi Tàm) và bãi An Dương. Tổng diện tích khoảng 1,5 km2. Tại làng cổ Yên Phụ xưa có một hồ nhỏ tách ra từ hồ Tây, trong hồ có đảo, trên đảo có nhiều cây vả to nên gọi là Ao Vả. Từ khi Hồ Tây chuyển sang Quốc doanh cá quản lý thì Ao Vả không còn nữa. Ngày xưa làng có 3 xóm là xóm Diu, xóm Giữa và xóm Đê. Nhưng dân tại xóm Đê phần nhiều là đân nhập cư... Đường làng Yên Phụ cổ xưa là con đường độc đạo chạy từ số 76 phố Yên Phụ hiên nay, tới giữa làng thì rẽ làm 2 nhánh, trên dường làng có 5 ngõ. Từ tháng 01-2002, UBND quận Tây Hồ đặt tên đường làng là “ngõ 76 phố Yên Phụ”, và một ngách từ số 83 gọi là “ngách 83 ngõ 76 phố Yên phụ”. Tại làng cổ Yên Phụ có gần 400 hộ, khoảng gần 2000 dân. Trong làng cổ Yên phụ có trên 10 họ cùng sinh sống, đông nhất là họ Quách, ít người là các họ Lại, họ Hà, họ Cao.


* Về kinh tế:


Trước đây dân làng Yên phụ sống bám vào Hồ Tây, làm nghề chài lưới, tổ chức thành các “tích” với khoảng 50 gia đình là một tích. Họ đánh cá bằng nhiều hình thức như quắng lưới, riu, câu rà, câu giăng. Sau khi quốc doanh hoá Hồ Tây, dân mất nghề chài lươi chuyển sang nuôi cá cảnh, đầu tiên họ nuôi cá vàng, cá chọi, từ năm 1990, người dân Yên phụ chuyển sang lai tạo những giống cá quý nhập từ nước ngoài. Người nuôi cá có kinh nghiệm là các ông Quách Phù, Quách Tường, ông trưởng Thành, ông trưởng Phượng, từ chỗ nuôi cá cảnh, các gia đình còn thiết kế các loại bể nuôi cá có núi non bộ, với cảnh trí thần tiên, có cây cảnh chùa, cầu tháp...soi hình trong bể cá đẹp lượn dưới bể Bên cạnh nghề nuôi cá cảnh, một số gia đình còn trồng hoa các loại. Từ năm 1930 có gia đình ông Đoàn văn Hồi nhập hạt giống hoa nước ngoài như Glayơn, Côtmôt, Viôlet, Pắngê, Magơrit từ bên Pháp, người Yên Phụ vừa ươm cây vừa bán cây hoa giống cho các làng hoa Ngọc Hà, Hữu Tiệp, Nghi Tàm. Bãi đất ven sông tuy rộng và mầu mỡ, nhưng người bản địa không ra trồng cấy, họ cho người ở Bồng Lai, Bá Dương thuê để trồng hoa màu.Theo các cụ kể lại thì tên An Dương là tên ghép An phụ - Bá Dương mà thành. Những năm 50 của thế kỷ XX, dân nghề Ngũ Xã đã ra An Dương lập HTX Trúc Sơn đúc xoong nôì chảo gang khổ lớn, họ đúc cả tưọng Phật bằng đồng, có nhiều nghệ nhân nổi tiếng như cụ Quên, cụ Trọng, cụ Tùng, cụ Tốn đã hành nghề tại đây. Nay các HTX đúc cũng tan rã, Tại bãi An Dương chỉ có công nghệ khai thác cát.

+ Trước đây ở Yên Phụ có một số gia đình làm nghề buôn bán nhỏ, có câu ca dao rằng:

     Yên phụ buôn bán dưới thuyền

     Xuống đò phố Mới bán than quạt lò

Hiện nay thương nghiệp hiện đại chủ yếu có trong chợ Yên Phụ và phố Yên Phụ, khá sầm uất. Trong phố Yên phụ có 4 chi nhánh Ngân hàng, nhiều cửa hàng dịch vụ như may đo, bán quần áo, sửa chữa xe máy...

+ Là một làng cổ, còn nhiều danh lam thắng cảnh như dình Yên Phụ, chùa Trấn Quốc và hệ sinh thái ở có nhiều điều đáng quý: Dưới nước có nhiều loài thuỷ sản đặc trưng của Hồ Tây như sen Hồ Tây và loài tảo gây màu nước xanh quyến rũ. Nơi đây có nhiều loài chim di trú, mà giá trị cao nhất là sâm cầm bay từ phương Bắc về Hồ Tây, lặn ngụp trong sóng hồ tìm cá, tìm tủ sen, từng là sản phẩm đem tiến vua. Với 35 loài cá, mà nổi tiếng là cá chép đỏ, cá chép trắng, trắm đen các loại.


* Về các câu chuyện dân gian (Văn hoá phi vật thể ):


Tại làng Yên Phụ và các làng lân cận đều có lưu giữ nhiều câu chuyện dân gian , Tai Nghi Tàm quê hương bà Nguyễn thị Hinh tưc Bà Huyện Thanh Quan còn nhiều người nhớ câu chuyện làm thơ, xử kiện của bà. Bài thơ Vịnh cảnh Trấn Quốc, bà viết:

     Trấn Bắc hành cung có dãi dầu

     Trạnh niềm kim cổ nghĩ mà đau

     Mấy toà sen rớt hơi hương ngự

     Năm thức mây phong nếp áo chầu

(Cụ Lê Quyết Bội cháu đời thứ Bẩy bà huyện Thanh quan đọc)

Cụ Đặng Quang Uẩn cũng ghi được những vần ca dao riêng của Yên Phụ:

     + Hỡi cô đội nón ba tầm

     Có về Yên Phụ hôm rằm lại sang

     Phiên rằm chợ chính Yên Quang

     Yêu em anh đợi hoa nàng mới mua

     + Ai xui chung một con hồ

     Cánh thư bắt được là nhờ gió bay

     Một bên là phố là cây

     Một bên là nươc, là mây là vườn

     + Vỡ từ cửa ô Yên Hoa

     Nhật Tân, Quảng Bá vỡ ra Tây Hồ

     Thuỵ Chương trôi mất mả mồ

     Kẻ Vòng, Kẻ Cót trôi đồ làm ăn

Ngoài những câu ca dao trên, người Yên Phụ còn nhớ chuyện của Cao Bá Quát, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Trãi cùng Nguyễn thị Lộ làm thơ ướm hỏi nhau bên Hồ Tây.Tôi ghi lại vài chuyện, (tuy rằng những giai thoại này đã được nhiều người khai thác):


- Chuyện Cao Bá Quát đối lại vua Minh Mạng :


Khi còn là học trò nhỏ, Cao ra chơi Hà nội, dạo chơi tại chùa Trấn Quốc, đang lúc tắm dưới nước thi xa giá vua Minh Mạng đi đến.Quân hầu cho là vô lễ, liên bắt trói đưa đến trình vua. Cao tâu răng mình là học trò, tuổi còn trẻ con, nên mải vui mà không biết xa giá đến. Thấy Quát khai là học trò, nhà vua nhìn cảnh hồ rồi nói: “Ta sẽ ra một vế đối, nếu ngươi đối được thì tha, khôngđối được thì sẽ phạt, rồi vua đọc “Nước trong leo lẻo - cá đớp cá ”. Cao Bá Quát không phải nghĩ lâu, mà tức cảnh của mình đang bị trói, cậu đọc ngay “Trời nắng chang chang - người trói người” Nhà vua nghe xong, tuy cả kinh và giận thằng bé dám đối trả, nhưng câu đối chỉnh quá nên đành giữ lời hứa mà tha tội.


- Chuyện Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ:


Khi Nguyễn Trãi làm quan hành khiển dạo chơi gần đảo Cá Vàng gập một thiếu nữ xinh tươi gánh chiếu gon đi bán, ông bèn đọc bốn câu thơ trêu ghẹo :

     Nàng ở đâu ta bán chiếu gon

     Chẳng hay chiếu ấy hết hay còn

     Xuân xanh chừng độ bao nhiêu tuổi ?

     Đã có chồng chưa, được mấy con ?

Không ngờ người con gái bán chiếu cũng có tài thơ phú, cô ta đã đọc bốn câu thơ đáp rằng :

     Thiếp ở Tây hồ bán chiếu gon

     Ví sao người hỏi hết hay còn

     Xuân xanh vừa độ trăng tròn lẻ

     Chồng còn chưa có nói chi con

Vì câu thơ trả lời đó, Nguyễn Trãi cảm mến tài sắc, nhờ người mai mối hỏi làm thiếp, bắt đầu câu chuyện tình bi tráng dưới thời vua Lê, đến nỗi mang tiếng thí nghịch, bị tru di ba họ Nguyễn ở Nhị Khê, mãi cho đến thời vua Lê Thánh Tông mới đươc giải oan và Lê Thánh Tông đã viết câu thơ minh oan cho ông : “ ức trai tâm thượng quang Khuê tảo ”


- Câu chuyện về thơ Hồ Xuân Hương:


Hồ Xuân Hương có một lần thăm chùa Trấn Quốc, gập mấy anh khoá sinh cũng đi thăm chùa. Các khoá sinh đã đọc thơ trêu ghẹo, bực mính Hồ Xuân Hương liền quay kại, đọc cho các khoá sinh nghe bài thơ Nôm :

     Khéo khéo đi đâu lũ ngẩn ngơ

     Lại đây cho chị dạy bài thơ

     Ong non ngứa nọc châm hoa rữa

     Dê cỏn buồn sừng húc giậu thưa

Nghe thơ, các thầy khoá biết là gập phải “bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương” nên ngượng nghịu bảo nhau lủi đi nơi khác.

Những câu chuyện văn nghệ dân gian thu lượm tại Yên Phụ kể trên, trừ phần ca dao còn phần lớn đã được ghi chép, và in trong “giai thoại văn nghệ dân gian Việt Nam”, nhưng tôn trọng những lưu trữ của nhân dân nên ngưởi kể ra sao tôi đều ghi chép cho đúng với lời kể.


- Những di tích khác:


Yên Phụ có nhiều di tích trong đó nổi danh là chùa Trấn Quốc, đây là ngôi chùa mà hưng phế qua nhiều năm, nếu không có các văn bi ghi lại, thì người đời nay khó mà biết được lịch sử của chùa. Vì thế để tìm hiểu chùa Trấn Quốc, tôi tìm đọc “Tuyển tập văn bia Hà Nội” Được biết:

+ Văn bia Trấn Bắc tự bi ghi rằng: “Chùa Trấn Quốc trên hồ Tây là ngôi chùa cổ thuộc phường Yên Hoa huyện Vĩnh Thuận tức là huyện Quảng Đức ngày xưa. Chùa này đầu tiên dựng ở bãi sông Hồng, đến đời Hoằng Định (1601-1019) mới dời vào đây.Từ niên hiệu Vĩnh Tộ (1619-1628) mới dời vào đây, từ đấy về sau ngày càng sửa sang thêm, thành ngôi chùa lớn nổi tiếng ở đô thành. Hành cung các triều vua cũ đặt ở đây.Trải qua cuộc biến đổi đời Tây Sơn, ngôi chùa dần dần hoang phế, đã không tu sửa được, đổ nát lại đổ nát thêm...Nhà sư trụ trì là Khoan Nhân, nối nghiệp sư tổ tu tạo quả phúc hợp sức hưng công, số tiền chi phí đến hàng trăm hàng nghìn...Trước hết làm nhà thờ Phật, nhà thắp hương, nhà tiền đường cả thảy ba toà, sau đó làm hai hành lang, gác chuông, hậu đường cả thảy bốn nếp. Nói chung đều cao lớn hơn trước, đồng thời đắp tượng Phật và đúc chuông lớn. Tháng giêng năm Quý Dậu khởi công đến tháng Ba năm ất Hợi hoàn thành (1813-1815).

+ Theo truyền thuyết của làng Yên phụ thì trước đây từ đình làng ra chùa có một con đường để hàng năm dân rước hội. Nhưng do lâu ngày không có người quản lý, nên sóng Hồ Tây đánh lở, nên không còn đường cũ ra chùa. Cũng vì bờ sông lở đất nên năm Hoằng Định đời vua Lê Kính Tông (1616) mới chuyển vào Hồ Tây trên đảo Cá Vàng.

Sách “Hà Nội danh lam cổ tự” trong mục chùa Trấn Quốc cho biết thêm: “Thời Lý, khu vực này nằm trong Hoàng thành thuộc phủ ứng thiên. Đến đời Trần, năm 1230 triều đình chia lại đất kinh đô thành 61 phường, khu vực đảo Cá Vàng thuộc phường Yên Hoa. Chùa có nhiều tên gọi khác nhau như Khai Quốc, An Quốc, Trấn Quốc và Trấn Bắc (Năm 1842,vua Thiệu Trị ra Bắc, ban tiền sửa chữa chùa và đổi tên chùa là Trấn Bắc)”. Trong chùa có nhiều pho tượng đẹp, nhất là pho Thích Ca nhập Niết bàn bằng gỗ thếp vàng. Chùa Trấn Quốc là nơi dừng chân, hành đạo của những danh tăng, tổ đức thuộc nhiều thiền phái trong các kỳ lịch sử. Đến nay, chùa có 14 đời hoà thượng đã trụ trì tại chùa. Tại 2 cột trụ trước chính điện, có đôi câu đối chữ Nôm viết rằng:

Trải bao phen gió á mưa Âu trơ đá vững đồng chót vót cột trời chùa Trấn Bắc

Riêng một thú hoa Đàm đuốc Tuệ sớm chuông chiều trống thênh thang cửa Phật cảnh Hồ Tây.

+ Trước sân chính điện chùa hiện có cây bồ đề nhỏ tách nhánh từ cây Tổ nơi đức Phật Thích Ca ngồi tu thành đạo, do tổng thống R.Pờrasat đã mang từ ấn độ sang trồng tại chùa vào năm 1959. Nhiều danh sỹ đã đến chùa tả cảnh đẹp khắc vào 14 tấm bia hiên có trong chùa. Bài minh trên bia “Trấn Quốc tự bi” viết rằng:

     Phường gọi An Hoa

     Chùa tên Trấn Quốc

     Ngưu chử mênh mông

     Phượng sơn cao ngất...


Tại bia “Tái tạo Trấn Bắc tự bi”viết rằng:

     Cầu ngang Linh ẩn

     Chuông dội Hàn Sơn

     Trước mặt mỏ phượng

     Sau lưng uốn rồng...

     Sóng gợn trong vắt

     Mặt nước Tây Hồ

     Ngàn đoá hoa sen

     Đua nhau đua nở ...

     Ta khắc bài minh

     Cùng truyền muôn thuở

Với bề dày lịch sử như vậy nên chùa Trấn Quốc đã trở thành nơi quốc tự, và đã được xếp hang di tích cấp quốc gia từ ngày 30-9-1989


* Các di tích khác:


- Đền Cẩu nhi:

Trước đây đất Yên Phụ rộng thì đền Cẩu nhi nằm trong hồ Trúc Bạch thuộc về địa giới của phường Yên Phụ . Đền này gắn với sự tích Lý Thái Tổ: Ngài sinh năm Tuất (978) dời đô về Thăng Long năm Tuất (1010), khi đã yên vị, Lý Thái Tổ lập đền thờ Chó Mẹ ở Núi Nùng ,lại lập đền thờ Chó Con ở gò đất phía Tây kinh thành để trừ ma tà ám ảnh kinh đô. Vế sau, do sự tiến bộ của xã hội, tục thờ chó phai nhạt, thành ra đền Cẩu nhi thành ngôi đền thờ thuỷ thần và Tam phủ thánh mẫu. Về lý lịch của đền Cẩu Nhi, GS-TS Kiều thu Hoạch đã viết: “Bên cạnh huyền sử Lý Công Uẩn, chúng ta còn có lai lịch đền Cẩu nhi qua sách Tây Hồ chí. Sách này cho biết miếu thờ thần Cẩu Nhi vốn nằm ở góc Tây Bắc hồ trên bến Ngọc Trai. Nơi đây đời Trần vẫn gọi là bến Thần Cẩu, đến thời Hậu Lê phần hồ này mới gọi theo tên thôn là Trúc Bạch là hồ Trúc Bạch. Sách cũng ghi rằng khi Lý Công Uẩn còn cở châu Bắc giang, tại chùa ứng Thiên tâm trên núi Ba tiêu (chuối tiêu) bấy giờ có một con chó trắng đang có mang, bỗng bơi qua sông Nhĩ Hà lên núi Khán Sơn mà ở, sau nó đẻ ra một con chó con. Đến năm Canh Tuất khi vua Lý Thái Tổ dời đô thì cả hai mẹ con nhà chó đều biến mất. Chuyện đến tai nhà vua, vua phán đó là Chó Thần đấy, rồi hạ chiếu xây đền Chó Mẹ trên núi Khán, đồng thời xây đền Chó Con trong hồ để thờ cúng, nay đền vẫn còn thuộc địa phận thôn Trúc Yên. Cũng theo ghi chép của Tây Hồ chí thì từ đời Trần đến đời Lê đền Cẩu mẫu vẫn còn ở phía Tây Băc hoàng thành Thăng Long, vua Lê Thánh Tông vẫn thường đến thăm đền này trên núi Khán, thời Hậu Lê khoảng năm Vĩnh Tộ đời vua Lê Thần Tông nhân kèo cột cuả đền Cẩu Mẫu đã hư hỏng, nhân đó người ta làm ngôi chùa trên nền cũ của đền này và gọi là chùa Khán Sơn, núi Khán và chùa Khán đến thời điểm tác phẩm Tây hồ chí ra đời vẫn còn”.

+ Về huyền thoại chó xung quanh vua sáng nghiệp nhà Lý lập kinh đô ở Thăng Long thì có ba tài liệu liên quan đến huyền thoại chó , GS-TS Kiều thu Hoạch dẫn thần tích “Ngọc phả cổ lục” xã Tam tảo tổng Ân phú huyện Yên Phong tỉnh Bắc Giang cho biêt rõ bà mẹ Lý Công Uẩn là Phạm Thị Trinh, đến làm việc tại chùa Tiêu Sơn, đêm nằm mơ thấy Thần Chó đá rồi có mang mà sinh ra Công Uẩn.

+ Tài liệu Viêt sử diễn âm một sách Nôm khuyết danh được soạn khoảng thế kỷ XVI, sau khi kể về họ Lý, có đoạn viết:

     Lại nghiệm chó cái lội sông

     Bơi ứng Thiên tự mà sang Long thành

     Cắn lau làm tổ mới hoà

     Sinh con thấy có hiện hình lạ song

     Nên chữ thiên tử đòng đòng

     Thái Tổ gẫm được trong lòng mừng thay

+ Tài liệu Thiên Nam ngữ lục, một cuốn sử ca bằng chữ Nôm cũng là tác phẩm khuyết danh nhưng viết đồ sộ hơn tuy có nhiều tình tiết khác với hai tài liệu trên, nhưng vẫn có câu chuyện về chó mẹ vào lót ổ nằm đẻ con dưới ban thờ trong chùa Long Thành nơi hoà thượng Lý Khánh Văn trụ trì:

     Thấy liền có sự lạ sao

     Dưới tĩnh muông vào đẻ được một con

     Phau phau trắng tựa bột non

     Chữ Tuất thiên tử lưng còn chẳng sai

+ Ngoài ba tài liệu trên trong các sách chính sử như Việt Sử lược và Đại Việt sử ký toàn thư đều có ghi chép lai lịch của Lý công Uẩn liên quan đến chó, trong phong tục người Việt thường chọn nơi làm nhà trên đất cho đẻ con vì tin rằng “đất chó đẻ la đất quý” (tục truyền khi vua Thục định đóng đô tại đất Uy nỗ nhưng đàn chó của vua lại kéo nhau sang bên Cổ Loa làm ổ. Do vậy, nhà vua mới đóng đô ở Cổ Loa)

+ 3478Dẫn theo sách “Văn học dân gian người Việt - góc nhìn thể loại” của Kiều Thu Hoạch do Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam xuất bản năm 2006. Tất cả những biến chứng lịch sử và huyền sử về Con Chó đã bị một số người do không hiểu về giá trị lịch sử của đền nên tại thời điểm 1976-1977 theo đề xuất của một cơ sở kinh doanh ăn uống, lãnh đạo quận Ba Đình đã cho phá đền Cẩu Nhi để xây tại đó một điểm ăn uống, . Bị các nhà sử học phản đối nên đến năm 1988 đã xây lại một ngôi nhà phương đình, trong nhà dựng bia khắc chữ kể sự tích Cẩu Nhi và Lý Thái Tổ dời đô theo sách Tây Hồ chí. Nay đền Cẩu Nhi thuộc về địa giới phường Trúc Bạch, nhưng người Yên Phụ vẫn nhớ ngày hội là ngày 25-8-ÂL

- Miếu Hai Cô:

Miếu Hai Cô hiện nay ở vị trí số 159 phố Yên Phụ, vị thần được thờ tại Miếu có các sự tích khác nhau:

+ Đây là nơi thờ Hai bà công chúa Tây Tạng chết trôi trên sông Hồng, về qua Yên Phụ được dân vớt lên mai táng và lập đền thờ.

+ Đây là nơi thờ hai công chúa nhà Lý - con vua Lý Nhân Tông - đi truyền ngắm sen trên Hồ Tây, chẳng may gặp giông tố lật thuyền ở gần bến Yên Hoa, vua Lý cho vớt lên mai táng và lập đền thờ.

+ Đây là nơi thờ hai người con gái họ Đoàn người làng Yên Hoa đi hái sen để dâng hành cung của chúa Trịnh bị gió to làm đắm thuyền, nên bị chết đuối, dân làng cho rằng người chết trẻ thì thiêng nên lập đền thờ. Đầu những năm 80 của thế kỷ XX phải di dời nghĩa trang làng Yên Phụ, đã phát hiên ngôi mộ song táng hai người con gái họ Đoàn. Họ Đoàn trong làng Yên Phụ đã xác nhận là mộ hai bà Cô Tổ và dời lên Yên Kỳ. (Trước khi di dời nghĩa trang Yên Phụ vị trí của hai ngôi mộ này gần miếu Hai Cô)

- Cung An Thọ:

Thời Trần Thánh Tông,hoàng hậu Minh Đức đã sinh ra hoàng tử Linh Lang, đến thời vua Trần Nhân Tông, hoàng tử có công đánh giặc Nguyên, nên được nhà vua phong là Dâm Đàm đại vương, khi hoàng tử nhập diệt, vua phong làm thành hoàng thờ tại đình Nhật Chiêu và Yên Phụ, lại cho xây miếu An Thọ để thờ bà Minh Đức đền ơn sinh thành, có công sinh ra Thánh Uy Đô Linh Lang. Về sau, đền còn phối thờ Tam toà Thánh Mẫu và Ngũ vị tôn ông.

- Đền Nghĩa Dũng:

Đền hiện nay ở số nhà 46 đường Thanh Niên thờ tứ vị Hông Nương cùng thần tích thờ như tại đền Cờn Nghệ An, đền Thần Phù Thanh Hoá và đền Ninh Sở Hà Tây. Theo thần tích Thái hậu Thục Phi và ba vị công chúa cuối đời Tống, đi thuyền chạy quân Nguyên vượt qua biên giới hải phận sang Đại Việt. Khi nghe tin quân Nguyên đã đánh tan quân Tống thì mọi người đều gieo mình xuống biển tự vẫn, đó là ngày 12 tháng Sáu. Xác trôi về Hoan Châu được dân vớt lên lập đền thờ ở của biển Thần Phù và Cửa Cồn. Sau này các vua Trần Anh Tông (1311) vua Lê Thánh Tông đem quân đi đánh phương Nam khi thuyền đi qua đều có kêu cầu nên rất ưng nghiệm. Tín ngưỡng thờ Tứ vị Hồng Nương thường được dân sông nươc tôn thờ, tại bến sông Yên Phụ ngày xưa thuyền buôn qua lại nhiều, họ cũng lập đền thờ Tứ vị Hồng Nương để cầu sự bình an khi sóng to gió lớn. Trong đền còn lưu được 3 sắc phong thần của các triều Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức và đôi câu đối cổ khắc trên cột trụ cửa đền :

     Trần, Lê lưỡng đại cầu danh tướng

     Kim cổ đồng nhân kính ngưỡng từ

- Đền - chùa Thiên Ân:

Trước đây dân Yên Phụ xây chùa, sau nhà sư trụ trì chết, dân cử người trông nom, tại đây lập thêm đền thờ Phật Bà Quan Âm, vua cha Bát Hải Động Đình. Dân hàng phố đến lễ đền đông hơn nơi khác, lễ chính của đền vào ngày 22 tháng Tám hàng năm.

Ngoài các di tích kể trên, tại bãi An Dương có Miếu Cây Đa thờ thổ thần do dân Ngũ Xã khi di dân đến làm việc. Dân Bồng Lai, Bá Dương khi di dân đến lập nghiệp cũng lập Miếu thờ thổ thần, gọi là Miếu Cây Bàng.

- Các di tích mới xây:

Trong Ba mươi năm chiên đấu, làng Yên Phụ cũng như mọi làng khác đều trải qua nhiều sự hy sinh lớn lao, vì thế nơi nào cũng dựng bia căm thù, bia ghi công liêt sĩ và Nhà Văn hoá Truyền thống để giáo dục con em. Tại Yên phụ có:

+ Nhà bia căm thù đặt tai An Dương tưởng niệm 153 người bị bom Mỹ do máy bay B52 ném xuống giết hại vào đêm 21-12-1972.

+ Nhà tưởng niệm liệt sĩ đặt trong khuôn viên Đinh Yên Phụ có đôi câu đối:

     Tổ quốc lâm nguy quên cả đời dân đi cứu nước

     Non sông bền vững hướng về cố quận nẻo chân mây

và đôi câu đối bên tấm bia ghi danh:

     Yên phụ danh thơm bao liệt sĩ

     Tây hồ hiển hách những chiến công.

+ Nhà văn hoá xây tại An Dương.


+ Về vấn đề giáo dục và y tế


Trong làng Yên Phụ trước năm 1945 và ngày nay: Đây là một vấn đề mà ít người còn nhớ, nên tôi đã lần tìm qua nhiều cụ và chắp nối lại để tìm ra câu trả lời: Thời kỳ học chữ Nho, làngYên Phụ có cụ Đồ Mít vừa dạy học vừa chữa bệnh, trước đó làng Yên Phụ có cụ đồ nho Ngô Đăng Điền, cụ đã đỗ cử nhân nhưng không ra làm quan mà ở nhà dạy học, khi có phong trào Cần Vương cụ tham gia Cần Vương. Vợ cụ cũng là một bậc nữ nhi anh hùng quyết chí cùng chồng khôi phục giang sơn.Việc không thành, các cụ bị thực dân đàn áp rồi bị dạt đi đâu, người làng không rõ.

+ Đến thời học chữ quốc ngữ, người làng dùng tảo mạc đình Yên Phụ làm nơi dạy chữ. Ngoài trường học ở đình Yên Phụ còn có trường tiểu học tư thục của ông Đoàn Văn Giai (thường gọi là ông Hai Giai) học trò xóm Giữa trong làng Yên Phụ đều học tại đây. Các cụ còn cho biết ở Yên Phụ có trường tiểu học tư thục Đào Thành do hai thày Nguyễn Văn Quý và Nguyễn Văn Phúc mở. Khi Kháng chiến toàn quốc 1946 hai thầy đều ra chiến khu, sau này nghe tin thầy Quý làm cán bộ lãnh đạo ở khu tự trị Tây Bắc.

+ Khi Nhà nước mở trường Tiểu học Yên Phụ là nơi trước năm 1945 nhà văn Tô Hoài đi học, sau năm 1954 giải phóng Thủ Đô đổi tên trường là Trường PTCS Mạc Đĩnh Chi, có vợ chồng nhà giáo Đỗ Văn Thanh đều là hai vị giáo viên giỏi. Ông bà là thân sinh của Đỗ Nguyên Phương, sau này trở thành Bộ trưởng Bộ Y Tế của nước CHXHCN Việt Nam (ông Đỗ Nguyên Phương chết 2008).

+ Dân Yên Phụ có nhiều người học tới học vị cao như Ngô Đăng Nhận tiến sĩ vật lý, tiến sĩ y khoa Quách Văn Thìn, có ông làm TGĐ ngành Bảo Hiểm, ông làm TGĐ ngành In đều là người làng Yên phụ. Theo chỉ dẫn của mọi người, tôi vào trong làng tìm ông Quách Tá nguyên là giáo viên bơi lội của trường Thể Thao 10-10, hỏi ông về cái nôi bơi lội của thành phố Hà Nội, ông cho biết: “Yên Phụ là nơi cung cấp nhiều kiện tướng bơi lội đẳng cấp quốc gia”, trước năm giải phóng thủ đô có kiện tướng Đặng Hông Nhân, Hoàng Bái, Thọ Ve, sau ngày giải phóng có Quách Cương vô địch bơi vượt sông Hồng. Năm 1958 có Quách Biên, Ngô Lệ Hồng, Phạm Thị Phú, Quách Hoài Nam là những vận động viên đã từng dự GANEFO, vận đông viên Đỗ Huy Long đang giữ kỷ lục bơi SEGAME

+ Theo ông Quách Tá kể thì làng Yên Phụ cũng có một nữ tiến sĩ Văn hoá nghệ thuật đó là Đoàn Tình, NSƯT tuồng cổ.

+ Như vậy là qua mấy ngày tìm hiểu tại làng Yên Phụ, hỏi các vị cố lão, các vị giáo sư tại địa phương và tra cứu tài liệu, tôi đã có it nhiều hiểu được về lang Yên Phụ cổ xưa. Xin tạm dừng tại đây và xin cảm ơn các cụ Đặng Quang Uẩn, Quách Tá đã giảng giải nhiều điều về địa phương.

+ Tài liệu tham khảo: Văn học dân gian người Việt của Kiều Thu Hoạch, Lễ Hội Thăng Long của nhóm Lê Trung Vũ, Tuyển tập văn bia Hà Nội.



Nơi ấy xưa là Tàm tang trại


Trời nắng 360. Mà trần gian chỗ nào cũng bêtông thì đúng là chảo lửa. Tôi dừng xe ở đầu làng Nghi Tàm để nhìn xuống Sen Vàng. Trời ơi! Những tháp đi cốt các Tăng Ni đang chìm trong nước và chung quanh là bin đinh, là biệt thự của Ta và của cả Tây.

     Thưa những vị cao tăng trong tháp cổ

     Chung quanh Kim Liên không thấy Sen Vàng.

     Chỉ có nhà cao trăm cửa sổ

     Và nhiều tháp đặt trên mầu ngói đỏ.

     Tháp tròn, tháp nhọn như mũ đinh.

Nghi Tàm đó, một thời được công chúa Từ Hoa, công chúa Quỳnh Hoa chọn làm đất trồng hoa, trồng dâu nuôi tằm. Cả hai vị đều được dân làng tôn là bà chúa nghề Tầm Tang của phường Nghi Tàm xưa.

Có ai còn nhớ bài thơ Bến Trúc Nghi Tàm chép trong “ Tây Hồ Bát Cảnh” của một thi sỹ đời Hậu Lê. Bến trúc là luỹ tre quanh làng trông xa như một dặng trúc chân chôn trong nước, thân ôm lấy làng Nghi Tàm, phô lên thân màu vàng óng, cái màu vàng ấy chỉ khi nào “nắng quái chiều hôm” đứng từ xa bến Sài Võng, hoặc lênh đênh trên mặt nước mà nhìn về mới thấy biết bao gợi nhớ, cảm hoài.

Nghi Tàm đó, nghề dệt qua đi, lại đến nghề trồng hoa, cây cảnh. Mà không biết từ thủa nào người ta cấm chữ Hoa (vì kiêng tên huý Thành Hoàng làng) để gọi là Bông. Sách Tây Hồ chí giải thích về Hoa điền tức là đất trồng hoa của Nghi Tàm như sau: “ Thời cổ, các ấp dọc theo hồ đều làm nghề trồng hoa: Quảng Bá, Tây Hồ, Nghi Tàm, Yên Phụ, Võng Thị đều có hoa bán”

Trong bài phú “Tụng Tây Hồ phú” của Nguyễn Huy Lượng lại nhắc đến một làng Nghi Tàm đánh cá:

     Lưới Nghi Tàm ngăn ngọn nước quanh co

thế mà Nghi Tàm đến những năm đầu thế kỷ XX lại là một làng Cây cảnh, làng đánh cá với những chiếc thuyền gỗ lênh đênh trên Hồ Tây, tiếng gõ vào mạn thuyền thanh thanh vẳng trên mặt nước, dồn cá về ngọn nước quanh co.Về Nghi Tàm, gặp lão nghệ nhân Lê Quyết Bội - 60 năm tuổi Đảng đã từng làm Chủ tịch Hội Cây Cảnh Hà Nội - năm nay cụ đã 86 tuổi, nhưng dáng đi, dáng đứng còn chắc khoẻ, với một trí nhớ tốt, cụ như một pho Bách khoa hỏi đâu biết đấy, kể về những ngày làng Nghi Tàm làm cây cảnh: “Làng tôi vốn là một làng hoa, làng cảnh, tôi đi bộ đội đến năm 1956 thì giải ngũ, tôi chuyển sang làm ngạch Dân sự, nhưng thuở ấy kinh tế khó khăn lắm. Đã bắt đầu vào Hợp Tác Xã Nông Nghiệp , đã bắt đầu ngăn sông cấm chợ, làm điều gì cũng là phạm vào tiêu chí HTX. Năm 1958 tôi sinh con, khổ quá, cái áo mặc vá chồng lên nhau, hàng phân phối thì tranh nhau, không có đồng tiền nào mà lo việc gia đình. Tôi đã tranh thủ thời gian, làm cây cảnh theo vốn nghề của làng. Hàng ngày từ 3 gìơ sáng, tôi trở dậy cuốc đất, ươm cây, ươm hoa. Ông bí thư Đảng ủy xã cho rằng chơi cây cảnh là thói quen tư sản, nhưng tôi không ngại, dù là Đảng viên nhưng tôi vẫn cứ làm, vừa để cứu thân, vừa để cứu nghề.

Lúc bấy giờ khẩu hiệu của xã là “Phá hàng rào gai - Cài hàng rào sắn - trồng thêm khoai ụ”, thế là làng tôi thông suốt nhà nọ sang nhà kia không có hàng rào, tha hồ mà đi. Nhưng một năm trông chờ, sắn không có củ, khoai cũng không có củ. Còn tôi thì cứ làm cây, những năm sau này tôi đặt vấn đề với Huyện ủy, với Thành uỷ rằng: “Tôi giồng cây hoa, cây cảnh làm cái chỗ tham quan cho bè bạn đến thăm Việt Nam. Thế là các anh ấy nghe ra, khuyến khích tôi trồng cây. Năm đầu tôi giồng cây cảnh, chỉ có 500m2 thôi, nhưng mà khách nước ngoài đến thăm đông lắm” , Ban Đối Ngoại đều lấy vườn hoa nhà tôi để làm chỗ cho khách xem hoa, xem cây thế.

Tôi làm cây cảnh được, bà con trong làng cũng theo tôi mà làm cây cảnh. Thành ra thời chống Mỹ, bom đạn là thế mà cây Nghi Tàm vẫn đẹp, hoa Nghi Tàm vẫn ngời sắc hương.

Năm 1987, tôi đề nghị với ông Lê Văn Lương cho mở triển lãm Hoa Cây Cảnh ở công viên Thống Nhất. Anh có biết không, hàng vạn người đã đến xem hoa, xem cảnh. Chen nhau mà vào, vì từ xưa tới nay ta có bày cây cảnh cho dân xem bao giờ. Nhân cơ hội này, tôi đề nghị với lãnh đạo cho chính thức phát triển nghề hoa - cây cảnh. Năm 1990 tôi được phong nghệ nhân đầu tiên của ngành hoa - cây cảnh Hà Nội. Sau khi có pháp lệnh về nhà ở, làng tôi cũng có nhiều người bán đất, làm nhà tầng. Có một cuộc họp mà Hội nghị bàn về bảo vệ làng cổ, tôi có dự và đọc tham luận. Họp xong, ông Nguyễn Ngọc Trừu hỏi tôi: “Làng cổ Nghi Tàm mất đi ông có tiếc không” tôi đáp: “ Một làng cổ Nghi Tàm mất đi sẽ có 10 làng Nghi Tàm khác mọc lên”, mà quả thật bây giờ anh cứ về Tây Tựu, sang Đông Anh mà xem câycảnh đã có ở khắp nơi rồi.

Cụ nghệ nhân già cười, mà nghe như đâu đó, một thời làng Hoa đang về với Đất Nước, dù rằng, bây giờ Nghi Tàm đã là làng du lịch rồi.

Nghi Tàm đó, một thời huyền thoại. Khi gió mùa đông bắc về, chập chờn theo gió là những cánh chim Sâm cầm. Chúng bay từ dãy núi Trường Bạch bên Cao Ly, khi đến Hồ Tây thì cả đàn hạ cánh. Chúng vô tư bơi lặn, có con chui vào đám sen, có con chui vào đám bèo nhật bản để tìm mồi.

Đó là một loại chim họ gà nước, có chân cao, giữa các ngón chân có màng để bơi lội mỗi ngón có 3 ngón tách chia, nên bơi cũng giỏi mà chạy cũng giỏi.

Có đi về Nghi Tàm, gặp các cụ bô lão như cụ Lê Quyết Bội, cụ Nguyễn Đức Lưu mới hiểu một chút ngón nghề của người xưa khi bắt sâm cầm.

Người làm nghề đánh bắt sâm cầm mắc mồi châu chấu cào cào, chuồn chuồn, tôm tép vào lưỡi câu rồi buộc vào một “cái vè”. “Cái vè” để nấp dưới đám rong, Sâm cầm gặp mồi ngon nuốt ngay muốn bay lên cũng không được nữa.

Nghe tin làng có nghề đánh bắt chim quý, Triều đình định lệ phải cống nạp. Từ năm Tự Đức thứ 17 lệ tiến cống gây bao nỗi khổ cho dân làng mãi đến năm Tự Đức thứ 23, do ông Lý Râu lãnh đạo đấu tranh chống lại, lệ cống tiến chim Sâm cầm mới bãi bỏ.

Câu chuyện này được người già kể lại như sau: Để có chim tiến vua, cả làng Nghi Tàm phải lo đủ việc họ chia nhau từng toàn mang lưới đi đánh bắt chim, nếu toán nào không bắt được chim thì phải dùng tiền mua chim nơi khác thay thế vì thời hạn đã sắp hết. Có được chim đủ số, họ phải lo đút lót ba tòa quan lớn Tổng đốc tỉnh, quan Bố chính, quan An sát là chim đủ tiêu chuẩn tiến vua, nếu không đủ thì bị loại, bị tội khi quân, cả làng Nghi Tàm đều phải chịu. Việc cống sâm cầm khó khăn như thế nên làng Nghi Tàm không có ai dám đứng ra nhận chức lý trưởng. Đến năm 1874 ông Nguyễn Danh Khang tức Trắm vè xin làm chức lý trưởng để có dịp trừ hại cho dân. Bằng cá tính gan lỳ chịu đòn, ông đã lọt qua các dinh Tổng đốc, Bố chính, đến dinh án sát khi bị lính canh dở thủ đoạn ngầm bẻ gãy chân chim để vu cho dân làng Nghi Tàm, ông Lý Khang đã cùng nhân dân đập đầu hô hoán, việc đến tai vua, ngài liền hạ chỉ bãi miễn lệ cống nộp chim Sâm cầm. Giữa ngày 25-tháng chạp, dân làng kéo nhau đón ông lý trở về. Từ đó, ông Khang được thêm một biệt danh đó là ông Lý Râu.

Lan man về chuyện Nghi Tàm, tôi hỏi cụ Lê Quyết Bội về các vị văn sỹ thời xưa. Cụ lấy gia phả chậm rãi chỉ cho tôi biết:

Đời thứ 9 của dòng họ có cụ Nguyễn Quý Lý. Cụ là thân sinh bà Nguyễn Thị Hinh. Bà Hinh hay chữ, nổi tiếng. Câu chuyện bà lấy Lưu Nguyên Ôn (người Nguyệt áng) cũng được ghi vào gia phả.

Bố của Lưu Nguyên Ôn có công việc phải đi Tuyên Quang trấn nhậm. Nghe tin cụ Nguyễn Quý Lý dạy giỏi, ông ta đến, nằn nì xin gửi con theo học. Cậu trai Lưu Nguyên Ôn được ở nhà thầy, hàng ngày đua tài đua sức trên ghế nhà trường với bạn bè và với cả cô Hinh. Mà cô Hinh thuộc bộ Hương (thơm ngát) đâu phải cô Hinh thuộc bộ Kim, nên tài năng văn học của con gái thầy ngày càng làm chàng trai Nguyệt áng cảm phục. Sau này chàng trai Lưu Nguyên Ôn thi đỗ tiến sĩ, ông tri phủ họ Lưu xin cô Hinh về làm vợ tiến sĩ Lưu Nguyên Ôn. Khi Lưu Nguyên Ôn được bổ đi tri Huyện Thanh Quan, bà Huyện đi theo chồng, từ đó tạo nên một giai thoại văn học về tài thơ văn của bà.

Thơ văn của Bà Huyện Thanh Quan có nhiều, riêng đối với Hà Nội, có một bài thơ làm xao động lòng người:

Tạo hoá gây chi cuộc hý trường

Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương

Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo

Nền cũ lâu đài bóng tịch dương

Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt

Nước còn cau mặt với tang thương

Ngàn năm gương cũ soi kim cổ

Cảnh đấy người đây luống đoạn trường.


* Thần tích các vị thần được thờ tại Nghi Tàm


Theo sách “Tây hồ chí” chép truyện “Vũ Trung, Lỗ Quốc nhị công truyện ” ghi rằng : Cha Vũ Trung là Vũ Hoằng người động Lâm âp làng Long Đỗ theo nghiệp nho y, tổ tiên ba đời làm quan triều Hùng. Mẹ là Trần Thị Thuận người trang Tiên Hội động Kim Thành, từ lúc trẻ,Vũ Hoằng đến ở quê vợ, kết bạn với Lỗ Việt người trang Nhuận Tuấn. Họ Vũ canh tác trên đất của bạn. Ngày kia, đào cổ mộ được vàng và một biển đồng khắc chữ Dương thành Quách Phong Thủy chi mộ. Vũ nói vơi Lỗ Việt, hai người bán vàng lập miếu thờ họ Quách ở làng Tiên Hội. Không bao lâu,Vũ nằm mơ thấy thần cho huyệt đất tốt, liên cung với Lỗ hai nhà để chung một huyệt .

Về sau,Võ Hoằng sinh con là Võ Trung, Lỗ Việt sinh ra Lỗ Quốc. Hai người lớn lên là tướng thời vua Thục, đã giúp vua Thục đánh tan quân giặc ở nhiều nơi. Đến khi nhà Triệu từ quận Tầm Dương vượt biên quấy nhiễu, hai ông đánh thắng nhiều trận, khi vua Triệu cầu hôn, hai ông đều dâng sớ can ngăn, vua không nghe, hai ông bèn từ quan. Khi họ Triệu từ Vũ Ninh khởi hấn, vua thua chạy, hai ông khởi binh theo sau đánh úp quân Triệu, nhưng sức đã tàn nên không cứu được vua. Quốc Công ứng khẩu đọc bài thơ rằng:

     Lỗ sơn nhân hề Lỗ sơn nhân

     Sinh vi dũng tướng tử vi thần

     Sơn hà tuy hủ anh hùng cốt

     Danh tính trường lưu vạn cổ tân

Dịch là:

     Người Lỗ sơn hề dân Lỗ thôn

     Sống làm tướng mạnh chết làm thần

     Non sông dẫu nát anh hùng cốt

     Tên tuổi muôn năm sử vẫn còn


Đọc xong bài thơ, Lỗ công liền thác, đó là ngày tám tháng tám năm thứ bốn mươi chín nhà Thục. Vũ Trung lập miếu thờ Lỗ Quốc rồi nhảy xuống đầm mà hóa, từ đấy về sau, lịch đại đế vương đều tôn sùng.

Vua Lý Thánh Tông phong các vị Vũ Trung Lỗ Quốc (hai vị hậu thân của Động Đình và Khiết Minh) là thượng đẳng thần. Các triều vua sau đều xuân thu tế lễ, lại chuẩn cho làng Nghi Tàm ăn trưởng, có đến 128 ấp lập miếu thờ.

- Theo bản “Hoàn Long Nghi Tàm phường thần tích” do tiến sĩ Cung Khắc Lược sưu tầm và phiên dịch năm 1995 thì tại đình Nghi Tàm thờ các vị thần như sau : + Ba vị thuỷ thần có tên là:


     Minh triết Dực thánh thần

     Triều đình Phù quốc thần

     Bảo Trung cường đoán thần


+ Ba vị thần này được triều đình phong tặng “thượng đẳng tối linh thần”. Ngoài các vị thuỷ thần, đình làng Nghi Tàm còn thờ các vị: Lỗ Quốc thái sư, Quỳnh Hoa đoan trang công chúa và An Dương triều đình cương nghị đại vương. Các vị có tiểu sử như sau:

- Thần tích Lỗ quốc thái sư:

Từ cổ xưa truyền lại ngài thuộc họ Sĩ người nước Lỗ. Gia thế theo nghiệp Nho, ngài rời Bắc quốc sang nước Nam vào thời nhà Hán, đời vua Bình Đế. Ngài đến ấp này làm nhà cư trú và dạy học ở đây, ngài truyền daỵ rèn giũa được nhiều sĩ tử giỏi giang. Đến khi Hai Bà Trưng khởi nghĩa thì Ngài trở về Bắc quốc. Vào khoảng giữa thời vua Hán Linh Đế và Hiến Đế có kẻ sĩ là Phủ quân qua đây dừng xe, vì thấy đền miếu đang tu sửa, Phủ quân cảm lích mà dâng đôi câu đối:

     Du du thiên cổ chân dung tại

     Bỉnh bỉnh tam thời chính đạo minh

dịch là:

     Vời vợi ngàn năm chân dung vẫn còn đó

     Rạng rỡ ba thời chính đạo mãi quang minh


Phủ quân lại dâng thêm một đôi câu đói nữa:

     Thất diệp lưu quang bằng hậu trạch

     Nhất phương tĩnh trấn ngưỡng dư linh

dịch là:

     Bẩy đời truyền sáng nhờ ơn hậu

     Một cõi yên bình trọng đức linh


Từ đó về sau nơi di tích linh thiêng này ngày càng hiển ứng. Các triều đại đều tôn sùng, bao phong Ngài là Lỗ Quốc thái sư. Ngài được thờ phụng cùng với các vị đại vương trong bản phường. Các ngài luôn luôn âm thầm phù hộ che chở cho con cháu muôn đời thịnh vượng.

-** Quỳnh Hoa Đoan Trang công chúa

Bà là một vị thần mà xưa kia tương truyền rằng: Vào thời nhà Trần, niên hiệu Thiên Hựu có công chúa Liễu Hạnh vốn là tiên nữ trên trời bị giáng xuống trần gian. Tiên nữ đầu thai làm con nhà ông bà họ Lê ở thôn An Thái xã Vân Cát huyện Thiên Bản. Ông bà đặt tên là Ngọc Quỳnh, sau đó cho làm con nuôi nhà họ Trần. Khi hoá, công chúa hiển linh, trước hết được phong là Mã Hoàng công chúa, sau nữa lại đổi phong là Liễu Hạnh công chúa, sau nữa lại gia phong Chế thắng Hoà diệu đại vương. Vào những năm đầu thời Lê Trung Hưng, ông Lưỡng quốc trạng nguyên Phùng Khắc Khoan người làng Phùng Xá huyện Thạch Thất, thường hay cùng bạn hữu dạo chơi cành Tây hồ. Công chúa Liễu Hạnh bèn hiện hình lên cùng trạng nguyên họ Phùng ngâm vịnh thơ phú, việc đó được ghi chép trong truyện “Vân cát thần nữ”, trong những bài ca đó có câu: “Nhất đại sơn nhân ngọc quỳnh hoa”. Nếu chiết tự thì nhất đại là chữ thiên; sơn nhân là chữ tiên; ngọc quỳnh hoa là hoa quỳnh, hợp lại đó là Tiên thiên Quỳnh Hoa đó là danh hiệu do Thần tự đặt. Ngày nay đền Vân Cát thờ ba bà công chúa, tương truyền rằng bà Đệ Nhất là Liễu Hạnh công chúa, bà Đệ nhị là Quỳnh Hoa công chúa và bà Đệ tam là Quế Hoa công chúa. Các triều đại đều bao phong các bà là Tối linh Thượng đẳng thần.

- An Dương Triều Đình Cương Nghị đại vương:

Căn cứ vào bản truyện của Đỗ Thiện thì danh hiệu của vị thần này là Nhạc Lỗ, một danh tướng của vua Thục An Dương Vương. Vào thời nhà Đường Cao Biền sau khi dẹp yên quân Nam Chiếu trở về miền Vũ Ninh đêm mơ thấy một người kỳ dị thân cao 9 thước hiện lên bảo cho biết rằng: “Ta là Nhạc Lỗ, trước đây từng giúp An Dương Vương đánh giặc lập công. Sau khi ta mất, nhà vua thương tiếc ta có lòng trung ban cho ta một giải non sông làm Quản lãnh Đô thống tướng quân, chủ tể các việc đánh dẹp giặc đến cướp nước Nam và giúp việc mùa màng trồng cấy. Nay ngươi đã đánh được giặc, đất nước thái bình, vậy mà ngươi không đến làm lễ cáo tạ ơn ta, như thế là vô lễ đó. ”

Vừa nói xong thì biến mất. Cao Biền chợt tỉnh vội vàng đem sự việc nói cho liêu tá biết, rồi mừng mà ngâm thơ rằng:


     Mỹ hỹ Giao châu địa      dịch là      : Đẹp thay đất Giao châu

     Du du vạn cổ lai                          Nghìn muôn năm dài lâu

     Tiền hiền hân dắc kiến               Mừng được gập thánh hiền thuở trước

     Chung bất phụ linh đài :             Ngài linh thiêng tôi không dám phụ


Sau đó Biền lập đền ở núi Vũ Ninh để thờ thần Nhạc Lỗ. Đến thời nhà Lý, thần được gia phong là “Cương Nghị đại vương” càng về sau, thần ngày càng anh linh hiển ứng. Đến thời vua Trần Nhân Tông khoảng năm Trùng Hưng, thần nhiều lần âm phù giúp việc đuổi giặc ngoại xâm, khiến cho nhà vua hai lần đánh thắng quân Nguyên. Do vậy mới lập đền thờ gần cửa kinh thành, để tiện việc cầu đảo, Vua Trần gia tặng thần bôn chữ báu là An Dương Triều Đình để ghi nhớ công đức của Thần. Từ đó về sau này mới trở thành thần hiệu “An Dương Triều Đình Cương nghị đại vương” cho đến ngày nay nơi đây hương lửa phụng thờ, lễ nghi huyết thực đã trải muôn nghìn linh thiêng bất hủ.

Triều vua Tự đức năm thứ 32 (1879) phụng sao chính bản


Bản thần tích này do tiến sĩ Cung khắc Lược - Viện nghiên cứu Hán Nôm - sưu tầm, phiên âm dịch nghĩa và chú khảo vào tháng trọng thu năm ất Hợi (1995)

+ Ông Cung Khắc Lược khi sưu tầm và phiên dịch Bản thần tích đã để tâm sức chú khảo những điển tích trong văn bản và cho biết: Vào thời gian 1995, thôn Nghi Tàm thuộc về xã Quảng An huyện Từ Liêm thành phố Ha Nội. Thôn này cùng hai thôn Quảng Bá và Tây Hồ làm thành 1 xã trong bán đảo Hồ Tây thuộc ven bờ phía đông của Hồ. Trước năm 1942 Nghi Tàm là một trong ba xã thuộc tổng Thượng huyện Hoàn Long tỉnh Hà Đông. Sau đó cả 3 xã nhập vào Đại Lý đặc biệt Hà Nội,

Trong kháng chiến chống Pháp (1946-1954), Quảng Bá và Nhật Tân lập thành xã Nhật Tân. Sau năm 1955, lại trở về 3 xã cũ thuộc quận Quảng Bá ngoại thành Hà Nội. Nghi Tàm vốn là trại Tằm Tang từ thời Lý, nghề trồng dâu chăn tằm rất thịnh đạt. Vua Lý Thần Tông (1128-1138) lập cung Từ Hoa cho công chúa Từ Hoa ra đây ở để đi sâu vào nghề dâu tằm của dân trại.

Thời Trần (1225-1540) đổi gọi là phường Nghi Tàm, ở đây ngoài nghề trồng dâu nuôi tằm dệt lụa còn có nhiều ngành nghề khác như nghề bẫy chim sâm cầm khi tiết trời giá lạnh, nghề trồng hoa và cây cảnh cũng là một nghề cổ truyền, trong đó quất nghi tàm là đặc sản sản quý trong ngày Tết mà dân kinh thành thường ưa chuộng. Nghi Tàm có chùa Kim Liên xây dựng ngay trên đát cung Từ Hoa cũ, tính đến nay có độ dày lịch sử đã mấy trăm năm. Thời Trần gọi là chùa Đống Long, sang thời Lê - Trịnh đổi tên là chùa Đại Bi. Chúa Trịnh Sâm (1760-1782) cho sửa sang lại và mở rộng với quy mô và phong cách nghệ thuật như hiện nay và đổi tên là chùa Kim Liên, tạo nên dáng chùa như một bông sen vàng nở trên mặt nước Hồ Tây. Theo “Đại bi tự bi ký” dựng năm Thái Hòa nguyên niên (1443) thì “chùa được xây dựng vào thời Lê Nhân Tông và có tên là Đại Bi ...”, “trùng tu năm Dương Hòa thứ ba dưới triều vua Lê Nhân Tông . Năm Cảnh Hưng thứ 32 chúa Trịnh Sâm cho sửa chữa lại và đổi tên là Kim Liên” Kiến trúc chùa Kim liên còn lại đến ngày nay là kiến trúc thời Tây Sơn. Chùa kiến trúc theo lối chữ ‘tam’ giống như chùa Tây Sơn, cả ba nếp chùa đều xây hai tầng tám mái chồng lên nhau. Chùa thượng và chùa hạ đều ghi niên hiệu Tây Sơn, độc đáo nhất là tam quan chùa một công trình khác hẳn các chùa trong nước. Trong chùa có 47 pho tượng, trong đó 35 pho là tượng Phật. Đáng chú ý ở chùa Thượng có tượng hai vị công chúa đặt trong hai khám. Khám lớn có tượng công chúa Từ Hoa, bà mặc áo trắng, còn bà công chúa mặc áo hoa đỏ là công chúa Quỳnh Hoa đặt trong khám nhỏ hơn. Cả hai bà đều được dân làng tôn thờ là Tổ nghề tơ tằm.

Tôi đã đến đình Nghi Tàm để quan sát và ngắm cảnh: Bây giờ đình Nghi Tàm đã lui sâu vào trong, mấy miếng đất chung quanh đều xây nhà cao tầng, nếu không có tấm biển chỉ đường, khách phương xa khó mà tìm thấy. Ngôi đình cổ có năm gian đại bái và hậu cung, lợp ngói ta, hàng cột hiên sơn nâu bóng, là công đức của nhân dân Nghi Tàm trùng tu năm 1991. Phía góc sân đình là hàng bia cổ gồm 4 tấm, đó là bia lập năm Cảnh Hưng thứ bốn mươi mốt của giáp Kỳ viên phường Nghi Tàm, bia lập năm Chính Hoà thứ 24, bia lập năm Vinh Hựu năm thứ 3 và bia lập năm Vĩnh Hựu thứ 2. Những tấm bia này đều là “Hậu thần bi ký” được tạo dựng từ đời Lê ghi nhớ công của những ông bà đã có lòng thiện, công dưc xây lại đền Nghi Tàm. Theo các cụ kể lại, những tấm bia đó mới vớt từ Hồ Tây lên, sau khi dân làng khôi phục ngôi đình (1991) Sau khi khôi phục ngôi đền, làng Nghi Tàm khôi phục hội làng. Hàng năm làng có hai kỳ hội: Ngày mồng một tháng giêng làm lễ xông đình và ngày 10 tháng Hai làm lễ rước kiệu Thánh ra chùa Đống Long (chùa Kim liên) rồi quay về đình Nghi Tàm, lễ hội thường tổ chức thi hoa, thi cây cảnh và thi chọi chim. Tôi đã đến dự hội chọi chim tổ chức tại sân đình, đó là một ngày vui nhưng không có tiếng hò hét. Từng đôi chim hoạ my đực có dáng “đầu xà - quy bối - nhỡn thiên thanh”. Sau khi người chủ rút thăm để áp cửa lồng vào nhau cho hai chú chim có thể bám vào nan lồng mà mổ rỉa nhau, trong khi đó con mái được nhốt riêng lồng vẫn đứng ngoài “xùy, xùy” cổ vũ cho đến khi có một con thua chạy vào trong lồng. Hội chọi chim đấu theo lệ vòng tròn một lượt, con nào thua thì ra, con thắng đánh tiếp với con khác, người ta chấm điểm bằng cach cải biên mặt vòng tròn đồng hồ thành số đo 10,20,30,40...đến 100 (thay cho 1 vòng phút ) Mỗi lần đạt 100 người chủ trò lại hô lên báo hiệu. Con chim chiến nào đấu với chim bạn có số đếm cao mà chiến thắng thì trở thành vô địch. Chim họa my khi đã chiến với nhau mà có con mái ở lồng bên xùy xùy cổ vũ thì đánh hăng lắm dù rách mắt toét đầu cũng không lui Người trong hội chơi thường có tính nhân văn, người ta thương con chim mái khi bạn tình đã bị thương tật, nó thường tìm mọi cách an ủi động viên để chim đực ăn uồng khỏe lại, nếu chẳng may con đực mà chết thì con mái cũng cắn lưỡi chêt theo lúc dó dù giải cao nhưng người chủ chim cũng buồn,.

Cụ Lê Quyết Bội còn kể thêm hồi năm 1925 trong hội vui, có tổ chức bơi chải giữa Giáp Thượng và Giáp Hạ

Bây giờ Nghi Tàm là một khu dân cư thuộc phường Quảng An, cụ Nguyễn Đức Lưu kể về các cụ đồ nho của dòng họ như sau:

+ Theo gia phả thì trong họ có cụ Nguyễn Lý sinh năm Hợi 1755. Cụ đã đỗ thủ khoa kỳ thi hương năm Cảnh Hưng thứ 44 (Quý Mão 1783) Cụ làm quan đóc học tỉnh Sơn Tây và tỉnh Hải Dương, cụ đã dạy nhiều người thành tài, khi cụ mất, các vị học trò quyên góp mua một cái vườn rộng 1 mẫu, một cái ao rộng 5 sào ở Nghi Tàm, họ lập khế ước, dựng bia đá đặt tai ruộng và ao để tặng lại gia đình con trai cụ làm nơi hương hoả thờ cụ. Sau này, khi CCRĐ người ta chia quả thực, không còn nữa. Khi xóa bỏ chữ Nho, làng Nghi Tàm không có trường học, con em trong làng muốn đi học phải sang học trường Đào Thành (Yên Phụ) hoặc sang học các trường Nội Châu (Tứ Liên). Tuy nhiên, đến nay làng có ông Ngô Quang Minh sinh năm 1959 ở Nghi Tàm đã học giỏi, bảo vệ thành công luận án tiến sĩ ngành điện tại Pháp, có những bậc cao học như Nguyễn Đức Lưu nguyên hiệu trưởng Trường cấp III Chu văn An. Ông trưởng ban phụ huynh học sinh cho biết: Sau khi vua Quang Trung chết, triều vua Quang Toản bị Gia Long bóp chết, các vị tiền bối dòng họ Ngô thời Nhậm ở Tả Thanh Oai đều chạy dạt lên miền Hồ Tây để trốn tránh. Tuy vậy, dòng họ này vẫn còn giữ được tính thông minh hiếu học. Các anh Ngô Quang Minh, Ngô Anh Vỹ con ông Ngô quang Thịnh đều là dòng dõi họ Ngô ở Tả Thanh Oai .

Theo ông Văn Hậu viết trong Lễ hội Thăng Long mô tả: “Hội làng có hai kỳ, trước hôm hội làng, mỗi tích đánh cá cử ra năm thuyền nan dự thi, thuyền dự thi được trao lá cờ thần, có trai đô đóng khố bơi chèo. Từ sân đình, nhịp trống dồn dập, tiếng hò reo của các em nhỏ vang trên mép nước”.

Làng Nghi Tàm xưa là một làng nghề, dân làm đủ việc từ đánh cá Hồ Tây, nuôi cá cảnh, chăn tằm dệt lụa, nay đo thị hóa, tên làng mất đi, làng cũ thành “ngõ 1 đường Âu Cơ” chính vì nỗi đau đó mà các già làng đã khuyến khích con cháu xây lại cổng làng để phân biệt làng Nghi Tàm với một con đường nhỏ chạy ven đê Yên Phụ mang tên Nghi Tàm !

Mùa đông năm Mậu Tý, bước sang năm 2009, tôi đến Nghi Tàm thăm cụ Lê Quyết Bội (vì nghe tin cụ mệt) có lẽ cảm cái tình yêu làng hoa của tôi mà cụ kể thêm nhiều chuyện về làng nghề, cụ nói: “Nghi tàm từ xưa đã nổi tiếng là làng trồng hoa cây cảnh, ngày trước làng chỉ trồng các loại hoa, sau mới chơi cây thế bằng các loại cây trắc bách diệp, tùng, bách, si, đa, trồng quất là nghề nổi tiếng của Nghi Tàm, sau đó các làng Quảng Bá, Tứ Liên học nghề. Trồng quất có cái khó là “đảo quất”. Quy trình được quy định: khi cây đã lớn, từ tháng tư đến tháng sáu âm lịch người ta đào gốc lên để một vài ngày rôi lại trồng xuống đất, sau một thời gian ngắn thì cây đó ra hoa, (khoa học giải thích việc này là kích thích sinh trưởng của cây) Tháng tư đảo gốc thì tháng năm ra hoa. Thường là dảo gốc vào tháng Năm là tốt nhất, khi hoa rụng, để cho cây tập trung nuôi quả con, chủ vườn phải kiểm tra vườn liên tục vào các buổi sáng, cắt tỉa lộc non, khi cây có quả bằng hạt ngô, mới bắt đầu tưới phân, sau khi quả lớn thì chăm sóc bình thường. Bây giờ đi trong “làng Tây” Nghi tàm mà buồn nhớ một thuở “làng hoa ” Nghi Tàm, tiếng cụ Bội đều đều đọc cho tôi nghe những đoạn văn mà các nhà báo Lê mạnh Tuấn, Mai Thục, Nhật Lệ, Ngọc Giao…Đã viết về hoa và người Nghi Tàm Cụ đưa tặng tôi tập lưu chiểu tập hợp những bài báo của các báo Nhân dân, Phụ nữ thủ đô, Hà nội mới, Văn hóa văn nghệ và các báo khác đã viết về nghệ nhân và làng Nghi Tàm. Những dòng tâm huyết đó nay chỉ còn là một áng văn, Nghi Tàm đã nhà nhà xây cao, chỉ còn riêng một vườn cây cảnh của cụ Lê là đứng vững với thời gian, chỉ vì “cái thú chơi cây cảnh đã là đạo của đời người, là lời truyền từ cụ nội sang ông, nên ông không thể bỏ được”

+ Bây giờ nuôi cá cảnh ở Nghi Tàm cũng là một nghề vất vả không kém gì trồng dâu nuôi tầm, cũng phải thức khuya dậy sớm lo tìm thức ăn xem chừng cá đẻ và chăm sóc cá con mới nở. Thức ăn của cá cảnh khi mới nở là thủy tức thân mềm hình tròn có hai râu thường sống ở nơi ao tù nước đọng, Dân địa phương ngoại thành thường gập cảnh sáng sáng những người nuôi cá đi xe, cầm vợt, đến ao làng rồi chịu rét lội nước để vớt thủy trần, khi nhà xây lấp dần các ao thì phải kiếm giun, mua thức ăn chế biến cho cá ăn. Người có kinh nghiệm nuôi cá thường biết chọn cá, ghép đôi để cho chúng đẻ trứng, rồi chuyển sang chăm sóc. Một làng nghề vang bóng một thời, một đời người vinh danh vì nghề tổ, đến nay họ cũng như nhành cúc chi hoa trắng, thứ cây có đặc điểm “diệp bất ly thân, hoa vô lạc địa” (lá dù úa không rời thân cây, hoa dù tàn không rơi xuống đất) vẫn sống mãi với đất quê. Chia tay, cụ ngắt một nhánh cúc chi đưa tặng tôi để “mong anh giữ mãi giống hoa quý này của làng quê’’, tôi là một kẻ hậu sinh lạc vào làng hoa, gặp được người hiểu biết kể lại câu chuyện làng hoa, dù it hay nhiều cũng là đáng quý, làm sao tôi dám quên ơn.

(trích tư liệu từ “ thần tích Nghi tàm do tiến sĩ Cung khắc Lược sưu tầm và phiên dịch, tư liệu của cụ Lê quyết Bội, cụ Nguyễn đức Lưu và nhà báo Ngọc Phúc”...)


... CÒN TIẾP ...



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 14.6.2017.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004