Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới







MỘT CHÚT SÀI GÒN










Tháng tám – Sài Gòn vắng gió

Heo may lao trời

Mưa ướt phố này – Nắng vàng phố khác

Mùa thu trốn vào tuổi

Nhộn nhịp đời vui

Tất bật lòng mình

Phạm Dạ Thủy


QUÊ MẸ Ở TRONG LÒNG


Tôi đã gặp ở nước ngoài những người bạn Việt Nam (VN) đang sống đời du học sinh với ước mơ một tương lai tươi sáng. Họ phải vừa học, vừa làm thêm giữa một cộng đồng rất ít người Việt. Hàng ngày, họ nói tiếng nói không phải tiếng Việt, ăn cơm không phải cơm Việt, hòa nhập vào một cộng đồng mới mong tìm một chỗ đứng, nhưng những con mắt xung quanh vẫn không thể chấp nhận họ như một người thuộc về cộng đồng, vẫn không thể không nhìn nhận họ như một người nước ngoài. Giữa những cái nhìn xa lạ, giữa những “ghẻ lạnh” vô hình đó, cái gì sẽ giúp họ bớt cô đơn, bớt lạc lõng, cái gì sẽ giúp họ tiếp tục ngẩng cao đầu mà bước? Chẳng gì khác là một sự xác lập và ý thức rõ về căn tính cá nhân và căn tính dân tộc mình. Họ trở về trong những căn gác trọ đêm đêm với một câu vọng cổ buồn cất lên từ một miền ký ức thăm thẳm nào đó của tuổi thơ. Họ gắng tìm mua cho được cái bánh chưng để ăn quấy quả trong ngày Tết. Họ bày mâm cúng giao thừa với đủ nghi thức, hoa quả, trầm hương trong đêm trừ tịch. Họ nấu một bát phở, một tô bún hò Huế với đủ hương vị của quê nhà… Những thứ họ chưa từng một lần làm khi ở VN, giờ đây họ lại có nhu cầu thực hiện chúng để thấy mình hiện hữu, để thấy yên tâm vì mình cũng có một nơi để thuộc về. Khoan hãy nói họ sẽ làm được gì cho quê hương, chính những khoảnh khắc đó, chính quê hương, dân tộc đã nâng đỡ họ có thể tiếp tục con đường của mình.

Tôi đã gặp những người Việt rời quê hương du học từ những thập niên 1960 – 1970 với ước mong sẽ về phụng sự đất nước. Nhưng, thời cuộc đã vĩnh viễn khép lại giấc mơ của đời họ. Họ phải ở lại xứ người, tạo dựng cuộc đời mới với những giấc mơ mới. Nhưng, thẳm sâu trong họ giấc mơ về một quê hương cất cánh vẫn cháy âm ỉ. Tôi gặp họ giữa xứ người, họ trò chuyện với tôi bằng một thứ tiếng Việt rất xưa, rất đẹp, của nhiều thập niên trước. Họ kể cho tôi về những ấp ủ thời trai trẻ của họ, về những con đường, những ngôi trường, những hàng cây của Sài Gòn thuở họ cất bước ra đi, và họ nói về giấc mơ Việt Nam mà họ đã và đang thực hiện cho quê hương dù ở cách xa vạn dặm. Họ nghĩ về dân tộc như nghĩ về chính bản thân mình. Họ hiểu dân tộc mình một cách tường tận, vì thế họ biết mình phải làm gì cho đất nước. Tôi tự hỏi, đa số họ đều lìa Tổ Quốc khi mười tám đôi mươi, phần thời gian họ sống ở nước ngoài nhiều hơn ở quê hương, cái gì đã neo giữ họ lâu như vậy với cội nguồn? Qua lời của họ, tôi biết chính những bài học từ thuở vỡ lòng đến hết trung học của một nền giáo dục minh định các giá trị và bản sắc của dân tộc đã thấm sâu vào họ, cho họ một bản lĩnh, một căn tính vững chắc của cá nhân và cộng đồng để những tháng năm ngược xuôi nơi xứ người, họ vẫn luôn có một quê hương tinh thần nuôi dưỡng và yểm trợ.

Khi mà nền giáo dục đại học trong nước vẫn còn nhiều bất cập, khát vọng được thụ hưởng một nền giáo dục tốt hơn là một khát vọng chính đáng. Tôi yêu những bầu trời rộng lớn mà học trò tôi đang muốn lượn bay. Các em giỏi giang và đầy nhiệt huyết, các em sẽ bay rất cao, rất xa. Tôi chỉ lo cho những lạc lõng, những bất định, những hư vô mà các em sẽ vấp phải khi lượn bay trên những bầu trời xa lạ mà không xác định rõ căn tính của mình. Tôi mong trong ba lô hành trang lên đường của các em, ngoài những tri thức của nhân loại, hãy để phần nền tảng lớn nhất cho những giá trị, những căn tính, những tình tự của dân tộc, của quê hương, của gia đình, nền tảng đó sẽ nâng đỡ và chấp cánh cho các em nơi xứ người.

Phương Từ (blog văn minh 07/01/2011)


NHỚ TẾT


Khu chợ nhỏ má tôi ngồi bán gọi là chợ Ga vì gần ga xe lửa Phú Nhuận. Đây là một ga xép, mỗi lần xe lửa đến đều dừng chỉ trong thời gian ngắn. Từ ga xe lửa đi dọc đường ray mới đến chợ. Má bán kim chỉ, xà bông cục, thun lưng quần và nhiều thứ khác. Trước năm 1975, hàng hóa từ các siêu thị và các cửa hàng PX về nhiều, má bán chạy lắm, con cái được may sắm, được mua đồ chơi nhiều. Sau đó cuộc sống khó khăn, má không rời cái sạp nhỏ xíu này. Hàng hóa lúc đó là nút, chỉ, vải thô mua từ các đợt phân phối nhu yếu phẩm, được người ta bán ra để mua gạo. Má bán lây lất vậy mà nuôi cả nhà. Lúc đó ba tôi thất nghiệp sau khi người chủ ở chợ Bến Thành bị “đánh” tư sản thương nghiệp. Đang làm ra tiền, ông hoàn toàn không kiếm ra đồng nào. Ông bị trầm cảm nhẹ một thời gian, thường ôm đầu ngồi ngẫm nghĩ, im lặng trong bóng tối trong những buổi tối cúp điện cuối năm 1978. Rồi sau đó ông chợt tỉnh, bắt đầu lao vào tu sửa căn nhà cũ kỹ. Ông kiếm gỗ tạp đóng kệ sách, khi tôi bắt đầu cắc củm từng xu mua sách vỉa hè lúc đó rất rẻ. Khi được Nhà nước phân phối khoai mì, khoai lang hay gạo, ông ngồi lột vỏ mì, nhặt bông cỏ trong gạo. Ông vào bếp nấu cơm buổi trưa cho đám con đi học về ăn, việc ông chưa bao giờ làm trước đó.

Sau này lớn lên, tôi kính trọng cách ứng xử của ba má tôi trong khoảng thời gian này. Má tôi cả đời chưa từng được đi chơi xa, chưa từng đòi hỏi chồng mua món nữ trang nào, chịu khó ra chợ kiếm đồng ra đồng vào để không là gánh nặng cho chồng. Chồng thất nghiệp, bà bám cái sạp để lo cho các con, đến nỗi mỗi năm nghỉ đúng một ngày là mùng một Tết. Suốt thời gian đó không bao giờ thấy bà cằn nhằn, trách cứ ba tôi bất cứ chuyện gì. Ba tôi bớt hút pipe vì lúc đó thuốc lá nhập không có, thuốc lá Gò Vấp mắc, Ông chỉ giữ chút xa xỉ là chai rượu Whisky để dành từ lâu, đợi ông bạn cố tri hàng xóm qua chơi là rót vào hai cái ly bé xíu mời cùng nhấp. Ông bình thản, ít nói hơn và làm nhiều hơn. Ông tự trọng, không muốn làm gánh nặng cho vợ.

Trưa giao thừa cúng rước ông bà xong, cả nhà ăn bữa cơm sum họp gia đình với bánh tráng cuốn thịt kho nước dừa, củ kiệu ngâm giấm, thịt vịt hầm, khổ qua … Xong bữa cơm, má tôi dọn dẹp rồi ngồi xuống ghế nhấp tách trà, tay trái đỡ lấy cái đĩa. Ba tôi rút pipe nhồi thuốc Gò Vấp hút. Ba nhớ về con sông Đồng Nai ở quê hương cù lao Phố? Má nhớ về con sông Sài Gòn phía cầu Ông Lãnh? Tôi không chắc, nhưng qua gương mặt, tôi tin ba má đang cảm thấy điều gì đó, tựa như một thứ hạnh phúc nhẹ nhàng của những con người an nhiên, tựa vào nhau vượt qua khó khăn, biết giữ niềm vui cho nhau.

Đó là cái Tết cuối cùng của thời mới lớn của tôi, năm 1978. Tôi bước vào đời sau đó với những nhọc nhằn, băn khoăn và âm ỉ những giấc mơ. Đường đời tôi có lúc nhẹ tênh, có lúc lầm lũi khó khăn nhưng không bao giờ nản lòng, luôn chờ lúc tươi sáng. Khi lòng chùng, tôi nhìn bức tranh Tết cũ kỹ năm nào, còn rõ những dáng người đi xuống bến sông. Tôi như thấy bóng hình ba má tôi sau làn khói, giờ là khói nhang trên bàn thờ, đang mỉm cười từ cái Tết năm ấy.

Công Luận (blog muaxuan 20.1.2010)


TÂN ĐỊNH


Tân Định là “một thời huy hoàng” trong nhịp sống của người Sài Gòn ngày cũ. Một Sài Gòn không chen lấn, xô bồ, dù ở đó không còn giới hạn ngày và đêm. Nó được mệnh danh là “khu nhà giàu” với những căn nhà thoáng, rộng. Những con đường vắng vẻ, ít bị xe cộ ồn ào làm phiền.

Hồi ấy, thanh niên xuất thân từ Tân Định bao giờ cũng cảm thấy tự hào. Không phải kiểu tự hào “nhà giàu”, mà chính là hãnh diện về cái phong cách sang trọng.

Có thể cả Sài Gòn cũng chẳng ai biết có một người của năm cũ ngồi lặng lẽ ở một sân cà phê nhỏ trên đường Trần Quang Khải. Đó chính là Cafe Văn Hoa mà ông cùng bạn bè đã ngồi suốt những tháng năm tuổi trẻ. Bây giờ, quán đã đổi tên, nước uống đã pha vị công nghiệp, nhưng ông vẫn muốn ngồi đó, chỉ để sống lại cái không gian xưa, mà nhiều khi, ngồi để dõi theo những đổi thay nào đã đi qua nó.

Mấy chục năm trước, ai muốn mua những gì “Tây nhất”, “mốt nhất” thì qua Tân Định. Cà phê hương vị Pháp như Jean Martin, Meilleur Gour thì vẫn phải là đây, một minh chứng cho sự sành điệu của những chàng trai hào hoa.

Nguyên dọc đường Hiền Vương (nay là Võ Thị Sáu) khúc Tân Định là những cửa hiệu làm tóc. Tất cả những kiểu đầu mới nhất, thời thượng nhất được “ra lò” từ xứ này. Cũng như muốn tìm những cửa hàng thời trang độc đáo và lịch lãm nhất cũng phải là Tân Định. Ông bảo, nếu muốn ngắm phụ nữ đẹp thì mỗi chiều cứ đến khu Tân Định. Các cô đến đây chọn váy áo, làm tóc, uống cà phê và lang thang trên vỉa hè khuôn viên khu vực nhà thờ Tân Định…

Và ông cũng giữ một bóng hình đặc biệt của mình trong chiều tan lễ năm xưa. Nhưng rồi qua bao bể dâu thăng trầm thời cuộc, ông xa xứ. Người ấy ở lại, giờ cũng đã cháu con đề huề. Căn nhà của người ấy cũng ở khu Tân Định này, nằm trong một con hẻm vắng trên đường Nguyễn Hữu Cầu.

Tân Định là nơi vẫn còn giữ lại những phong cách, những nếp sinh hoạt cũ của người Sài Gòn dù bao năm tháng đi qua. Trong mắt những người đi xa như người đàn ông trên, có thể nhiều thứ đã biến thiên, không còn vẹn nguyên trong ký ức.

Chợ Tân Định sau mấy chục năm vẫn là “chợ nhà giàu”. Từ tất cả các mặt hàng đến thực phẩm, giá bao giờ cũng cao hơn những nơi khác vì những tiểu thương luôn lấy “hàng tuyển”. Nhưng đó là phía trước chợ. Nếu đi ra phía sau, vẫn là một khu bình dân với nhiều chủng loại hàng.

Dù giá không cao như phía trước nhưng khu phía sau lại phục vụ cho sự “sành ăn” của cư dân Tân Định như mấy chục năm qua. Ở đó, có những gian hàng chỉ bán những loại thực phẩm từ sông, từ đồng. Hay những hàng rau chỉ bán các loại rau sạch.

Dọc theo hai con đường Nguyễn Hữu Cầu và Hai Bà Trưng, bên hông nhà thờ Tân Định vẫn là những cửa hàng áo dài nổi tiếng. Mấy chục năm trước, nữ tú Sài Gòn muốn có một tà áo dài đẹp nhất, cách điệu nhất thì đến Tân Định.

Tìm về Tân Định cũng là tìm về với hương thuốc Bắc của một người bốc thuốc gia truyền từ thời Pháp, hiện phát triển thành một cửa hiệu bề thế ngay góc đường Lý Chính Thắng; hay hương giò chả Phú Hương, với vị đặc trưng mà người Bắc cũng mê người Nam cũng đắm, vẫn được “nhân bản” và đang là đặc sản của khu Tân Định hiện nay.

Khu Tân Định vẫn còn bóng dáng của nhiều ngôi nhà cũ mà ở đó các chủ nhân muốn giữ lại vẻ đẹp của kiến trúc Sài Gòn những năm 60 thế kỷ trước như nhà của người đàn ông Văn khoa một thuở. Đó là những khu biệt thự vẫn còn nguyên hình hài, nền gạch, ô cửa, cổng sắt và hàng rào thép gai. Những căn nhà không quan tâm lắm đến những “gió mưa” bên ngoài, đến những cập nhật xu hướng bên ngoài. Chúng im lìm nằm đấy ôm trong mình những thứ di sản của chính nó, trong hành trình song hành với thời gian.

Hà Nguyên Vũ (blog Namviet 9.9.2007)


NHÌN TỪ MỘT PHÍA


Sài Gòn là miền đất lạ kỳ. Nó kỳ lạ đến mức nhiều người chẳng biết viết gì nói gì về nó cho thỏa đáng. Nó khiến cho người ta nhớ nó khi đang ở trong lòng nó, và người ta thương nó bằng một thứ tình cảm mơ hồ nhưng mãnh liệt, như một kiểu tình nghĩa khác, tương tự tình quê hương.

Tôi đến Sài Gòn lần đầu tiên năm 1991, trên một chiếc xe cấp cứu. Không phải xe chở tôi, nó chở một người bệnh viêm màng não từ Quảng Ngãi vào Chợ Rẫy, tôi xin quá giang. Tôi nhớ, khi anh tài xế lần đầu tới Sài Gòn đã đi nhầm đường một chiều và bị hàng loạt xe gắn máy suýt đụng phải. Tôi nhớ mình đã tháo cái nhẫn hai chỉ vàng trên tay để nhét vô giày vì nghe nói cướp ở Sài Gòn sẵn sàng chặt tay ai đó chỉ để cướp một chỉ vàng.

Ngày đó, điều nhận thấy đầu tiên của tôi là Sài Gòn quá lớn và quá đông. Tới bây giờ, tôi vẫn thấy Sài Gòn quá lớn và quá đông người – Sài Gòn lớn, từ ruộng đồng Hóc Môn ra đến biển Cần Giờ, từ vườn cây Thủ Đức mút đến miệt Bình Chánh xa xôi. Sài Gòn đông. Ngoài đường, trong chợ, trong hàng quán đều ngùn ngụt người. Từ khu Chợ Lớn đầy người Hoa đến khu Dân Sinh muốn kiếm cái gì cũng có. Từ những đường phố tấp nập người xe đến những ngôi chợ bán buôn thâu đêm suốt sáng. Đâu đâu cũng đầy người, càng ngày càng đông. Người ta bảo rằng, hơn phân nửa số người bạn gặp ở Sài Gòn không phải là người Sài Gòn chính gốc, như tôi chẳng hạn.

Ở Sài Gòn có một thứ không khí quánh đặc bởi bụi, khói, bởi mùi mồ hôi, mùi đồ ăn, bởi tiếng xe, tiếng người, bởi muôn ngàn thanh âm mà một khi đã quen hít thở nó, bạn sẽ không bao giờ quên được. Ở Sài Gòn thỉnh thoảng có người chạy theo bạn ngoài đường chỉ để nhắc bạn nhớ gạt chân chống xe hoặc coi chừng rớt cái ví lòi ở túi quần sau.

(Hà Phú, blog văn hóa – ĐT 9/4/2008)


CỔ TÍCH XE LỬA


Thống đốc Nam Kỳ tích cực khởi động các chương trình xây dựng cơ sở hành chánh và hạ tầng ở Sài Gòn, trong đó có việc xây dựng các tuyến đường xe lửa Sài Gòn – Chợ Lớn, Sài Gòn – Mỹ Tho.

Đường “xe lửa Mỹ” được giao cho Công ty Société Générale des tramways à vapeur de Cochinchine (SGTVC) đảm nhiệm từ ngày 20/12/1880. Công ty có trụ sở ở Bến Chương Dương. Hãng xưởng, nơi chứa đầu máy và toa tàu của công ty, nằm kế ga Sài Gòn. Đường “xe lửa Mỹ” được khởi công năm 1881, khánh thành ngày 20/7/1885. Trạm xe lửa Sài Gòn, tức ga Sài Gòn đầu tiên, có vị trí ở đầu đường Rue de Canton (Hàm nghi) gần sông Sài Gòn, đến năm 1965 thì dời đến ngay trung tâm, gần chợ Bến Thành ngày nay.

Đường “xe lửa Mỹ” đi qua các trạm như sau: Sài Gòn, Chợ Lớn, Phú Lâm, Bình Điền, Bình Chánh, Gò Đen, Bến Lức, Bình An, Tân An, Tân Hương, Tân Hiệp, Lương Phú, Trung Lương và Mỹ Tho, dài 70,9 Km. Từ Sài Gòn xuống Mỹ Tho có ba chuyến và ngược lại, mỗi chuyến mất hai tiếng. Chuyến đầu tiên 6 giờ 30 sáng khởi hành, đến Mỹ Tho lúc 8 giờ 30 sáng. Thật là tiện lợi vì lúc ấy từ Sài Gòn xuống các tỉnh miền Tây chỉ sử dụng đường thủy nên đường xe lửa này đã rút ngắn thời gian vận chuyển rất nhiều, thuận lợi cho giao thông buôn bán. Lúc đó, không chỉ có hạng bình dân đi xe lửa mà văn nhân, nhà báo, các đại gia cũng đi cho biết, với giá hạng nhứt là 4 đồng (piastre) hạng hai là 3 đồng (một piastre tương đương với 2 francs 75). Sau này có nhà thơ nhớ về kỷ niệm đường “xe lửa Mỹ” với bài thơ:

Anh học trò Bến Tranh về đô thị / Lo sách đèn xây đắp mộng mai sau / Chuyến xe lửa, chuyển mình xa xứ Mỹ / Qua Trung Lương – cô gái mận Hồng Đào / Toa chật hẹp làm ấm tình xứ sở / Bên cửa vuông mỗi đứa một khung trời / Rồi dạo đó hai người luôn gặp gỡ / Trai miệt vườn thương gái mận hồng tươi / Anh học trò đi về xe lửa Mỹ / Mộng đăng khoa liền với mộng trầu cau.

Đến năm 1958, đường xe lửa này ngưng hoạt động và ga Mỹ Tho chỉ còn “tàn tích” ở khu vực gần vườn hoa Lạc Hồng.

Không như nhiều người lầm tưởng, đường xe lửa Sài Gòn – Mỹ Tho không phải là đường xe lửa đầu tiên ở VN. Theo bài viết của ông Nguyễn Đức Hiệp thì đường xe lửa đầu tiên tại Đông Dương được khánh thành ngày 27/12/1881 nối liền Sài Gòn và Chợ Lớn, từ cột cờ Thủ Ngữ đến đường Gaudot (Hải Thượng Lãn Ông) dài 5 Km. Còn đường xe lửa giữa đi từ Sài Gòn đến Chợ Lớn mỗi 20 phút có một chuyến. Chuyến đầu tiên là 5 giờ 40 sáng và chuyến chót là 9 giờ 20 đêm. Các trạm là Sài Gòn, MacMahon (Nam Kỳ Khởi Nghĩa), Chợ Đũi và Chợ Lớn. Đường chạy chưa đến 6 Km nhưng phải đi hơn 30 phút mới đến nơi. Hồi đó má tôi thường nói đi từ Sài Gòn vô Chợ Lớn bằng đường xe lửa giữa tốn năm cắc bạc, vì lúc đó còn một đường xe lửa mé sông chạy từ chợ Bến Thành lên Lái Thiêu, chủ yếu là chở hàng hóa và trái cây. Phía trước và bên hông các toa xe điện xưa đều cho quảng cáo tiếng Việt, tiếng Pháp như: “thuốc xổ Nhành Mai”, hãng “hòm Tobia danh tiếng” và hương rượu “Camus”…

Lê Văn Nghĩa (saigòn 3/4/2012)


HÀNG RONG


Nhà tôi ở khu Bình Hưng, huyện Bình Chánh, Sài Gòn. Từ nhà ra chợ xã Bình Hưng hoặc ra chợ Nhị Thiên Đường chả xa lắm, nhưng thói lười của người thời nay khiến ta hơi ít vận động, nên mua bán tôi thường dựa vào đám hàng rong.

Hồi mấy năm trước, ngày nào cũng có cậu trai tầm đôi mươi đạp chiếc xe ba gác len lỏi vào các con đường khu nhà tôi. Hôm thì anh chàng bán chuối, hôm bí đao, hôm khoai, và nhiều loại trái cây củ quả khác. Giá cả phải chăng. Nhiều lần tôi mua bí đao ở siêu thị, đắt hơn bí của chàng ba gác. Bà xã tôi bảo, có nhiều món nên mua của gã hàng rong, để giúp đỡ giới nghèo. Lâu dần, nhà tôi và nhiều nhà lân cận thành khách quen của cu cậu ba gác … Một hôm tôi hỏi cu cậu, quê em ở đâu? Đáp, nhà cháu ở Trà Vinh. Hỏi, sao không ở nhà làm mà mò lên đây cho vất vả, dãi nắng dầm mưa? Trả lời, làm ăn khó quá, trồng lúa chả nuôi nổi người nên mấy anh em cháu lên thành phố mưu sinh, dành dụm tiền gửi về nuôi ba má. Lại hỏi, sao không kiếm việc gì khác, làm thợ chẳng hạn? Cười, chúng cháu đã mỏi miệng xin việc khắp nơi rồi, chả ai nhận, đành thuê nhà trọ và đi bán rong.

Tôi mời nó điếu thuốc, nó không hút, bảo cháu sợ nghiện, tốn tiền. Thấy tôi rủ rỉ, nó tâm sự, chúng cháu mà không đi bán rong thế này, có khi cùng quẫn có thể đi ăn cướp. Có đứa cùng lên đây với cháu đã đi cướp rồi đấy. Cháu không muốn thành tên cướp, cháu muốn sống đàng hoàng, sau này còn lấy vợ. Tôi bảo, mày là đứa tử tế, giời Phật sẽ phù hộ mày.

Nó cao to, đẹp trai. Nó bảo cháu ăn khỏe lắm, lúc nào cũng sợ ăn hết tiền dành dụm cho ba má. Cháu lấy chuối, lấy khoai, bí, trái cây … ở chợ sỉ, đem bán lẻ thế này cả ngày chỉ lời vài chục ngàn, bữa hên được trăm ngàn. Tôi đùa, mày cứ bán đắt hơn một tí cũng được, có sao đâu. Nó lắc đầu, cháu làm thế rồi còn ai mua, rồi chết đói. Cháu sợ nhất dân phòng, công an, mấy anh trật tự. Cháu bán rong, bán buôn theo kiểu … nghĩ cũng sợ, có bề gì chẳng biết dựa vào đâu.

Bẵng đi hơn năm, tôi không thấy nó. Nay chắc nó đã ngoài 20. Hay là nó về quê. Mà về rồi có sống được không. Anh em nó đứa nào phất lên, hay vẫn khổ cả chùm. Hay là nó bị bắt mất xe. Nghĩ nhanh, vu vơ, chỉ sợ nó đi ăn cướp. Nhưng rồi tôi vội xua ý nghĩ “tiêu cực” ấy ra khỏi đầu, người như nó chả thể thành cướp được, nếu ông Hoàn Cảnh không cố tình đẩy nó vào bước đường cùng.

(Nguyễn Thông, blog N.T 20/4/2013)


QUÊ XA


Sài Gòn những buổi chiều cuối năm thường ám ảnh tôi bằng những bàn chân cuống cuồng và những cái nhìn bịn rịn. Mảnh đất tụ hội mưu sinh lập nghiệp này, cứ Tết đến thì ai cũng vội vã quay về quê cũ, bỏ lại bao con đường thưa thớt, khác hẳn ngày thường. Khi những tờ báo Tết đã khoe hết sắc xuân lên sạp rồi, tôi mới hiểu thế nào là nổi trống trải của một người làm báo lúc không còn bị thông tin đeo bám. Lạ thật, lúc cái mới đang tới thì cứ nhớ nao nức cái cũ. Ngậm ngùi lắm nhưng cũng rộn ràng lắm, một phút giây hoai hoải gió phương Nam để nghĩ về chuyện chưa xa, người chưa quên. Dù đã nhiều năm chọn phương Nam lập nghiệp, tôi vẫn luôn tìm mọi cách để đón giao thừa trên mảnh đất miền Trung. Quê nhà có thân nhân lận đận áo cơm. Quê nhà có bạn bè chân thành vất vả. Quê nhà có giọng nói khó nghe luôn gần gũi với huyết quản tôi. Quê nhà có mối tình đầu đã mù khơi nhưng trăm đợt sóng vỗ bờ vẫn bỏ lại nôn nao biển đời mênh mông! Khi cành mai chớm nụ hoa vàng ngập ngừng hơi rét, trái tim tôi bay theo một cánh chim én phía quê nhà, như thực hiện lời hẹn hò cho bến đợi mùa xuân!

Hình như càng nhiều tuổi ta càng ít mong đến Tết. Cái khoảnh khắc năm tàn tháng tận thuở ngày xưa nôn nao hết mực, còn bây giờ lại nghe văng vắng hư ảo. Mang phận tha hương cầu thực, mỗi giao thừa giục chân tôi chộn rộn quay về quê cũ. Tết, cảnh chen chúc tàu xe đã e ngại, mà ám ảnh tuổi tác cũng dần đáng sợ hơn. Được hay thua, mất hay còn, lắm lúc làm tôi cuống cuồng giữa dòng người bất tận. Thế nhưng, những buổi chiều cuối năm, ngồi dưới mái ấm gia đình chợt nghe lòng nhẹ nhàng như nắng sớm vườn mai chớm nụ. Đây là cái xích đu lắc lư tuổi lên năm. Ngoài sân là cây mận leo trèo tuổi lên mười. Còn kia là chiếc xe đạp cút kít tuổi mười sáu cứ chạy tới chạy lui mà chưa bao giờ dám dừng lại trước cổng nhà bạn gái… Nhìn đâu cũng kỷ niệm, kỷ niệm ngổn ngang, kỷ niệm ngập tràn, vẫn không thể giúp tôi lý giải được kỷ niệm khiến mình già nua hay khiến mình bé dại. Dù có trách bản thân đa đoan thì nhớ thương cứ giăng mắc như lộc non nảy cành sau đợt rét dài. Phút giây bận bịu quá khứ thường làm ngày tất niên ngắn ngủi lại trong khao khát cuộc sống rộng lớn hơn.

Bất chợt nghe se lạnh một cơn gió thổi ngang tháng Chạp, biết mùa xuân đã về trên mảnh đất phương Nam quanh năm ngập tràn màu nắng. Giữa những bước chân vội vã lướt qua từng khoảnh khắc cuối năm, không hiểu sao tôi lại thường nghĩ đến cái Tết của những mảnh đời âm thầm và lặng lẽ. Nghĩ trong ngổn ngang rung động bỗng thấy lòng ấm áp sẻ chia. “Làm như ba ngày mùa để đâu cho hết, ăn như ba ngày Tết lấy gì mà ăn”, câu thành ngữ này hơn một lần thúc giục tôi suy nghĩ kỹ lưỡng về giá trị đồng tiền.

Những ngày cuối năm xao xác, bỗng nhớ hai câu thơ cũ: “có con én ngậm ngùi mùa xuân qua ngõ. Thương đến nhói lòng một tiếng chim rơi”. Thời gian chớp mắt, mười hai tháng trôi vèo rất nhanh. Chỉ cần nhìn lại từng khoảnh khắc 365 tờ lịch rời khỏi bức tường, thấy bao nhiêu gương mặt lạ quen vụt qua, thấy bao nhiêu nụ cười chưa tắt. Kẻ bôn ba đất khách càng thêm trĩu nặng, lúc trống vắng ngó chim én xôn xao những làn cánh mỏng chao xuống phố phương tất niên.

Nhiều lần, tôi tập ngồi lặng im trong buổi chiều chộn rộn tiếng còi xe đô thị, để thử lắng nghe âm thanh Tết, để thử cảm nhận mùi vị Tết. Vậy mà tất cả cứ nhòa đi như cuốn phim âm bản, chầm chậm tái hiện những hình ảnh cố hương. Cố hương phiên chợ nghèo ngày xưa, dáng mẹ đi vai gầy một miền ký ức. Cố hương dòng sông nắng hôm nào, bước em về áo trăng cõi chiêm bao. Cố hương con đường nhỏ ấu thơ, chân tôi xa vỉa hè lá chè xanh mượt cùng mơ ước. Có ai gọi tôi dưới chân tháp cổ, mà ngọn gió nhớ nhà lật tung những hoài niệm mong manh!

Lê Thiếu Nhơn (phuyenvn.com-23.12.2016)


SỞ THÚ


Nếu nhìn từ đường Lê Duẩn, chúng ta sẽ đối diện cổng chính của Thảo cầm viên Sài Gòn lúc nào cũng rợp mát dưới những tàn cây cổ thụ xanh um. Thảo cầm viên Sài Gòn còn là một địa chỉ đỏ trong danh sách của những nhà bảo tồn học với những động thực vật có tuổi thọ được xếp hàng thứ 8 trên thế giới.

Người Sài Gòn và các tỉnh miền Tây Nam Bộ thường quen miệng gọi Thảo cầm viên là “Sở thú”, ngày xưa người lớn thường dụ con nít rằng, nếu học giỏi, ngoan ngoãn, tết sẽ cho đi “Sở thú” chơi.

Ở tỉnh đến tết mà được lên Sài Gòn, đi chơi “Sở thú” thì không còn gì bằng.

Trong tài liệu lịch sử lưu trữ ghi rằng Thảo cầm viên Sài Gòn thuộc loại lâu đời nhất trên thế giới, tên gọi đầu tiên là vườn Bách thảo, được xây dựng vào ngày 23-3-1864, cùng tuổi khai sinh với vườn Bách thảo Mát-xcơ-va (1864), nhỏ hơn vườn Bách thảo Tokyo hai tuổi (1862), lớn hơn vườn Bách thảo Bu-đa-pét hai tuổi (1866).

Ông J.B.Louis Pierre là chuyên viên khảo cứu thực vật nhiệt đới, phụ trách vườn Bách thảo Calcutta (Ấn Độ) được cử sang làm giám đốc trông coi xây dựng vườn Bách thảo Sài Gòn theo nghị định cho phép xây dựng vườn Bách thảo do đề đốc De La Grandière ký. Vườn Bách thảo lúc này có chức năng là nuôi các loài động vật, trồng các loại thực vật của toàn Đông Dương, vừa có nhiệm vụ phải ươm cây giống cung cấp cho Viện Bảo tàng Lịch sử thiên nhiên Paris.

Sau đó vườn Bách thảo được mở rộng thêm 12ha sang vùng đất còn bỏ hoang phía đông bắc Rạch Thị Nghè để lấy thêm đất nuôi thú và ươm cây, công việc này do ông Louis Adolphe Germain, một y sĩ thú y của quân đội Pháp đảm trách, lúc này vườn Bách thảo có diện tích là 33 ha (1924). Một cây cầu đúc được xây để nối liền hai phần của vườn Bách thảo hoàn thành vào năm 1927, trong năm này chính phủ Nhật đồng ý cung cấp cho vườn Bách thảo 900 giống cây lạ.

Người Sài Gòn kể rằng, từ năm 1942 đến 1945 quân đội Nhật đã chiếm đóng vườn Bách thảo. Sau đó quân đội Pháp chiếm lại và đóng quân trong vườn Bách thảo tới năm 1955 mới chịu trao trả cho chính quyền Việt Nam. Trong thời gian đóng quân ở đây, quân đội Pháp đã phá nhiều chuồng trại, chặt nhiều cây để xây đồn bót và kho chứa vũ khí.

Trong Thảo cầm viên còn có công trình kiến trúc là Đền thờ Các Vua Hùng được xây dựng năm 1926 và Bảo tàng Lịch sử Việt Nam (1929). Năm 1994, trong ngày kỷ niệm Thảo cầm viên 130 năm, người ta thống kê, Thảo cầm viên Sài Gòn có 590 đầu thú thuộc 125 loài, thực vật có 1.800 cây gỗ thuộc 260 loài, 23 loài lan nội địa, 33 loài xương rồng, 34 loại bonsai.

Tính đến năm 2008, Thảo cầm viên Sài Gòn được 144 tuổi, đã mở rộng quan hệ với nhiều tổ chức quốc tế như Hiệp hội các vườn thú Đông Nam Á, Liên đoàn Thế giới Bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên, Hiệp hội Giáo dục bảo tồn các vườn thú trên thế giới.

Nếu vào dạo chơi Thảo cầm viên Sài Gòn, khách sẽ thấy trên trục đường chính, giữa Bảo tàng Lịch sử và Đền thờ Các Vua Hùng có một cột bia bằng đá hoa cương, bên trên đầu cột gắn bức tượng bán thân của ông J.B.Louis Pierre cũng bằng đá hoa cương màu hồng, trên mặt cột bia có ghi câu nói của ông J.B.Louis Pierre: “Tôi đã nghỉ hưu, nhưng còn quá nhiều việc để làm cho ngành thực vật, chỉ tiếc là không còn thời gian và cuộc sống thì quá ngắn ngủi”.

Đó là sự trân trọng của thế hệ sau đối với người sáng lập và là giám đốc đầu tiên của Thảo cầm viên Sài Gòn, người đã gây giống cây rừng tự nhiên và để lại những hàng cây cổ thụ trong công viên Tao Đàn, người đã ươm những giống cây ăn trái thuộc khu vực Đông Nam Á trên đất Sài Gòn.

Thanh Bình (văn nghệ SG-9.10.2006)


SÀI GÒN CỦA MẸ


Những chiều cuối tuần, tôi đưa cô thiếu nữ kẹp tóc ngày nào, nay là bà cụ tóc bạc da mồi, ngồi xe lăn dạo quanh xóm Bàn Cờ … Những vòng xe chở Mẹ, tưởng chừng lăn về quá khứ nhưng rồi vẫn chơi vơi qua lại giữa thời gian hai chiều. Giờ đây, “từ điển sống” 87 tuổi của tôi chỉ có thể run run trả lời một hai chữ về tên đường, ngôi nhà, cái cây, bông hoa, người quen … khi con trai cố gắng chơi trò “đố em” hồn nhiên.

Ôi, căn bệnh Alzheimer cứ như một màn sương kỳ quặc phủ dần lên ký ức của người già. Thi thoảng, may mắn, trong cái màn sương lúc dày lúc mỏng đó, Mẹ tôi nhận ra đôi chút hình ảnh thân quen. Thi thoảng, bất chợt Mẹ hỏi cái gì đây khi thấy những tòa nhà đồ sộ, cao vút mọc lên ở nơi mươi năm trước còn là dãy phố thấp nhỏ. Một lần mới đây, tôi đưa Mẹ đi chơi ngang qua bùng binh trước cửa chợ Bến Thành. Nhìn bùng binh trống lốc, Mẹ thảng thốt hỏi: Ông tướng đưa thư đi đâu rồi? Tôi thưa với Mẹ: nghe nói người ta mang tượng ông Trần Nguyên Hãn ra công viên Phú Lâm và chỗ này được xây làm cửa lên xuống Metro!

Tôi giải thích thêm Metro là tên gọi xe điện ngầm, nói đến đây tôi thấy nhói lòng. Mai này, liệu Mẹ có đi được chuyến Metro đầu tiên? Nhiều lần, tôi còn muốn đưa Mẹ đi xem những cao ốc chót vót hàng chục tầng, những thương xá lộng lẫy, những cây cầu và đường cao tốc tân kỳ nhưng Mẹ lắc đầu, bảo tôi cứ đi về nhà. Mẹ chỉ muốn đi quanh quanh xóm nhà của mình, quanh quanh vùng ký ức cũ. Những cuộc đi dạo lặng lẽ của Mẹ ở tuổi hoàng hôn làm tôi nhớ đến cuộc đi dạo đầu tiên của Mẹ ở Sài Gòn. Và rồi, những cuộc đi dạo háo hức mà Mẹ đã dành cho tôi suốt thời niêu thiếu. Và rồi, trong tôi cuốn phim ký ức năm sáu thập niên sống với Sài Gòn, lúc đậm lúc nhòa, riêng chung, thăng trầm lại tuôn trào.

Sài Gòn bao giờ cũng mới lạ, nhất là với người từ phương xa đến lập nghiệp. Trong “anbom” ảnh sơn mài, Mẹ gìn giữ nhiều năm nay, có một tấm ảnh trắng đen trên nền giấy lụa, chụp hai cô gái mặc áo dài dạo phố. Hai cô ở tuổi đôi mươi, tươi tắn, thẹn thùng dưới vành nón lá. Phía sau hai cô là một góc phố cong cong quen thuộc. Mãi sau này, tôi nhận ra đó chính là quán Givral và thương xá Eden. Cả hai cô đều thanh mảnh trong bộ áo dài ngoan hiền. Tà áo dài trông mềm mại, phải chăng đó là lụa Vạn Phúc – Hà Đông – cái chất lụa cứ như nắng vàng mùa thu dịu ngọt, đã làm thi sĩ Nguyên Sa từ miền Bắc vào nhung nhớ?

Ngày ấy, chắc hai “cô Bắc kỳ nho nhỏ”, như nhạc sĩ Phạm Duy gọi, đã mắc cỡ trước những cặp mắt rộn rã, những nụ cười làm quen của các chàng trai “Sè-goòng” hiếu khách và tinh nghịch. Đó là cuộc đi dạo Sài Gòn đầu tiên của Mẹ vào cuối năm 1954. Lúc ấy, cả hai chị em vừa cùng bà Ngoại và cả nhà từ Hà Nội “di cư” vào Sài Gòn.

Sài Gòn của Mẹ hơn 60 năm trước, đón chào người mới đến từ bến cảng đông vui, từ con phố Catinat hoa lệ và hai đại lộ Charner và Bonard thênh thang. Sài Gòn có chợ Bến Thành – to như một tòa thành, với bốn cửa Đông – Tây – Nam – Bắc độc đáo. Sài Gòn 1954, không chỉ rộng lớn mà còn mới lạ hơn nhiều so với một Hà Nội nhỏ bé. Sài Gòn không có hồ giữa phố, không có hoa sữa, không có những cây cổ thụ trầm ngâm trên vỉa hè. Nhưng Sài Gòn lại có con sông hiền hòa chạy dọc theo phố đông, có những hàng cây cườm thảo rộn rã, có những con đường dài hun hút dưới bóng cây.

Phúc Tiến (thời báo KTSG, 1/2012)


CHUYỆN VẶT


Anh Chương vô bệnh viện. Anh em thằng Tài thay nhau vào thức đêm chăm non. Mai thằng Tài học, đêm nay anh nó ngủ canh ngoài hành lang. Thằng Tài quê Quảng Nam, vô Sài Gòn học cao đẳng. Tối nó bưng bê cho nhà hàng kiếm chút đỉnh đặng giúp anh đóng tiền trọ.

Vô bệnh viện thăm anh Chương, bắt máy gọi ảnh. Thằng Tài nghe máy rồi ra cửa bệnh viện đón. Nó đứng tần ngần ngoài phòng mổ dòm vô, nói chú Chương vừa vô trỏng. Con mắt nó đỏ lè, bứt rứt không yên. “Chú Chương vầy, cháu phải nghỉ bán quán vài hôm. Có xin ông chủ rồi”.

Hỏi thằng Tài, chớ mày là gì của ông Chương? Sao hổng gặp mày bao giờ? Nó gãi đầu nói dạ hông. Con với chú Chương đụng xe ngoài ngã tư. Con đi mần về khuya mệt, gặp chú xỉn nên đụng. Con đưa chú vô đây. Anh em thay nhau chăm. Chừng nào chú Chương khỏe, con đi làm lại. Chú bị bể xương bả vai, sợ nặng quá chú à!

Vậy chớ ổng xỉn, sao mày hông dọt luôn? Thằng nhỏ gãi đầu cười méo xệch: Tại con thấy kỳ, chú bị vầy mình đành lòng bỏ đi sao đặng.

Thằng Tài ngồi ngoài phòng mổ, mở nắp hộp cơm lùa nuốt vội. Lâu lâu nhón cái cổ dài tòng ngó vô bên trong cánh cửa đục nhòe.

Cái thằng. Thiệt thương! Anh Chương xuất hiện rồi. Bị gãy xương đòn. Chi phí chừng 16 triệu đồng. Họa vô đơn chí, anh vừa bị công ty cho thôi việc tài xế. Đại gia đình anh khá khẩm lắm. Nhưng hoàn cảnh riêng anh, hai thằng cu tuổi ăn tuổi lớn, vợ lọt tọi đi giao báo kiếm bạc cắc. Cũng khổ quá chừng.

Thằng Tài đụng ảnh, mấy đêm anh em thay nhau chăm anh trong bệnh viện. Bọn nó mang tiền tới. Anh Chương không nhận. Ảnh nói bà mẹ tụi nó, ba mẹ bán vé số ở quê, thằng anh vừa đại học ra trường, nuôi thằng Tài học cao đẳng, thêm một đứa em gái nữa. Thằng Tài đi bưng bê ở nhà hàng Ngọc Sương.

Hôm đưa anh vô cấp cứu, thằng Tài khóc quá trời. Nó run run dúi vào tay anh hai triệu đóng trước viện phí. Nó rách bươm, làm gì có tiền. Nhân viên nhà hàng phước đức hùn hạp được chừng ấy tiền đưa cho nó. Thấy nó khóc quá chừng, anh nhận. Đợi nó bình tâm, anh kêu nó ra quán cà phê trả lại nói mày cầm về mấy anh em lo cho nhau. Thằng Tài khóc nữa.

Mình nói chờ 16 triệu cũng căng hà. Anh Chương cười khà khà nói kệ bà nó, mình ràng xoay được, chớ tụi nó khổ vầy mình nỡ bắt đền sao đành. Anh em tụi nó thay nhau chăm mình như người thân, mình cũng đỡ tủi rồi. Tiền bạc để kiếm chớ người tử tế như anh em nó khó à. Cái thằng dễ thương hiền khô hà, dòm tội lắm …

Mình nói, gãy xương đòn vậy chớ có cầm ly được hông cha nội? Thằng chả cười hằng hặc nói thôi mày tha cho tao, mấy cha bác sĩ bắt uống cả núi thuốc muốn lòi con mắt. Chừng nào quất được tao hú máy liền.

Tiến Tường (blog Tiến bộ 14.2.2015)


CŨ VÀ DỊU DÀNG


Trong góc quán, phòng trọ, sân nhà… cuộc nhậu của những người đàn ông vào mỗi chiều tối hoặc ngày nghỉ, nhất là dịp tết đến xuân về thường bắt đầu từ những câu chuyện công việc, thế sự và kết thúc bằng những bản bolero. Nhiều đàn ông, đôi khi cả đàn bà, trải qua nhiều cuộc nhậu như vậy vẫn không hiểu ma lực nào mà mỗi khi cây đàn ghita dạo lên giai điệu bolero là cả bàn nhậu cùng rơi vào vùng cảm xúc, có khi còn say hơn cả cơn say do rượu.

Nói về chuyện hát hò trong lúc nhậu, ai cũng biết rằng có khi chỉ cần vài tiếng đồng hồ ngồi nhậu là cả bàn nhậu đã làm đủ một cuộc hành trình dài xuyên suốt những đỉnh cao tân nhạc Việt Nam. Trong hơi men vừa độ, cuộc nhậu khởi đầu với Đoàn Chuẩn, Văn Cao, đến Phạm Duy, ghé Trịnh Công Sơn và khi rượu đã bắt đầu quá sinh chuyện dễ khóc, dễ cười thì dân nhậu nhất thiết phải về ngôi nhà bolero với Hoàng Thi Thơ, Trầm Tử Thiêng, Thanh Sơn, Bắc Sơn…

Chưa bao giờ có ai giải thích vì sao dân nhậu phải về với Bolero. Nhưng cần gì! Trong không gian hạn hẹp của một cuộc nhậu, giai điệu bolero là một thông điệp cảm xúc kéo người ta gần lại, lột người ta khỏi mặt nạ khách sáo giả tạo! Hiển nhiên tiếng đàn ghi ta và giai điệu bolero vang lên trong cuộc nhậu không phải và cũng không cần thỏa mãn những giá trị sống hay giá trị nghệ thuật to tát, cao vời, mà chỉ là sự trải lòng của từng cá nhân có cuộc sống bình dị với những đau khổ, hạnh phúc cũng bình dị.

Không một loại hình ca khúc nào ở Việt Nam lại mang tính tự sự, tính kể chuyện đa dạng và phong phú cho bằng ca từ của những bản bolero. Mượn giai điệu bolero và những bản hát bolero để tìm thấy mình, để nói thay mình, để kể giúp mình là cách đưa nỗi buồn, điều khuất tất, sự bế tắc ra bàn nhậu để người này đón nhận người khác trong tinh thần chia sẻ.

Trong không gian bàn nhậu, người bàng quan có thể khó chịu với những câu chuyện tào lao trời ơi của dân nhậu, nhưng không ai nỡ cắt ngang khi một tay nhậu cất giọng nhừa nhựa đam mê bản bolero. Rồi cả bọn nhậu, có khi cả vợ con, hàng xóm của dân nhậu cũng cất giọng hát theo, nhất là đám nhậu gào lên những liên khúc bolero. Nói về những liên khúc có khi gồm cả chục bản Bolero, nhiều người cho rằng đó là sự sáng chế của dân nhậu trước khi được các sân khấu ca nhạc bắt chước. Rõ ràng là không giai điệu nào trong nền tân nhạc Việt Nam mà mỗi bản hát lại có thể ăn khớp thành một liên khúc trúng khía từ nhịp điệu cho đến nội dung ca từ bằng bolero. Thế nên làm sao có thể phủ nhận được khả năng mượn rượu để đưa cảm xúc thành cao trào nối kết liên tục những bản bolero của dân nhậu. Chỉ có một thắc mắc đáng nêu lên là vì sao trong những cái bụng, những cái đầu đầy men say đó lại có thể mở ra cả một kho tàng vô số bản bolero. Với người miền Nam, từ những người có tuổi cho đến thanh niên, lúc bình thường giỏi lắm mỗi người chỉ nhớ vài bản bolero là cùng, nhưng khi có rượu vào thì không hiểu thứ ánh sáng nào làm nên chìa khóa để họ nhớ và mở lại cả núi bolero. Bolero là không gian tự sự - tự tình và trong kho báu tình tự có trong mỗi người, điệu bolero Việt Nam luôn là một cơn gió mát thổi qua và làm rung lên những mạch cảm xúc rẻ tiền có, quý giá có, thô vụng có, tinh tế có nhưng hơn hết là rất người và không cần che giấu.

Bùi Công Tân (nhacnhe blog – 10.9.2014)


TẾT CŨ


Quê tôi cứ tết là vào mùa giáp hạt, đói rã họng, ăn còn đứt bữa phải chạy ăn từng bữa nói chi đến tết. Nhà nào khá lắm thì cũng lo nổi mâm cỗ chiều ba mươi tết và con gà, ít chè nếp nấu cúng giao thừa, rồi mồng 2 tết có một mâm cỗ để đưa ông bà ông vải về trời. Nhưng cái tục đón tết ở quê tôi, dù nghèo khó đứt bữa đến mấy thì cả năm đã phải tính đến ba ngày tết, dành dụm để có được 3 ngày tết, với 3 mâm cỗ cũng ông bà tổ tiên. Để lo được cái tết, mẹ tôi phải tính toán, chắt chiu dành dụm từ nhiều tháng trước, chỗ nào là thóc xay gạo tết, chỗ nào là nếp đồ xôi, chỗ nào dành dụm tiền mua thịt mua cá. Cha tôi là con cả, tết nào cũng phải lo đủ lễ nghi cúng đơm lên bàn thờ gia tiên và mới các chú, các cô về ngày tết hương khói cho tiên tổ. Nhà đông con, đông khách nhưng tết nào mẹ tôi cũng chỉ sắm được 3Kg thịt để chế biến cho một cái tết. Nhà tôi cũng không nấu bánh chưng vì mẹ chỉ lo đủ gửi người ta độ 5 cái vừa cúng tết. Thế nên trong ký ức tuổi thơ bé, tết chưa bao giờ chúng tôi được ăn đã thèm thịt, cá, giò chả. Nhưng như vậy còn sung sướng chán vạn những gia đình trong thôn khác. Như người bạn sau ngõ vườn nhà tôi đó, nhà nghèo đến nỗi không bao giờ mấy anh em có nổi một manh áo mới mặc tết. Tết năm nào cũng không có pháo đốt giao thừa. Mấy đứa em nó trời lạnh như cắt, hai lỗ mũi thò lò xanh lè, nó cõng em trên lưng, em nó có mỗi manh áo ngắn cụt sờn bẩn. Nó cũng chỉ manh áo bông rách, chiếc quần xanh chéo vá ba bốn miếng. Tôi nhớ những ngày còn bé tí, nó cõng em chạy theo đám bạn trong ngõ chơi. Các bạn đánh đáo, chơi bật xu ăn tiền, nó cõng em đứng chầu hẫu nhìn chăm chăm vào những đồng bạc sáng loáng chạy dưới đất với cái ánh mắt thèm thuồng cháy bỏng. Nó không bao giờ có tiền xu để chơi đánh đáo, trong túi quần nó chỉ có con quay làm bằng tự đẽo. Nó chơi quay rất tài, nhưng trước đám con nít trong làng xúng xính áo mới thì nó cũng chỉ giấu con quay trong túi quần cõng em đứng nhìn từ xa. Tôi không bao giờ quên được cái tết năm ấy. Giao thừa, cha tôi đốt bánh pháo tét, nhà nó phía sau cũng nghe tiếng gì như tiếng pháo nổ to lắm. Tôi đứng sau hiên nhà, lom khom chạy ra vườn ngó qua bờ giậu tre, thấy cha nó và nó đang ụp mạnh xuống đất những quả pháo được làm từ đất sét dẻo. Tiếng nổ của pháo đất phát ra không đanh giòn như tiếng pháo làm từ giấy và thuốc nổ nhưng nghe nó cũng lụp bụp, có độ rền vang rất hấp dẫn. Mấy đứa em nó thì lấy giấy xanh đỏ xé ra rải xuống sân cho giống xác pháo để sớm mai, có ai qua nhà chúc tết, thấy trước sân có xác pháo vương vãi mà lấy làm hãnh diện trong lòng rằng tết năm nay nhà mình cũng ăn tết phong lưu, có pháo đốt giao thừa.

Thời của chúng tôi, những người sinh ra trước năm 1975, ở hầu hết các làng quê đều đón những cái tết thương khó như vậy. Thế nên trong những cái tết đủ đầy của hiện tại, cảm giác lạc tết, nhớ tết cũng là điều dễ hiểu. Nhớ tết là nhớ đến từng kỷ niệm, nhớ nỗi thương khó xa xôi lúc nào cũng bám riết trong ký ức tuổi thơ. Nhớ cái tinh thần của tết xưa, nhớ những công việc tâm linh với tiên tổ, và nhiều khi nỗi nhớ về những gánh nặng oằn lưng của cha mẹ mỗi dịp tết về. Tết ở quê thường nặng về việc lễ nghĩa, cúng đơm. Tết ở quê tôi, người lớn lo phúc đáp lạy tạ tổ tiên sau một năm làm ăn. Việc cúng đơm diễn ra trong 3 ngày tết, từ trong nhà ra đến nhà thờ họ, rồi đến đình làng. Tết còn là dịp người lớn tổ chức mừng thọ cho ông bà, tế lễ nhà thờ. Tết là dịp người lớn dù làm ăn đâu xa, bận đến mấy cũng tụ trở về quê, quây quần bên nhau sau một năm vất vả, xa cánh. Có khi ba ngày tết là ba ngày vất vả cực nhọc của người lớn. Chỉ có lũ trẻ con là vô tư lự, khoe áo mới, mong lì xì, vui đùa với nhau mà không biết rằng để có được một cái tết đủ đầy ý nghĩa, tóc cha bạc thêm, lưng mẹ còng xuống, gương mặt mẹ trĩu nhiều nếp nhăn hơn vì phải tính toán lo toan.

Như Bình (blog hohoi 18.2.2008)


SÀI GÒN XƯA


Chừng một năm trở lại đây, Sài Gòn mọc lên những quán cà phê gợi lại ký ức của những năm 1980 – 1990.

Khách đến cửa hàng cà phê 81 (đường Nguyễn Văn Nguyễn, Q.1) dễ bị “choáng” bởi số lượng đồ cũ và vẻ hoài cổ. Nhưng món đồ được chủ quán – anh Nguyễn Hoàng (35 tuổi) – bài trí hợp lý và có “gu”. Trước quán dựng chiếc Vespa cổ, bên trong là nền gạch trắng đen, những mặt bàn thô mộc, chiếc máy may, khung tranh theo apphich quảng cáo nhạc xưa, những tờ họa báo… Anh Hoàng cho biết: “Tôi thấy mọi người luôn phải làm việc mệt mỏi, nên muốn quán giống như ngôi nhà cho mọi người thả trôi những mỏi mệt đó đi”. Chị Nguyễn Thị Sương (28 tuổi) đã đến quán vài lần, chia sẻ: “Lần nào tôi cũng chọn chỗ ngồi là bộ bàn ghế kê phía sau quán, vừa uống nước vừa ngắm những loại hoa lá trồng trong chiếc gáo dừa, thấy cuộc sống nhẹ nhàng hơn”.

Còn quán cà phê Năm Mười Mười Lăm (đường Ngô Thời Nhiệm, Q.3) gợi tò mò ngày từ cái tên. Anh Nguyễn Tuấn Kiệt (25 tuổi, chủ quán) giải thích: “Tên quán được đặt theo trò chơi trốn tìm, người chơi sẽ đếm năm mười mười lăm… đến một trăm thì đi tìm những người đã trốn. Tôi mong quán sẽ giúp mọi người có cảm giác thư giãn, gợi lại những ký ức tốt đẹp”. Chính vì tiêu chí của quán là trở về tuổi thơ nên đâu đó trên những chiếc bàn, chủ quán đặt mớ đá để khách có thể chơi trò ô ăn quan, thảy đá… Không riêng gì những bạn trẻ, mà cả người lớn tuổi hay cả gia đình lớn nhỏ… cũng tìm đến đây. Anh Thái Văn Minh vừa bày cho cô con gái chơi ô ăn quan vừa nói: “Cháu nó học nhiều rất mệt nên cuối tuần tôi luôn tìm những nơi thoáng đãng cho cháu thư giãn. Ở đây không khí mát mẻ nên cháu thích lắm”.

Có thể tìm thêm một vài quán mang đậm dấu ấn Sài Gòn xưa cũ, như quán Sài Gòn Retro nép mình trong một chung cư trên đường Trần Quốc Toản (Q.3). Chiếc cassette dìu dặt những bài nhạc “sến già nam nữ”, ghế gỗ kê ngoài ban công nhìn ra khoảng không gian xa vắng, quán mới mở hơn hai tháng nhưng cũng có một lượng khách đáng kể. Quán nước Hồi Xưa (Q.1) cũng mang dáng dấp xa xưa đúng như tên gọi, với tông màu đỏ chủ đạo. Quán Lão Hạc bên bờ kênh đường Hoàng Sa (Q.1) cũng tạo cho khách cảm giác “phiêu” bởi cách bài trí không đụng hàng và rất … Sài Gòn.

Một điều thú vị… ngược đời là hầu hết chủ nhân của những quán cà phê này có mong muốn quán đừng quá đông để người đến quán có thể cảm nhận trọn vẹn không khí thân thuộc, đầm ấm.

Anh Nguyễn Hoàng – chủ quán 81 – chọn kinh doanh quán cá phê là nghề gắn bó lâu dài, anh đã tìm hiểu nhiều thông tin, hình ảnh về Sài Gòn xưa. Những món đồ trong quán là công sức gom góp của anh nhiều năm nay. Mỗi khi đi đó đi đây, anh đều chú ý mua về khi thì cái máy phay, khi là ấm trà, bình nước, bật lửa thời chiến tranh… Những thức uống đơn giản như sắn dây, chanh mật ong, cà phê… do anh trực tiếp mua nguyên liệu về pha chế theo nhu cầu từng khách. Anh Hoàng nói: “Tôi luôn dặn nhân viên đối xử với khách như bạn. Vì vậy, dù quán chỉ mới mở sau Tết âm lịch này nhưng đã có một lượng khách quen, nhiều người trở thành bạn bè thân thiết”. Một đôi ngày, anh chủ lãng đãng này lại sắp xếp lại bàn ghế, vật dụng và nghĩ ra điều gì đó mới mẻ, như việc bỏ cây sả vào bình nước tạo chút hương thư giãn, thắp những chiếc đèn dầu cho câu chuyện của khách thêm nồng ấm.

Ai nghe câu chuyện mở quán của anh Tuấn Kiệt (chủ quán Năm Mười Mười Lăm) cũng sẽ bật cười thú vị, bởi anh đã từ quê nhà Tiền Giang lên Đà Lạt học khoa kiến trúc của Đại học Yersin, sau đó xuống Sài Gòn mở quán cà phê. Đa số vật dụng của quán đều do anh mang từ nhà nội ngoại dưới quê lên. Đó là những chiếc dĩa sành sứ hiện giờ khó tìm thấy, là chiếc tủ gạc-măng-rê, tổ chim sâu, cái võng… Mẹ anh, bà Nguyễn Thị Hiệp (52 tuổi), mỗi tuần đều lên thăm quán và chiên bánh nhúng – một loại quà quê làm từ bột gạo và trứng gà, làm bánh tằm, bánh chuối… cho khách. Món thịt kho nước dừa trong thực đơn buổi trưa của quán cũng do bà dậy sớm kho rồi gửi xe đò lên cho con trai mỗi ngày. Còn cha của anh Kiệt tự tay trồng những chậu lúa, vườn rau mồng tơi trên lầu 2 của quán.

Với cà phê Sài Gòn Út Lành, chủ quán cũng là người mê Sài Gòn và cố công tìm cho kỳ được những món đồ của Sài Gòn những năm 1980 để bài trí cho quán. Chấp nhận bày biện ít bàn ghế để quán trông như một ngôi nhà, chủ quán còn tự tay xên các loại mứt, trái cây để làm cocktail. Làm yaourt, kem chuối… Trên trang Facebook của quán, chủ quán luôn chuyện trò với khách với cái tên Út Lành, lúc thì mời đến uống ca phê, lúc cảm ơn khách đã ghé… bằng ngôn ngữ ngày cũ khiến khách rất thích thú. Quán còn chủ động bớt cho khách 5.000 đồng nếu khách không xài điện thoại, và không mở WiFi để khách dồn tâm trí vào cuộc gặp gỡ ngoài đời thực.

Yến Trinh (blog mientrung 10/4/2015)


XE LAM


Tên gọi xe Lam – gọi tắt chữ đầu của hiệu xe Lambro, sản xuất ở Ý, có nguồn gốc từ các dòng xe 3 bánh của Lambretta FD (dung tích xi lanh 123 và 150 cc), FLI (175 cc) và sau đó là Lambro 200, 550 (đều có dung tích 198 cc) do Công ty cơ giới Innocenti chế tạo.

Dòng quảng cáo về xe Lam thời đó của một hãng buôn nhập cảng vào Sài Gòn năm 1967: “Máy trước, vừa đề, vừa đạp. Đặc điểm hoàn toàn làm tại Ý Đại Lợi – Trọng tài hữu dụng 550 ký… Xe có bạn tại Lambretta Việt Nam – VINACO và khắp các đại lý trên toàn quốc. Chú ý: không có xe Lam bốn bánh, chỉ có xe Lam ba bánh”. Câu quảng cáo đó như xác định đặc tính của xe Lam là chỉ có ba bánh, có thùng nhỏ phía sau chở được 8 người khách và một cabin cho tài xế ngồi lái phía trước, dưới ghế ngồi của tài xế là thùng đặt máy xe. Kẹt kẹt, khi đông khách và đoạn đường nào vắng bóng cảnh sát công lộ thì bác tài cho hai người ngồi cạnh mình trên băng tài xế.

Thời ấy do muốn phát triển mạng lưới hệ thống giao thông công cộng nên Nha Lộ vận Sài Gòn khuyến khích sự có mặt của xe Lam. Chưa có tài liệu chính xác cho biết xe Lam ra đời vào năm nào nhưng áng chừng vào khoảng năm 1958. Thoạt đầu, chỉ những người năm trong diện “chính sách” như gia đình công chức, những người chạy taxi hay xích lô máy chuyển nghề mới được chạy xe Lam. Muốn mua một chiếc xe Lam, theo quy định của Bộ Kinh tế ngày 29.3.1960, họ phải đóng trước 3/4 số tiền vào trương mục phong tòa của hãng nhập cảng mở tại Tổng nha Ngân khố. Đến tháng 7.1968, do số cung và số cầu về xe Lam đã quân bình cũng như thấy xe Lam đã trở thành phương tiện chuyên chở hành khách thông dụng, nên Tổng trưởng Kinh tế Âu Ngọc Hồ đã ký quyết định bãi bỏ quy định ngày 19.3.1960. Đô thành Sài Gòn năm đó tròm trèm hai triệu dân, đường thoáng hơn bây giờ nhưng ngoài xe buýt, xe Lam vẫn được sử dụng như một phương tiện chuyên chở. Điều này đã thúc đẩy số lượng xe Lam gia tăng. Lúc ấy, gồng gánh bằng ngân sách nhà nước không nổi nên tháng 12.1968, Thủ tướng Trần Văn Hương đã ký sắc lệnh giải tán Công quản xe buýt Sài Gòn để giao cho tư nhân khai thác. Đến cuối năm 1968, toàn miền Nam có 17.615 xe Lam, trong đó đô thành Sài Gòn – Gia Định có 3.200 xe Lam, 7.400 taxi, 2.440 xích lô máy (nguồn: Đoàn Thêm – 1969 Việc từng ngày). Đến năm 1971, xe Lam là phương tiện vận chuyển quan trọng nhất Sài Gòn cũng như các tỉnh miền Nam vì hệ thống xe buýt đã ngưng hoạt động và chưa phục hồi. Theo báo chí lúc đó thì toàn miền Nam có 30.668 chiếc, số xe Lam lưu hành gấp 7 lần xe taxi.

Lê Văn Nghĩa (blog nhà báo – việc từng ngày, 6.7.2004)


CHUYỆN NHỎ SÀI GÒN


Mình yêu nhất là quê mình, yêu nhì là Sài Gòn. Có đi đâu rồi mỗi lần về lại Sài Gòn cũng cảm thấy thoải mái, như hôm nắng gắt ở Tây Nguyên, hôm mưa phùn xứ Bắc.

Sài Gòn sống dễ queo, dân nhập cư làm gì cũng sống được. Không làm công nhân thì làm bưng bê, không bưng bê trong nhà hàng thì bưng bê ngoài quán cóc. Không thôi thì sắm cái xe đẩy dạo bán cóc ổi mía ghim, bán bánh tằm, bán cháo lòng, bán bánh tráng trộn, bán kẹo bông gòn, bán bò bía mặn, bán xôi dứa ống…

Cái quầy bán cà phê cóc dưới gốc cây có mấy chai nước ngọt với mấy chai cà phê pha sẵn, nuôi sống được một gia đình, dựng vợ gả chồng cho con cũng từ đó.

Ở Sài Gòn thì vui, mấy giờ xuống đường chơi cũng không phải ngại. Nửa khuya rồi, bạn gọi lâu quá không ngồi với nhau….. Ờ, thì mấy thằng lại ngồi đến tảng sáng, có bia có hột vịt lộn, có hột gà, có trứng cút lộn, có lẩu, có tôm nhúng mù tạt, có bolero vỉa hè… rồi có xiếc, có nuốt lửa, có biểu diễn rắn chui vào miệng thò ra ngoài mũi…

Sài Gòn mấy giờ cũng còn thức, 0h cũng được, mà 1h cũng được, 2h cũng được mà 3h cũng được.

Sài Gòn có nhiều bar, rượu tràn như suối. Bên cạnh bar thì cũng có quán nép vỉa hè, cá đuối chấm với nước mắm me.

Dân Sài Gòn thích ăn thịt, phải là rất nhiều thịt. Cái gì cũng có giò nạc, loại giò to như nắm đấm, cắn ngập răng chấm nước mắm ớt từ cái chén con con để sẵn trên bàn. Bún bò Huế cũng có giò nạc mà hủ tíu cũng có giò nạc, bánh canh bột gạo cũng có giò nạc.

Ăn phở thì phải có giá trụng, có đầu hành, có tương đen, có chén hột gà có chén thịt thêm. Ăn cơm tấm nhất định phải sườn nướng.

Sài Gòn đi ăn ốc, gọi đủ ốc hương nướng muối ớt, ốc giác xào sa tế, ốc mỡ xào tỏi thì cũng phải có ốc len xào nước dừa.

Sài Gòn dân chơi, vỉa hè có thùng nước uống miễn phí, có tủ kính bánh mì cho người nghèo. Có quẹt xe nhìn nhìn liếc liếc phát rồi đi.

Sài Gòn được cái ai giàu ai nghèo thây kệ. Ngồi cà phê túm tụm trong câu chuyện của mình, còn thằng ngồi kế bên vừa trúng Vietlott thì cũng kệ…

Sài Gòn cơ bản là dễ trò chuyện cùng nhau. Đi ra quán xem đá banh, hai thằng thích cùng một đội bỗng dưng trở thành bằng hữu thì không nói. Nhưng ra quán thấy thằng kia ngồi một mình, mình cũng ngồi một mình, thôi thì kiếm cớ nói vài câu cho qua giờ. Toàn chuyện không đâu vào đâu, chuyện đập vỉa hè, chuyện ngập nước, chuyện kẹt xe. Vui miệng chút xíu rồi chào nhau về… Mấy tuần sau, mình đang ngồi lọ mọ gõ laptop, chợt có bàn tay chìa trước mặt, nhìn lên, đúng là thằng cha hôm trước phiếm chuyện. Vậy là bắt đầu một câu chuyện khác, vậy là kết bạn facebook, rồi trao đổi số điện thoại, thân thì chưa thân lắm nhưng chắc chắn không còn xa lạ nữa… Sài Gòn nhiều cái vụn vặt như không, mà nghĩ cứ thương thương.

Kinh Luân, blog vanhoa 18.3.2016


BẾN GHE


Như đã hẹn, ba giờ rưỡi sáng, tôi đến bến ghe chợ Thị Nghè. Dưới bờ kè bê tông dựng đứng, những chiếc ghe nối đuôi nhau thẳng tắp. Trong lờ mờ hơi nước, Trúc rọi đèn pin cho tôi men theo tấm ván bấp bênh xuống ghe. “Nước chưa ròng, phải nữa tiếng nữa ghe mới đi được”, Trúc nói.

Chờ… Đúng bốn giờ, tiếng máy ghe xé tan không gian yên tĩnh, “đuôi tôm” cuộn nước đẩy ghe xuôi rạch Thị Nghè ra sông Sài Gòn. Qua xưởng tàu Ba Son, sông Sài Gòn nhấp nhô sóng, gió rít lên mát lạnh người. Trúc điều khiển ghe chuyển hướng về rạch Bến Nghé khi ánh đèn trên các tòa nhà cao tầng vẫn còn lấp lánh dưới mặt sông.

Đến gầm cầu Nguyễn Văn Cừ, Trúc lại chuyển hướng ra kênh Tẻ, rồi rạch Ông, rạch Bà Lào, kênh Nước Mặn, sông Bao Ngược, kênh Chợ Gạo, sông Tiền, sông Hàm Luông… Chúng tôi đang đi về huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre, nơi bát ngát bóng dừa, nguồn cung chủ yếu mặt hàng dừa khô, dừa nước, dừa nạo cho chợ Thị Nghè, thông qua các ghe hàng.

Suốt 13 tiếng đồng hồ lênh đênh trên những con rạch và dòng sông Trúc kể cho tôi nghe “kiếp thương hồ” của đời anh. Sinh năm 1981, học xong lớp 12, không đậu đại học, Trúc theo cha làm quen với những chuyến ghe hàng, rồi gắn bó với cái ghe “truyền thống” của gia đình gần 15 năm nay. Bởi thế, Thanh Trúc có biệt danh “Trúc dưới ghe”, vì thời gian Trúc sống dưới ghe nhiều hơn trên bờ.

Thật vậy, dù có ngôi nhà rất bề thế bên bờ Hàm Luông, thuộc ấp Thanh Bình 1, xã Tân Thanh Bình, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre nhưng cái ghe mới chính là nhà của Trúc. Mỗi tháng anh đi khoảng ba bốn chuyến hàng “dưới quê” lên Sài Gòn: sau khi thu mua dừa khô bóc sẵn ở vùng Mỏ Cày anh chở bằng ghe lên chợ Thị Nghè bán cho các vựa dừa nạo. “Mỗi chuyến hàng kéo dài tùy vào sự buôn bán đắt hay ế ẩm của các vựa. Có chuyến tui nằm ở bến ghe chợ Thị Nghè cả tuần mới giao hết hàng”, Trúc nói.

Vì vậy, Trúc thuộc khu vực chợ Thị Nghè như lòng bàn tay. Nhưng theo anh, tất cả các mối lái là do cha anh để lại, cha anh gắn bó với khi vực Thị Nghè hơn anh. Cha anh, ông Nguyễn Hồng, năm nay 66 tuổi, đang bận rộn với cái xưởng thạch dừa nhưng nghe nhắc đến chợ Thị Nghè, ông nói “Lâu rồi không lên đó, tui cũng nhớ lắm! Cả đời đi – về với cái chợ ấy mà!”.

Ông Hồng cho biết mình theo nghiệp buôn dừa khô tuyến Bến Tre – Thị Nghè khi mẹ ông không còn đủ sức cho những chuyến hàng bằng ghe chèo (bằng tay) từ Bến Tre lên Sài Gòn. Ông nói: “Giai đoạn chưa có ghe máy, không có tàu kéo, chèo ghe từ Bến Tre lên Sài Gòn và ngược lại phải dựa vào con nước – nước lớn, nước ròng – nên mất ba, bốn ngày.

Thời ông Hồng, ông không chỉ bán hàng, bỏ dừa khô, dừa nước ở chợ Thị Nghè mà ông còn có mối lái ở chợ Văn Thánh, Thanh Đa, Bà Chiểu … Nhắc đến chợ Bà Chiểu, bà Lê Thị Đầm, mẹ ông Hồng, năm nay đã 88 tuổi, như sống lại thời con gái, 70 năm trước. Bà nói, năm 1940, khi bà còn con gái, bà đã chèo ghe buôn bán khắp các chợ vùng sông nước Sài Gòn. “Hồi đó chưa có mối lái như sau này, hàng từ dưới quê lên tui tự mang vào chợ bán. Chợ Bà Chiểu, chợ Thị Nghè tui ngồi mòn quần,” bà hồi tưởng.

Theo bà Đầm, không chỉ mỗi bến Trần Văn Kiều, thời của bà có rất nhiều chợ trên kênh rạch trong nội thành Sài Gòn, tha hồ buôn bán. Vì vậy, cảnh “trên bến dưới thuyền” đã đi vào lịch sử giao thương của Sài Gòn. Thế nhưng, hôm nay nhìn lại, các bến ghe bên các ngôi chợ xưa đã không còn. Và, bến ghe chợ Thị Nghè là một trong những bến ghe hiếm hoi còn sót lại, dù nó cũng đang đứng trước nguy cơ bị xóa sổ khi cửa đập của dự án cải tạo môi trường nước Nhiêu Lộc – Thị Nghè xây dựng xong.

Theo anh Thanh Trúc, hai ba năm trước, ở bến ghe Thị Nghè này lúc nào cũng có hàng chục ghe hàng, nhưng hiện nay còn chưa đến 10 chiếc. Thực tế, từ khi nhà máy chuốt gạo chợ Thị Nghè ngưng hoạt động thì đội ghe chở gạo cũng ngưng hoạt động tại bến này. Hiện tại chỉ còn ghe cung cấp các mặt hàng nông sản chủ yếu là dừa khô, dừa nước, chuối, bưởi, sầu riêng.

Quang Chung (thời báo KT Sài Gòn – 21.3.2012)


NGHE THÀNH PHỐ THỞ


Tôi ngồi xuống bên cạnh anh Chung, cả hai tựa sát lưng vào tường, và tôi nhìn vẻ mặt anh chán nản. Đã thành lệ thường, cứ tối thứ năm, 8h30, chơi bóng đá ở sân Tao Đàn xong, tôi đi bộ sang quán của anh, đường Lý Tự Trọng, ăn chút gì đó và uống với anh chai bia hoặc chén rượu. Chung là chủ quán, 48 tuổi. Anh mở quán ăn hương vị Bắc này cũng đã được gần chục năm, bám vào cái vỉa hè ấy mà sống.

Chỉ chừng chục phút sau, hai người trật tự phường tấp xe vào lề, nói gì không rõ vì đã bị át vào tiếng xe cộ phố phường, nhưng ra dấu hiệu là chúng tôi đủ hiểu. Họ muốn chúng tôi vào trong nhà mà ngồi. Lúc đó, chỉ có hai chiếc ghế nhựa, trước mặt mỗi người là một ly nước đậu đen rang đặt trên vỉa hè. Chung nói lớn: “Em ơi, nhà anh đây thì anh bày ghế ra ngồi uống cốc nước cho mát thôi chứ có buôn bán nhậu nhẹt gì đâu em”. Hai người trật tự bỏ đi. Tôi mới nhìn dọc theo lề đường Lý Tự Trọng. Vắng ngắt.

Vợ chồng Chung kéo nhau từ Nam Định vào Sài Gòn lập nghiệp. Họ thuê cái mặt bằng nhỏ xíu, rộng 3m, sâu chừng 15m, để mở quán. Gần phân nửa diện tích bên trong đã dành cho khu bếp và một cái gác nhỏ cho mấy đứa nhân viên từ miền Tây lên rồi. Phần phía ngoài xếp được 2 bàn lớn (6 người ngồi) và 3 bàn nhỏ. Chi phí thuê nhà 2.500 đô mỗi tháng. Doanh thu trông cả ở vào cái vỉa hè – nơi khách vẫn kéo về ăn khuya.

Hàng xóm láng giềng đều thông cảm với cái quán nhỏ ấy. Phần vì Chung không cho khách ồn ào. Đám hát rong Chung cũng tìm cách nói khéo léo họ đi chỗ khác làm ăn. Phần vì Chung cũng giữ sạch sẽ cái vỉa hè. Khuya bán đồ ăn xong, anh dọn rửa sạch sẽ, tịnh không còn miếng rác nào. Sáng sớm ra các nhà mặt tiền lại mở ra bán quần áo, thời trang như thường. Và đã thành lệ, cứ 9h tối các hàng thời trang đóng cửa, tắt đèn, họ lại cho Chung bày dăm cái bàn, sát vào lưng tường, để làm chỗ câu cơm. Cái quán ấy là chỗ dựa của cả một gia đình, đủ trang trải để hai vợ chồng thuê chỗ ở, lo cho thằng lớn học đại học kiến trúc và con bé út học THCS.

Tôi chạnh lòng khi nghĩ về những phận người phải bám vào vỉa hè mà sống, không phải lê la kiểu buôn thúng bán bưng, mà là những tiểu thương, với nền thương mại mặt đường vốn dĩ vấn là xương sống của kinh tế nhỏ lẻ, hộ gia đình. Họ sẽ sinh nhai thế nào?

Luật để hướng con người ta đến cái nhân văn, và luật lại càng phải chặt chẽ và hợp lý. Dẹp để làm sạch cảnh quan đô thị là đúng quá rồi. Nhưng dẹp để dân hân hoan mà sống, mà ý thức gìn giữ cái cảnh quan ấy mới khó, còn cứ công thức, đúng chừng ấy mét từ mép đường trở ra chỉ là chỗ để xe, còn không có xe thì cũng cấm bán bán buôn buôn, luật ấy chỉ mang lại tiếng thở dài.

Ca khúc về Sài Gòn không nhiều nhưng có một bài tôi rất thích, với cái câu: “Em ơi, hãy lắng nghe, em ơi hãy lắng nghe, nghe thành phố thở”. Tự dưng tôi muốn hỏi: Có bao giờ chúng ta thực sự biết hơi thở của Sài Gòn là gì không? Đó là một đô thị rộn ràng 24/24 giờ, một đô thị để người ta giải trí đúng nghĩa. Tiếng thở của Sài Gòn là tiếng thở hiện đại và nếu thành phố ấy cứ đều tăm tắp, đêm không có một sinh hoạt nào, nó sẽ là một thành phố chết. Khu ẩm thực bên hông chợ Bến Thành có đủ duy trì cái nhịp thở ấy không? Bao năm rồi, ngoài khu ẩm thực ấy, Sài Gòn vẫn đang thở bằng bao nhiêu khu khác và kèm theo đó, là tiếng thở của những cư dân – những cư dân biết rằng nhờ có Sài Gòn mà họ và gia đình họ đang được sống.

Tôi không còn nghe tiếng thở của thành phố nữa. Chỉ còn đọng lại, những tiếng thở dài…

Hà Quang Minh (blog Thời đại mới – 5.3.2014)


CHỢ SÀI GÒN


Chợ là nơi trao đổi buôn bán hàng hóa trong một khu vực địa lý. Ở đô thị ngày nay chợ “truyền thống” là một trong số ít ỏi dấu tích còn lại của những làng xóm xưa, điểm lại các chợ ở Sài Gòn ta nhận ra phần lớn tên chợ lưu lại địa danh quen thuộc một thời nổi tiếng: Đa Kao, Cầu Kho, Tân Định, Xóm Chiếu, Bàu Sen, Bà Chiểu, Thị Nghè, Phú Nhuận, Gò Vấp, Hòa Hưng…

Nam bộ sông rạch nhiều nên đi lại bằng ghe xuồng là chính. Chợ xưa là nơi bến sông ghe xuồng neo đậu trao đổi hàng hóa nông sản. Dần dần trên bờ hình thành thị tứ, có nhà cửa, tiệm chạp phô, tiệm ăn, kho hàng của người Hoa, rồi hàng thịt cá rau trái bày bán giữa đường hay trên các sạp dựng ở lòng đường, dần hình thành một cái chợ… Chợ Bến Thành xưa – nay là Chợ Cũ cũng được hình thành như vậy. Người Pháp mang đến kiến trúc “nhà lồng” cho chợ Bến Thành mới, từ đó “nhà lồng chợ” thường là trung tâm của một thị tứ ở Nam bộ. Người ta đánh giá địa phương đó có trù phú, phát đạt hay không là nhìn vào quy mô của nhà lồng chợ. Trong cuốn hồi ký của Paul Doumer, toàn quyền Đông Dương hồi đầu thế kỷ 20 có nhận xét rằng, một trong những cơ sở quan trọng nhất của một làng ở Nam kỳ là cái chợ, và làng nào cũng tự hào về chợ làng mình chẳng khác gì tự hào về đình làng vậy.

Ở Sài Gòn nhiều chợ có đặc điểm riêng về dân cư và sản phẩm. Đi mỗi chợ có thể nhận biết nhiều điều về nơi ấy: dân cư, ngôn ngữ, sản phẩm, các mỗi quan hệ xã hội qua xưng hô. Đi chợ hàng ngày là nhu cầu không phải chỉ mua bán mà còn là gặp gỡ, giao lưu, thể hiện các mối quan hệ xã hội. Nghe lời nói thách trả giá mặc cả… biết giá cả chất lượng hàng hóa và còn có thể biết được tình cảm của những người mua bán. Hiện nay chợ truyền thống thường là nhà lồng cao ráo, thông thoáng, sạp hàng bố trí, sắp xếp khoa học, vệ sinh môi trường tương đối tốt, bên cạnh đó là việc giữ gìn “thương hiệu” ngành hàng của những tiểu thương buôn bán lâu năm.

Những chợ hẻm, chợ vỉa hè… mọc lên ở những khu dân cư mới chỉ có siêu thị mà không có chợ. Đó là nhu cầu hàng ngày của phần đông dân cư, bởi vì đâu thể nhốt mọi sinh hoạt thường nhật của người dân vào các trung tâm thương mại hào nhoáng và lạnh lùng. Khi nhà quy hoạch không lưu ý nhu cầu này thì tất yếu sẽ có chợ tự phát, dẫn đến lấn chiếm lòng lề đường, cản trở giao thông, ảnh hưởng vệ sinh môi trường… Nhưng trong những xóm lao động hay khu công chức lâu đời vẫn còn nhiều chợ hẻm chỉ nhộp nhịp bán mua vào buổi sáng, đến trưa thì chợ đã tan. Bạn tôi làm việc ở Thái Lan, nhà trong một hẻm nhỏ có cái chợ giống hệt như vậy: cũng những xe bán trái cây, rau củ, xe bán thức ăn chín, sạp quần áo treo đồ lên hàng rào, rồi xe nước ngọt siro đá bào, gánh chè, xe hủ tiếu nước lèo thơm phức… Bạn nói, chọn thuê nhà ở đây là vì cái chợ này, ra vô nhìn thấy nó như mình đang ở Sài Gòn.

Hiện nay siêu thị, trung tâm thương mại xây dựng khắp nơi, từ đô thị đến vùng nông thôn. Nhà đầu từ thường chọn ngay vị trí chợ truyền thống hoặc địa điểm công cộng – tức là chiếm đoạt giá trị về ký ức nơi chốn của cộng đồng – để xây dựng những tòa nhà cao tầng, hình thức kiến trúc và nội thất trang trí sắp xếp như nhau. Tên gọi của siêu thị, trung tâm thương mại ít khi mang địa danh truyền thống. Trong đó việc mua bán sòng phẳng, lịch sự, người mua hàng có thể chọn lựa thoải mái, tự mình quyết định khu mua món hàng nào đó theo giá ấn định sẵn. Siêu thị, trung tâm thương mại phản ảnh mối quan hệ của xã hội đô thị hiện đại: coi trọng sự riêng tư, cá nhân, chủ yếu là sự “tương tác” giữa người mua hàng với sản phẩm, quan hệ người mua người bán không còn, “tình cảm” trong việc mua bán nhạt đi, mất đi… Tính chất văn hóa địa phương (đặc sản, ngôn ngữ, xưng hô…) không thể hiện trong siêu thị, trung tâm thương mại mà là ứng xử “văn minh thương nghiệp” phổ biến mọi nơi.

Thành phố dù hiện đại đến đâu cũng cần những ngôi chợ truyền thống, không chỉ phục vụ cuộc sống hàng ngày mà còn là một địa điểm du lịch, bởi vì nó phản ánh văn hóa địa phương qua sản phẩm, ẩm thực, ứng xử giao tiếp của con người.. Lưu giữ chợ truyền thống vì hoạt động thương nghiệp của tiểu thương và khách hàng cũng là những giá trị văn hóa. Siêu thị và trung tâm thương mại không thể thay thế chợ, kể cả chợ bán lẻ và nhất là những chợ đầu mối, giá sỉ.

Nguyễn Thị Hậu (kinh tế ĐS 2.3.2012)


CÒN TRONG THƯƠNG NHỚ


Làng từ bao giờ đã có quán cà phê. Nó không đủ lớn như những quá ngập ánh đèn, phòng điều hòa máy lạnh ở thành phố. Nó là cái quán chạng vạng, tường vách xanh đỏ, lửng lờ mấy chùm hoa giả đủ sắc màu treo trang trí. Thỉnh thoảng về thăm mẹ, tôi ghé quán ngồi. Cà phê không ngon, và giọng em gái bán cà phê nửa quê tôi nửa quê người. Có lần nghe em kể, em lưu lạc tận Sài Gòn học nghề sửa móng tay móng chân, nghề cắt tóc gọi đầu, rồi khó sống vì Sài Gòn đắt đỏ, em về nhà mở cái quán bé xíu này. Tóc em thường nhuộm màu vàng chói gắt. Quần bò rách gối áo phông đúng xu hướng thành thị. Em thường thở ngắn than dài kiếm người yêu sao quá khó. Khách vào quán em thường là những anh thợ mộc ở xưởng đóng tàu bên cạnh. Rồi đám trai làng đi làm ăn xa thỉnh thoảng về quê ghé uống. Rồi có cả đám học trò cấp 3 choai choai ngày ngày đạp xe đi học qua vào uống cà phê ngắm cô chủ. Em nói, bán cà phê tích cóp được kha khá tiền một chút, em lại ra thành phố. Ngoài sự đắt đỏ ra thì em thích nhiều thứ ở thành phố lắm, nhất là sự giải trí. Thành phố có nhiều trò vui.

Tháng Ba mà vẫn chẳng kiếm đâu ra một ngày đủ rét mướt. Mưa phùn trốn biệt phương trời nào. Tôi, một kẻ nghiện ký ức ngồi trong nắng tháng Ba, uống thứ cà phê không rõ mùi vị. Tôi uống một tháng Ba quê nhà, dầu có quê nhà hôm nay đã khác, và tôi hôm nay đã khác. Tôi uống một nỗi gì rất buồn trong em gái tóc vàng bán cà phê tuổi 20 kia. Em đã khao khát một cuộc đổi đời, một cuộc vượt thoát, một cuộc rời xa, rồi em lại về ngồi đây, mỗi ngày chế nước đun sôi vào những chiếc cốc đã đổ sẵn cà phê hòa tan trong đó. Em bán cà phê cho những vị khách không đòi hỏi. Đối với họ, mọi thứ cà phê đều như nhau.

Tôi thường không có đủ thời gian để ngồi lâu. Một người đàn bà tuổi 40 thường xuyên cảm thấy mình không có đủ thời gian cho mọi việc. Nháo nhào những cuộc đi về, nháo nhào những lo toan. Tôi đã xé vụn đời sống mình cho trăm ngàn thứ. Và lúc nào cũng khổ sở với ý nghĩ thiếu chu toàn. Mỗi khi có thể đi hàng trăm cây số tôi về gặp mẹ, rồi thường dành một khoảng nhỏ thời gian ngồi trò chuyện một mình ở cái quán này. Tôi uống không có mùi cà phê trong ly của tôi mà toàn mùi của ký ức. Tôi trò chuyện với em gái tóc vàng nhưng có thể em không biết về cuộc trò chuyện đó.

Em gái tóc vàng thường ngồi dựa lưng vào cánh cửa, mắt không rời màn hình chiếc điện thoại. Đó cũng là hình ảnh cố định ở đâu tôi chẳng gặp. Thỉnh thoảng em mỉm cười, tôi đoán là có một bình luận thú vị gì đó từ trên facebook của em. Nhưng tôi luôn thấy em buồn. Tôi thấy một tuổi trẻ buồn, một thế hệ buồn. Đằng sau mái tóc vàng của em là tiếng thở dài. Một niềm tuyệt vọng mà tuổi thanh xuân ai chẳng có lần từng cảm nhận.

Tôi trò chuyện với em về con đường nhỏ trước cái quán nhỏ của em. Nó là con đường dẫn đến cánh đồng xanh bao la khi tôi còn nhỏ. Con đường của cỏ mềm đẫm sương mỗi sớm ban mai. Con đường hoa sài đất mọc như ngàn vì sao rớt xuống từ bầu trời đêm trước. Con đường Tháng Ba sình lầy bùn đất, và đứa trẻ là tôi đã nhiều lần ngã vì trơn trượt. Cái lạnh dường như còn nằm đâu đó trong kẽ ngón chân tôi, dù con đường đã biến mất, cánh đồng cũng gần như biến mất.

Tôi trò chuyện với em về cây hoa gạo. Nó nằm giữa con đường đã mất. Nó là cây cổ thụ nằm lẻ loi giữa cánh đồng. Nó là cây kiêu hãnh nhất trong ký ức tôi, trong tuổi thơ tôi. Nó đã đứng một mình trên con đường nhỏ đó từ khi cụ tôi còn sống, từ khi bà tôi còn nhỏ, từ khi mẹ tôi được sinh ra, và đến lúc tôi có mặt trên đời. Mỗi tháng ba về nó điểm màu rực rỡ trên cánh đồng. Sắc đỏ của nó thêm bừng lên trong ngày nắng. Vào ngày mưa phùn giá lạnh, cũng sắc đỏ của nó, sưởi ấm cảm xúc của tôi buổi đi học về. Người làng thường dặn bọn trẻ con đừng đến ngồi giữa trưa dưới gốc cây hoa gạo, vì sợ con ma bắt. Trong cây gạo có ma. Nhưng tôi chưa bao giờ nhìn thấy ma trong cây gạo. Tôi vẫn thường ngồi dưới gốc của nó, ngửa cổ đếm hoa. Vào những ngày mưa phùn lạnh buốt, gió thổi từ cánh đồng về, hoa rơi lả tả trên con đường bùn đất. Những bông hoa nằm như đang thở. Chúng nói với tôi về sự tàn lụi của cái đẹp, dù tôi đâu đã cảm nhận được gì nhiều. Nhưng bởi vì tôi luôn mở trái tim mình nên tiếng nói của hoa cũng ít nhiều đập vào tôi. Nhìn hoa rơi lòng tôi đã biết nhói đau từ buổi ấy.

Tôi đã đi khỏi làng, hạnh phúc có và đau buồn có. Tôi theo đuổi những điều mà phải rất nhiều năm tháng sau nhìn lại, chợt ngộ thấy mình như thể đã tham gia một trò chơi vô tăm tích. Và nơi chốn quay về sau những lần hụt hơi, sau những vô định, sau những hoang mang, vẫn là làng. Nơi có nhà thờ tổ tiên, nơi có mộ ông bà tôi, nơi có cha có mẹ, và nơi có tuổi thơ tôi ở lại đó, một phần đời vĩnh viễn đẹp và đã vĩnh viễn mất đi.

Rất nhiều tháng Ba trôi qua, rất nhiều mùa hoa gạo đến rồi đi, tôi mới hiểu một điều giản dị. Bông hoa rơi nằm thở trên cỏ xanh năm nào đã dạy tôi bài học về sự thoảng qua của đời người. Bằng cái đẹp vĩnh hằng có thể chỉ hiển lộ trong phút giây, trong khoảng khắc con tim ta run rẩy. Chúng ta đã đi xuyên qua đời sống này để tìm kiếm thiên đàng phía trước. Nhưng thực sự thiên đàng luôn ở đằng sau. Là thời thơ ấu với bao nhiêu trong trẻo. Nơi con đường, dòng sông, cánh đồng, khu vườn của mẹ thực sự là một vương quốc để tôi nằm mộng.

Bình Nguyên Trang (quốc tế - An 9/3/2016)


140 NĂM TRƯỚC


Sài Gòn cuối thế kỷ 19 không còn là một thành phố chỉ có thành quách và phố chợ vây quanh, như thuở còn là thành Gia Định, Sài Gòn đã trở thành một đô thị có những đường phố dọc ngang thẳng tắp, những ô phố đầy đặn, những quảng trường, tượng đài và nhiều công viên lớn nhỏ. Trong đó điểm nổi bật là các dãy phố đều được viền cây xanh đều đặn, trông như khung cảnh ở các đường phố Paris. Nhìn từ trên cao, quả thật Sài Gòn được định hình rất rõ là một Garden city (Thành phố vườn) như mô hình mà Singapore tự hào những năm 1970.

Trên cái nền xanh tươi ấy, khu vực bờ sông Sài Gòn là nơi nhộn nhịp nhất thành phố với hàng loạt tàu thuyền, trải dài từ xưởng Ba Son đến cảng Khánh Hội. Cảnh trên bến dưới thuyền đông đúc còn kéo dài dọc rạch Bến Nghé, hướng vào Chợ Lớn. Đáng chú ý, ngoại trừ khu vực xưởng Ba Son, khu vực “có ống khói” duy nhất là Khánh Hội. Có lẽ đó là các nhà máy đường, nhà máy thuốc lá sẽ ra đời tại đây nhiều thập niên sau. Một loạt khối nhà đồ sộ được đặt dọc bờ rạch Bến Nghé từ cột cờ Thủ Ngữ đến chợ Cầu Ông Lãnh. Các khối nhà này chính là khu vực tài chính – ngân hàng, sẽ nảy nở nhanh chóng vào hai thập niên đầu thế kỷ 20.

Với việc quy hoạch như trên, ngay từ cuối thế kỷ 19 người làm quy hoạch đã mong muốn Sài Gòn phải là một thành phố tập trung cho các dịch vụ thương mại, hàng hải, tài chính và du lịch – những ngành “công nghiệp không khói” Sài Gòn thuở đó đã có thương cảng dễ ra vào, có vựa lúa đồng bằng sông Cửu Long kề bên, có cộng đồng thương nhân tứ xứ và bản xứ đang hình thành. Sài Gòn lại có thêm mưa gió thuận hòa, văn hóa Á – Âu rộng mở. Cho nên để có một tầm nhìn trăm năm như thế cho Sài Gòn đâu phải là điều viển vông!

So với bây giờ, ngày ấy Sài Gòn chỉ gồm quận 1, một phần quận 3 và vùng Khánh Hội hiện nay. Các khu vực giáp ranh còn là ao đầm, vườn cây, đồng ruộng. Tuy nhiên, dù ở quy mô nhỏ (4 Km2) nhưng Sài Gòn vẫn được biết đến là đô thị hoàn chỉnh với đầy đủ phân khu chức năng . Khu vực Thành Xưa, từ dinh Toàn quyền (dinh Thống nhất) đến rạch Thị Nghè, được giữ làm trục thể hiện quyền lực chính trị và quân sự. Bên dưới khu vực Thành Xưa là khu vực phố phường thương mại và công sở hành chính. Ranh giới giữ hai khu vực này là nhà thờ Đức Bà và đường Taberd (Nguyễn Du). Từ ranh giới ấy, cùng lúc có bốn con đường lớn được thiết kế chạy thẳng ra bờ sông là Charner (Nguyễn Huệ), Catinat (Đồng Khởi), Imperiale (Hai Bà Trưng) và Citadelle (Tôn Đức Thắng). Từ đó tạo nên những khu phố kinh doanh đa dạng.

Các dinh thự là các dãy nhà phố mái ngói chỉ có 2-3 tầng. Tất cả kiến trúc đều được thiết kế thấp hơn chiều cao của nhà thờ Đức Bà – kiến trúc cao nhất của Sài Gòn thời ấy (hơn 50m).

Phúc Tiến (blog Nhân Văn, 26/3/2009)



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ VạnNinh KhánhHòa ngày 04.6.2017.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004