Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới






CHIẾC GƯƠNG ĐỒNG ĐỊNH MỆNH



Lời Tiên Đoán Thứ Nhất của Út Đã Đúng



X e tới Huế bình yên, Nam mới có thời gian nghĩ tới Út . Anh cho là vì nặng tình nên Út đã bầy đặt ra nhiều lời tiên đoán để hù dọa mình, giữ mình ở lại Sài Gòn, nhưng thực không ngờ, đã có nhiều tai nạn trên đường khiến cho cả đoàn vất vả.

Tai nạn đầu tiên đã bắt đầu hiển hiện. Anh em đến Huế, chỉ còn vài ngày nữa là tới Hà Nội, xe nhẹ, chạy nhanh, chắc sẽ không có gì xẩy ra

Nhưng “lên cao mới biết non cao” , đến vùng đất Huế - Quảng Trị, tức là đến miền đất chiến tranh ác liệt trước năm 1975. Tất cả đều xơ xác, nghèo đói và hoang tàn. Người dân ở đây kiếm sống bằng cách đi thu lượm vỏ đạn, bán lại cho các tay thu mua phế liệu từ khắp nơi đến đây buôn về các tỉnh.

Một tay buôn đồ phế liệu chiến cuộc bám theo xe gạ chở hàng vỏ đạn về Nam Định, hắn nói ngọt như rót mật :

- Xe các anh có trọng tải lớn, chạy không ra Bắc thật phí quá. Em chỉ xin chở vài tấn hàng ra Nam Định, chúng em không dám dấu gì, mua số vỏ đạn này về đúc đồ đồng, hàng không nguy hiểm, lại đóng gói cẩn thận, Các anh giúp cho, có đồng tiền tiêu xài trên đường, lại có cả đồng tiền mang về nhà

-Hàng của anh là bao nhiêu tấn . Anh lái xe hỏi

Thấy có người bắt mồi, hắn liến thoắng nói

-Không nhiều đâu anh Hai ơi, khoảng vài tấn thôi

-Anh định ra giá bao nhiêu ?

-Anh chở cho chúng em, xin trả anh hai ngàn. đồng một tấn

Nam nhẩm tính “ Xe REO trọng tải 12 tấn, nay trên xe có gần 3 tấn hàng và người, chở thêm ba tấn nữa, vừa nhẹ xe vừa đỡ phiền phức”

Cò kè, tính toán, cuối cùng hắn đồng ý trả hai ngàn rưởi cho số hàng ba tấn vỏ đạn từ Đông Hà ra thành phố Nam Định. Xin đặt trước 1000 đVN (giá tiền năm 1984), rồi dẫn xe lên Đông Hà.

Tới Đông Hà, xe rẽ vào một con đường nhỏ, hoang sơ và te tua. Vài ngôi lều che mưa nắng tụm lại như những xóm nghèo thường gập ở phía Nam. không trông thấy một bóng người, Lái buôn hàng chụm tay vào môi, hú lên mấy tiếng man dại. Nam giật mình chưa hiểu hắn hú gọi cái gì , đã thấy rầm rập những con người đen đúa, cởi trần, tóc dài xỏa xượi, vác những bao vỏ đạn chạy tới, ném vào lòng xe. Hết đợt nọ lại đến đợt kia, không biết họ ẩn nấp ở đâu mà tập hợp nhanh chóng thế. Đứa nào cũng vội vàng ném bao vỏ đạn lên xe, rồi lại chạy đi lấy tiếp. Chúng hú gọi nhau làm việc, nhanh chóng như một đoàn quân đánh chiếm.

Chiếc xe REO trọng tải 12 tấn, thế mà bộ zip bắt đầu ưỡn thẳng. Lái xe kêu lên : “ Các anh ơi, xe nặng quá, không đi được đâu. Phải bỏ bớt hàng xuống” Nam bảo tay buôn hàng :

-Lên xe, vất hàng xuống, chúng tao chỉ chở đúng số hàng đã mặc cả.

Tay lái buôn vẫn ỳ ra , làm như không hiểu câu nói của anh. Một chiến sĩ nóng mặt lôi cổ hắn xuống xe, chĩa súng quát :

-Nếu mày không hạ tải, tao bắn bỏ tại chỗ. Nghe chưa

Nhìn thấy khẩu AK47 đạn đã lên nòng, tay lái buôn cuống quýt gọi đám dân cùng trèo lên xe, ném bớt những bao vỏ đạn. Cho đến khi anh lái xe thấy bộ nhíp an toàn, mới đồng ý để xe đi tiếp.


Qua cầu Hiền Lương, xe đi trên con đường số 1, đây là con đường huyết mạch trong thời điểm 30 năm chiến tranh giải phóng, chưa có lúc nào ngừng tiếng súng, tiếng bom để có điều kiện tu sửa, làm tốt, nên con đường toàn là ổ trâu, ổ voi, Lúc này, xe nhẹ còn khó đi, nữa là xe có trọng tải lớn, chiếc xe cứ lắc qua, lắc lại, làm cho người và hàng hóa trên thùng vật vã mọi chiều. Anh lái xe bằng kinh nghiệm của mình, luôn miệng kêu than :

-Nặng quá, e nổ lốp các anh ạ

-Đừng kêu nhiều, cố tránh ổ gà, ổ voi, anh ạ . Bây giờ mà nổ lốp thì chúng ta vất vả lắm đó .

Đã vào tới Đồng Hới, trời chuyển hoàng hôn, nhưng trong thị trấn chỉ còn những ngôi nhà hư hại vì bom đạn. Đã gần 10 năm rồi, kinh tế chưa được phục hồi, đất nước còn giữ chế độ bao cấp, Đồng Hới vẫn mang vẻ mặt một thị xã vừa qua chiến tranh, chưa có ngôi nhà nào xây mới, chưa có cửa hàng ăn, hàng quà,,, Tất cả đều là tem phiếu.

Nam đang nghĩ chưa biết tối nay anh em sẽ ăn ngủ tại đâu thì một chiếc lốp đã phát nổ. Tuy là xe 10 bánh, nhưng với kinh nghiệm lái xe , anh lái thưa thật : “Không nên đi cố, các anh ạ. Đi cố nổ thêm lốp xe, thì đổ xe, gây tai nạn chết người đó ”.

Thôi thì anh lái đã nói như vậy, đành phải nghe, nhưng cái bụng đói, phải làm sao cho êm dạ. Đồng Hới lúc này không có điện, mọi người chia nhau đi tìm nhà dân để nhờ nấu cơm

Trong khung cảnh tối đen , Nam và một chiến sĩ leo lên một cây cao để nhìn khắp nơi, thấy xa xa có le lói ánh đèn. Hai người theo hướng đèn mà tới, đó là nhà của hai mẹ con. Người mẹ đã luống tuổi, cô con gái chỉ khoảng 12, 13 nhưng cả hai đều gầy, rách rưới. Cô bé phát hiện ra có người lạ, kêu lên “ Có người, mẹ ơi !” Sự xuất hiện của người lạ khiến cho hai mẹ con sợ hãi, díu vào nhau, Nam vội nói:

-Bình tĩnh, chị ơi, chúng tôi là bộ đội , đi xe qua thị xã, bị nổ lốp từ xẩm tối, nhưng không có nhà hàng vá lốp, nên nấn ná mãi bây giờ đã khuya, anh em đói bụng, muốn tìm nơi mượn đồ nấu, để nấu cho các chiến sĩ ăn.

- Nhà tôi chỉ có đồ nấu nhỏ thôi, không có xoong lớn. Các chú muốn nấu ăn thì đem gạo vô đây mà nấu, không cho mang đi xa đâu. Nơi đây là đầu sóng ngọn gió, quân vào, quân ra nườm nượp ai biết đơn vị mô mà đòi . Các chú, các anh thông cảm.

Nam hiểu chị không cho mượn mang đi là vì vùng đất giới tuyến này, quân vào, quân ra như nước chảy, ba mươi năm chiến tranh (1946-1975) biết bao gia đình đã mất con, mất của, biết bao đoàn quân đi qua mà không trở lại, nên dân địa phương dù có thương bộ đội đến mấy cũng không lấy đâu đồ nấu để các anh mượn rồi vội vàng ra đi không kịp trả, đành chịu mất. Tối hôm ấy anh em lúi húi nấu cơm trong gian bếp nhỏ, khi cơm chín xúc ra nilon, vác ra xe cho mọi người cùng ăn. Trước khi đi, Nam sẻ lại mấy bát cơm trắng và đưa tiền củi biếu lại mẹ con chị. Trong hoàn cảnh vừa ra khỏi cuộc chiến tranh, có được nơi mà nấu cơm cũng là quý lắm

Trong bóng đêm, hơn chục người ngồi chúm chụm, xới cơm ra từng suất, mà ăn. Để đỡ khát, họ lại đập vỡ quả dưa hấu mua ở bên kia đèo Hải Vân để ăn cùng với cơm

Ngày hôm sau, trời sáng, nhờ sự chỉ dẫn của anh em lái xe đường dài, mua được bộ lốp xe REO dự phòng. Nhưng càng đi càng thấm đòn. Từ Kỳ Hòa ra đến Thanh Hóa, đường xấu nên còn mấy lần nổ lốp. Mỗi lần nổ lốp, đều để lại một kỷ niệm đắng cay trong cuộc hành trình. Ai cũng mệt, cũng vất vả mà không dám trách nhau, bởi vì đã đồng lòng chở thêm để kiếm hoa lợi

Xe đi qua Quảng Bình, tưởng rằng yên tĩnh ngờ đâu đến Kỳ Hòa lại bị nổ lốp. Thế là đành tốp xe bên đường, cho người đi các phía tìm cửa hàng để vá lốp, hoặc mua bộ săm lốp mới.

Nam vào ngôi nhà một bên đường, thấy anh chủ nhà mặc áo bộ đội kiểu cũ, anh gợi chuyện, chủ nhà kể đã từng tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ.

Đồng chí cựu binh này có vẻ thông cảm với lính trẻ, nên vui vẻ cho mượn bếp, mượn nồi, cho dùng củi của gia đình mà nấu cơm. Ai cũng vui . Nhưng đến khi chúng tôi vào bữa, thì con trẻ “đi làm đồng” ở đâu kéo về , rất tự nhiên anh nói : “ Các con đi ăn cơm với mấy chú ” Chúng ăn như tầm ăn lá dâu, loáng cái hết cả phần chiến sĩ canh giữ xe ngoài đường. Lại rút kinh nghiệm vậy. Bữa sau, nấu thêm gạo, thế mà vẫn chưa đủ cho các cháu ăn. May sao trên xe có gạo nên anh em bảo nhau bảo:” Nấu cơm hai xuất (quân + dân) để mọi người đều no đủ”..Lính ta chơi đẹp như thế, nhưng hôm sau, anh em lên đường, ông chủ nhà lại tính nợ đòi đủ thứ : tiền thuê đồ nấu, tiền củi, tiền mắm muối. v,v. Anh em le lưỡi bảo nhau : Đã biết quê choa chưa !

Đêm hôm sau, trời đã tối, xe dừng lại ngủ đêm ven đường.

Lúc này Khu IV đang mất mùa, nên nhân dân đón xe trong Nam ra để mua gạo, xe nào tới họ cũng lên xe tìm gạo, không e dè sợ hãi chi. Tám chú lính đi xa nhà, lại đang tuổi thanh niên nên khi các cô xông lên xe tìm gạo, cũng là lúc các chú phản đòn. Nam ngồi trên ca bin nghe tiếng chị em la oai oái, tiếng cười con giai, hòa điệu vui vẻ. Khống thấy tiếng ai chu chéo giận hờn.

Các cô mua gạo đã xuống xe đi xa, lại xuất hiện mấy cô bá vai nhau dáng điệu lả lơi, vừa đi vừa hát, đến gần xe, công khai rủ các chiến sĩ “ Anh ơi, có đi chơi vui cùng chúng em không ? ” . Anh thiếu tá dẫn quân ra Bắc nói với Nam “ Các cô này là gái làm tiền đó, bọn này táo tợn lắm ”

Nam nhoài người ra cửa nhìn xuống, đúng như lời thiếu tá nói, đã có cô lả người trong vòng tay chú lính.

Ông thiếu tá hầm hầm mở cửa ca bin bước xuống, quát lớn :

-Nếu đồng chí không nghiêm chỉnh, tôi sẽ thi hành kỷ luật.

Nam thấy anh chiến si buông cô gái, ông ta đuổi mấy cô ra xa. Cứ dình dập nhau cho đến nửa đêm, các cô thấy không làm ăn được, đành rủ nhau đi tìm xe khác.

Chứng kiến những cảnh ấy, Nam lại nhớ về cô Út. Giờ này em đã ngủ hay còn thức, Ước chi có một phương tiện liên lạc, để thông tin với em những nỗi vất vả trên đường. Đến lúc này, Nam lại suy nghĩ về câu nói của em “ Anh cưỡng lời Út, cố tình ra Bắc tháng này thì gập nhiều vất vả lắm ” Nhưng Nam biết xử trí ra sao khi nhiệm vụ đè nặng trên vai !

Xe không hỏng máy, nhưng nổ lốp hoài vì chở nặng lại gập đường xấu, cứ vấp phải một ổ voi, dù là xe REO cũng thấy rủn tinh thần. Từ Thanh Hóa trở ra, xe chạy thoải mái hơn vì các xe về Nam đã thông tin cho biết từng nơi có trạm vá săm lốp. Chỉ qua Thanh Hóa là đã đến Nam Định, cái món hàng phế liệu chiến tranh dỡ xuống, nỗi khổ của anh em cũng bớt đi, nhưng số tiền mà chúng tôi kiếm được cũng chẳng còn là bao. Nam nói với anh cán bộ đơn vị đi theo xe “ Dọc đường xe nổ lốp nhiều lần, anh làm chứng để chúng tôi yêu cầu đơn vị chịu một phần thanh toán” chỉ nghe đến đấy , anh ta đã giẫy như đỉa phải vôi, hất mọi trách nhiệm sang phía người thuê xe

Anh ta cãi rằng “ Xe tôt, máy tôt, trọng tải vừa phải thì đâu nên chuyện. Lỗi do bên B đã cho phép chở thêm hàng ,gây chậm trễ lịch trình, bên B phải chịu mọi khoản !” Thấy hắn giở mặt như vây, Nam im lặng, hiểu ra sự đời đã muộn.

Xe tới Văn Điển Nam tổ chức một bữa ăn chia tay. Trong bữa ăn, anh nói : “Trong chuyến đi này, tôi đã hứa với các chiến sĩ là cùng nhau lo đời sống được tươm tất, nhưng không may xe bị nổ lốp nhiều lần, số tiền kiếm được đều chi mua săm lốp. Bây giờ còn được bao nhiêu, xin chia hết cho anh em, Tôi không giữ làm của riêng”, Chia hết số tiền cho anh em bộ đội về quê, Nam lại trở về tay trắng. không còn một đồng vốn trong người. Của thiên đã giả địa.

Cách xử sự thoải mái như vây làm các chiến sĩ đều cảm động, họ chia tay anh hẹn có ngày gập lại.

Hơn hai tháng xa nhà, trải nhiều vất vả, Nam đã hoàn thành nhiệm vụ, giúp cho xí nghiệp gỡ khó vì thiếu vật tư. Anh chị em công nhân vui lắm, họ mừng vì anh đã hoàn thành một việc lớn, giúp xí nghiệp hoàn thành kế hoach


Lời tiên đoán thứ hai đã ứng nghiệm :

Lúc bấy giờ ở miền Bắc nước ta đang lâm vào suy thoái kinh tế Xí nghiệp nào cũng ế hàng, sản phẩm sản xuất ra không ai mua. Tại nông thôn do say sưa trước “chiến thắng” nên đã có tình trạng duy ý chí. tập trung nhiều HTXNN nhỏ thành một Hợp tác xã Nông nghiệp Lớn. Nhưng Ban Quản trị vẫn là những con người cũ nên có tình trạng quản lý kém, rong công phóng điểm, ngày công của xã viên chỉ đáng nửa lạng thóc. Trước cảnh cán bộ HTX tham ô lũng đoạn, dân chỉ biết kêu trời qua câu ca phản biện xã hội :

Mỗi người làm việc bằng hai

Để cho cán bộ mua đài, mua xe

Mỗi người làm việc bằng ba

Để cho cán bộ xây nhà xây sân

Cuộc sống vất vả của nông thôn đã khiến cho đồng chí Kim Ngọc- bí thư tỉnh ủy Vĩnh Phúc - nhìn ra vấn đề, mạnh dạn xé rào, cho phép nông dân cấy chui. cấy khoán. Cuộc “cách mạng của ông Kim Ngọc” đã nhanh chóng bị xóa nhòa, bản thân ông Kim Ngọc bị cách chức, bị kỷ luật. Toàn Đảng học tập bài viết “Hãy mau mau xóa bỏ cái lý luận ba khoán” Nhưng sự bức bách trong sản xuất nông nghiệp đã lên cao điểm, sau khi ông Kim Ngọc bị kỷ luật thì tại Hải Phòng, đã có HTX xé rào cho phép dân cấy chui, khoán chui. Không thể làm ngơ trước phong trào của quần chúng, BCH TW đã họp, ra nghị quyết 10, khoán sản phẩm đến hộ lao động .

Trong cái khó khăn về kinh tế ấy, Nam đã tổng hợp tình tình ở xí nghiệp Hải Hà. so sánh với sức sản xuất tại Phân xưởng B để viết thành một lý thuyết kinh tế, mang tên “Hợp đồng sản xuất” gửi lên Cục để xin phép áp dụng Nhưng anh đâu có biết “Hội đồng Nội vụ của Cục” sau khi họp để nghiên cứu đề xuất ấy, đã kết luận rằng :

-Đây là một sai lầm về tư tưởng, người này mới vào Thành phố Hồ Chí Minh 3 tháng, mà đã dấn sâu vào vũng bùn “chủ nghĩa thực dân mới” định lợi dụng chức vụ đưa Xí nghiệp đi chệch con đường xã hội chủ nghĩa.

Tan cuộc họp, một ủy viên gập Nam buồn rầu trách cứ :

-Sao em lại viết cái lý thuyết kinh tế đó. Em bị kết tội rồi đó, từ nay không thể ngóc lên được đâu.

Sự thông báo của ông ủy viên Hội đồng Nội vụ làm cho anh buồn rầu, đau đớn. Bao nhiêu công lao đi về phía Nam để tìm cách có vật tư, giúp cho xí nghiệp tránh bị ách tắc sản xuất, chỉ là công cốc, Nam chới với trong cơn lốc xoáy, hình như mọi cố gắng của xã hội đều bị ngăn cản bởi bức tường duy ý chí .

Đang lúc đó, Tổ chức cử người đến thay ông Giám đốc Cũ, ông Mới thực hiện ngay ý đồ của cấp trên là không cho Nam làm trưởng phòng Vật tư nữa, với một cớ rất đơn giản : “ anh Nam chưa có quyết định bổ nhiệm chính thức” Đến xí nghiệp được vài hôm, ông ta cho mời các đầu ngành cùng họp bàn về tổ chức sản xuất . Ông ta nói :

-Ai làm việc cũng đều có ê kíp . Tổ chức được một ê kíp tốt thì trên bảo dưới nghe, còn nếu không thông với nhau thì công việc không xong Tôi sẽ chọn trong các đồng chí ngồi đây một số người làm cán bộ “phụ trách” bộ môn. Nếu làm tốt thì sẽ đề cử chính thức, làm dở thì xin lui xuống, để anh khác lên thay . Hề Hề …Ai cũng chỉ là Cán bộ phụ trách mà thôi. Có như thế , tôi mới có bộ máy của riêng tôi, vượt qua cái khó khăn hiện nay .

Ông ta nói như vậy, và cũng làm ngay. Với lý do Nam chưa có sự bổ nhiệm của Vụ tổ chức, hắn mời một công nhân bậc cao lên làm việc phụ trách Phòng Cung ứng Tiêu thụ, đưa Nam trở lại vị trí phó phòng, nhưng tước bỏ một số quyền hạn mà Giám đốc cũ đã trao cho anh .

Từ đó, Nam chỉ lúi húi trong cái buồng nhỏ của mình, không được phép thay mặt xí nghiệp đi kết giao, hợp đồng với cấc các nơi . Phương án kết giao giữa xí nghiệp với các đơn vị khác đành hủy bỏ. Lúc đầu anh cứ nghĩ ông ta thay chức mình là bởi những bất hòa giữa hai người hồi còn làm việc ở Phòng Kỹ Thuật, sau ngẫm ra mới thấy ông ta vội vàng thay chức anh bởi đó là yêu cầu của Tổ chức.

Phương án “cán bộ phụ trách” là một đối sách dùng người của Giám đốc mới. Ông ta không có tài, mấy chục năm qua chưa kinh qua một một chức vụ nào, nay bỗng dưng được bước lên thang danh vọng, sợ mọi người nhìn rõ điểm yếu của mình, nên đã sử dụng chiêu bài :”dùng cán bộ phụ trách” để đe nẹt cấp dưới, ai nấy đều tự hại nhau, ninh nọt cấp trên để tranh chức của nhau. Nó là một đòn hiểm đối với cán bộ dưới quyền , tạo nên tâm lý người có chức vụ thì cố giứ để mong đạt “chính thức”, kẻ dưới quyền, kẻ chưa có chức vụ thì rình mọi lý do khiếm khuyết của “cán bộ phụ trách” để tạo cơ hội nhằm tranh lấy cái chức vụ của người đó. Do đó, tại cơ quan xảy ra tình trạng ba tháng một lần thay cán bộ là một điều thường xuyên

Từ khi Nam bị mất chức, anh chị em công nhân có nhiều người nhìn anh với con mắt thông cảm. Những lần nghỉ trưa, anh em cùng ăn cơm với nhau. trong chén rượu ngà ngà say, cũng có sự xì xầm bàn tán . Nhiều người đã hỏi thẳng Nam :

Tại sao anh chịu lép thế đến thế ?

Đó là do sự sắp xếp của Tổ chức, mình phải nghe theo ?

- Thế cái hồi thiếu giây ê may, anh phải vất vả mang đồng đỏ đi gia công đổi lấy giây ê may để sản xuất không bị vỡ kế hoạch. Có ai làm được như anh.không ? Giám đốc này có làm được không, mà nay họ ăn cháo đá bát .

-Ông lại say rồi , công việc của tôi xin để tôi tự lo, các ông góp nhiều ý kiến, tôi không biết theo hướng nào.

-Thé thì ông sẽ chết kẹt, ông Nam ạ

Nam nhớ lại khi chia tay ở thành phố Hồ Chí Minh, Út có nói “ Chú sẽ gập 3 điều định mệnh” . Là một người theo thuyết duy vật, anh không tin vào những điều mà Út đã dặn, nay sau chyến đi, va vấp với cuộc đời, bao nhiêu tiền bạc kiếm được đều tiêu tan. bản thân bị mất chức.

Thế là những lời tiên đoán mà Út nói cho biết đã dần lộ rõ,

Tiền bạc vừa trắng tay thì khi về nhà, anh em gập nhau chưa lâu, chú em ruột đã trở bệnh, Trong cuộc sống, chú là một người ốm yếu, nhưng mỗi năm mỗi tuổi, chú cũng lớn lên đòi quyền sống, quyền được làm việc như mọi công dân Trước khí thế cả nước lên đường chống Mỹ cứu nước, đã nhiều lần chú xin đi công trường hăng hái đến các nơi làm việc, đóng góp sức mình cho kháng chiến . Mẹ anh thương chú lắm, thường bảo chú không phải đi lao động, ở nhà mẹ nuôi nhưng chú không nghe. Cho đến khi anh đi vắng, chú lén đi phụ hồ, vác bao ciment, bị vẹo cột sống, phải bó bột, rồi nằm bệnh viện, trở thành người ốm liệt giường. yếu sức dần nhưng cố chờ Nam về, anh em gập nhau, chú hỏi thăm mọi chuyện rồi mới lên đường đi về nơi Tây phương Cực lạc.

Hôm ấy trước khi đi xa, chú vẫn tỉnh táo, đòi ngồi dậy, chống tay lên giường, hát vang bài ca “Chiếc gậy Trường Sơn”. Tiếng hát cứ nhỏ dần , và chú thanh thản ra đi.


... CÒN TIẾP ...



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 16.5.2017.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004