Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới







HẠT BỤI CỔNG CHÙA






T ừ lâu, chùa X. vẫn phát cơm chay từ thiện mỗi trưa, nên có nhiều Phật tử đến làm công quả. Đa số là các bà lớn tuổi.

Bếp nhà chùa nấu cơm rồi chia sẵn vào từng hộp phát cho người nghèo đến nhận đem về chứ không tổ chức ăn tại chỗ. Cơm chay cũng đơn giản, không cầu kỳ nên nhà bếp chỉ bận rộn tới khoảng hơn mười giờ sáng là hết việc. Các bà thơ thới, ai về nhà nấy trong tâm trạng hỉ hoan sau khi góp chút công lao vào việc cứu vớt (bao tử) một bộ phận sinh linh sa bước khốn cùng.

Chỉ mình bà Bưởi ở cả ngày, chiều tối mới về. Ngoài phụ bếp cơm từ thiện, bà chủ động đảm đương nhiều việc khác trong chùa: thay hoa và đèn nến ở chánh điện; lau chùi, quét dọn trong ngoài; chăm sóc vườn rau, cây cảnh… Thành thử các chú tiểu tự nhiên rảnh rỗi, nhàn nhã hơn. Ngoài chú Huệ Minh lớn nhất, mười tám mười chín gì đấy, thì Huệ Lộc mười bốn còn Huệ Từ mới lên mười, dù sao cũng đang tuổi ăn tuổi ngủ nên không được… siêng cho lắm. Giờ bỗng dưng có người tự nguyện đỡ tay bao nhiêu việc linh tinh, các chú mừng rơn, chẳng dại gì khách sáo, càng thêm thời giờ chuyên tâm học hành.

Tuổi khác nhau, tính tình cũng khác nhưng ba chú rất thương yêu nhau, có lẽ vì chung một hoàn cảnh xuất thân: trẻ mồ côi. Cửa Phật từ bi chẳng bao giờ từ chối một đứa bé cuống rốn chưa lìa, bị ai đó dấm dúi bỏ trước cổng chùa rộng mở. HHHNgót ba mươi năm trụ trì chùa X, sư cụ đã ôm vào lòng nhiều đứa trẻ đáng thương như thế. Để rồi sau đó, số đông được các cặp vợ chồng hiếm muộn xin về làm con nuôi, số ít hơn ở lại chùa tu tập. Và trong số ở lại đó, khi lớn lên, nếu có ý nguyện hoàn tục về đời, sư trụ trì đều vui lòng chấp thuận, như đã vui lòng đón nhận chúng vào chùa nuôi dưỡng ngày nào.

Cả ba chú Huệ Minh, Huệ Lộc, Huệ Từ hiện nay không hề có ý nghĩ hoàn tục. Các chú rất quyến luyến sư cụ, tỏ ra yêu thích cuộc sống tu hành. Sư cụ đặt nhiều tâm huyết lẫn kỳ vọng vào ba đệ tử trong veo như ba giọt nước giếng ấy.


***


Thông thường, một khi các bà vào chùa làm công quả, tựu chung chỉ với hai mục đích: tích đức hoặc đền tội (cho chính mình hay cho ai đó).

Bà Bưởi thì khác. Bà đi “làm công quả” vì… ghét con dâu! Nói chính xác: vì ghét con dâu quá nên bà tự ái, không muốn phải sống nhờ hột cơm của “vợ chồng chúng nó” nữa. Con vợ đã tệ, thằng chồng thì răm rắp nghe vợ, bênh vợ chằm chặp, chẳng coi mẹ ra gì! Đứa con dâu sao mà lắm tội: hậu đậu, hoang phí, đua đòi, ham ăn diện…. Nó nhiều tật xấu thế mà con trai bà si mê lắm, nằng nặc đòi bà phải rước nó về.

Vào chùa, nghe sư cụ giảng kinh, bà thấy sao mà chí lý: chẳng phải chỉ khi xa lìa người ta thương yêu, ta mới đau khổ. Mà phải sống chung với người ta ghét, ta cũng đau khổ chẳng kém! Ngày nào cơn giận cũng âm ỉ trong lòng làm tim đau gan nóng khiến bà ăn ngủ không yên. Bất kể con dâu làm việc gì, bà cũng thấy chướng mắt. Nó mở miệng nói câu gì, bà cũng… lộn ruột. Nó ngậm miệng không nói câu gì, bà càng… lộn ruột hơn (“À, hóa ra nó khinh mình!”). Thế có khổ thân già không, hỡi trời cao đất dày?

Lắm phen, bà Bưởi chỉ muốn xách gói quần áo đùng đùng bỏ đi ngay cho khuất mắt: “Mặc kệ cha chúng bay! Để hàng xóm, bạn bè phỉ nhổ vào mặt, xem chúng bay có sợ mất vía phải đi rước bà về không nào? Bỏ mẹ già lang thang khổ sở là đại bất hiếu, nhục lắm chứ chẳng chơi!”

Nhưng bà Bưởi biết đi đâu khi đầu đuôi bà chỉ có mỗi một mống con trai này thôi? Bà còn người chị ruột thì người chị ấy cũng đã già yếu hơn cả bà, cũng đang sống dựa vào đàn con, giống bà. Lấy lý do đến thăm chị ở chơi đôi ngày vài bữa thì được, chứ ở lâu không ổn tí nào. “Con mình đẻ ra còn bạc bẽo, huống gì cháu?”, bà chép miệng nghĩ, mỗi khi từ nhà chị xách nón lủi thủi quay về.

Người ta bảo “cái khó ló cái khôn”, không sai. Sau một đêm thao thức thở dài sườn sượt, bà Bưởi chợt nảy ra một ý và hăm hở thực hiện ngay: xin vào chùa X. làm công quả. Chùa gần nhà, có tổ chức bếp ăn từ thiện, luôn cần nhiều người thiện nguyện như thế.

Con trai lẫn con dâu nghe bà tuyên bố, cùng im lặng, không can gián cũng chẳng tỏ vẻ ngạc nhiên. Như thể chúng cho đấy là một sự đương nhiên mà lý ra bà phải làm từ lâu rồi kia! Bà Bưởi càng tức điên, hậm hực quấn cái khăn vải lên đầu, chụp thêm bên ngoài vành nón lá, ngoay ngoảy bỏ đi sau khi quẳng lại cái nguýt dài thậm thượt.

Ở trong chùa cả ngày, chiều đến bà Bưởi ra về, tay xách đong đưa một bình nước trong vắt múc từ giếng chùa, như ngầm quát vào mặt con dâu: “Từ nay tao không thèm ăn hột cơm, uống ngụm nước nào của chúng bay đâu nhé!”

Sư cụ không biết, các chú tiểu ngây thơ không biết, các bà làm công quả chung với bà Bưởi cũng không biết mục đích thực sự của bà. Ai cũng đinh ninh bà “làm công quả tạo phước” thôi. Mà đã mang danh nghĩa “đi làm công quả”, dĩ nhiên bà phải bới việc ra mà làm, cho bận bịu luôn tay, chứ ăn rồi ngồi hóng gió thế nào được?

Vì vậy chỉ ít lâu, bà Bưởi đã thấy… oải. Việc nhà chùa như lá rụng vừa quét xong đã lại rơi đầy, chẳng bao giờ ngớt. Tuổi già sức lực còn được bao nhiêu mà không thấm mệt? Đầu váng. Mắt hoa. Tay yếu. Chân chậm. Đêm trở mình, từng khớp xương rệu rã kêu lục cục như ai oán, rỉ rên.

Đôi lúc, bà Bưởi giận lây các chú tiểu vô tư sao không phát giác ra bà làm gì cũng lề mề, chậm chạp, để bảo bà rằng: “Bà lại cái võng kia nằm nghỉ đi, để việc này chúng con làm…” nhỉ?

Rồi bà lại giận quàng giận xiên sang các chị em khác: làm chung với nhau đã nhiều ngày mà chưa một ai quan tâm hỏi lý do vì sao bà vào chùa làm công quả. Nên bà chẳng có cơ hội để kể tội con dâu, nên những ấm ức tích tụ trong lòng bà chẳng có chỗ nào phát tiết. Chắc họ nghĩ lý do của bà cũng y như họ, có gì mà phải hỏi!

Cơm chay ăn mãi đã ngán. Cái thanh tịnh vườn chùa không còn làm lòng bà yên ả, mà càng gợi lên nỗi hiu hắt, cô đơn. “Về không được, ở chẳng xong”, bà càng trút oán giận vào con dâu. Cũng vì ghét nó, bà mới bỏ vào chùa để “tiến thoái lưỡng nan” thế này đây. Bà thầm van vái Bồ Tát hiển linh thúc đẩy vợ chồng chúng nó một lần (chỉ một lần thôi) bảo bà: “Thôi, từ mai mẹ đừng lên chùa nữa! Làm công quả bấy nhiêu ngày cũng đủ phúc đức lắm rồi...”, để bà vờ vĩnh trưng ngay ra vẻ mặt đầy tiếc nuối, trước khi miễn cưỡng… nghe theo.

Nhưng hai đứa vẫn im thin thít. Chúng nghĩ bà tích đức (hoặc đền tội… thay chúng) chưa đủ công lượng chăng?


***


Lần đầu tiên ghé vào chùa, cô gái trẻ ấy có hành tung khá lạ. Vội vàng, dớn dác trông ngược ngó xuôi như định tìm ai lại như đang muốn giấu giếm một bí mật. Nếu căn cứ vào bộ quần áo có phần nhàu nhĩ cô mặc, người ta sẽ nghĩ đây là một người nghèo đến chùa xin cơm từ thiện. Nhưng cô không hề giống bất cứ ai khác: không hỏi cơm, không van vái cầu nguyện hay thắp nhang trước bàn thờ Phật, không tìm một góc vườn yên tĩnh để ôn thi hay đọc sách, cũng không thong dong thưởng ngoạn cảnh chùa, càng không thấy đóng góp gì vào thùng công đức. Cô đi loanh quanh, nơi nào cũng xộc vào, nghiêng nghiêng ngó ngó. Trừ khu nhà bếp khá nhộn nhịp ra, lúc này chùa rất tĩnh lặng và các chú tiểu đều đi học cả.

-Cô cần gì thế?

Bà Bưởi chặn cô lại, tò mò hỏi.

-Cháu muốn gặp riêng sư trụ trì.

Sư cụ vừa đi xong, chiều cô hãy đến…”, câu trả lời chưa kịp bật ra đã bị nuốt ngược trở vào. Ấy là vì bà Bưởi phát hiện cô gái này có ánh mắt giống hệt mắt con dâu bà. Lúng liếng! Đong đưa! Trước giờ, điểm khiến bà “dị ứng” nhất nơi con dâu chính ở cái lúng liếng này đây. Cho nên đã không chút thiện cảm, bà còn lập tức đánh giá tư cách cô gái này rất thấp. Thật buồn là trên đời vẫn có những người vô lý như thế: khi đã định kiến với kẻ nào thì cũng sẵn sàng định kiến lây sang ai “lỡ” mang dáng dấp tương tự kẻ ấy.

Nên chỉ lạnh lùng buông mấy tiếng “Sư cụ đi vắng!” là bà ngoe ngoảy bỏ đi, mặc kệ cô ta hai tay vo tròn chéo áo, tần ngần đứng ngóng vào chánh điện.

Rồi hai ngày kế tiếp, cũng tầm chín giờ sáng, cô gái lại đến. Xui cho cô, tuần này sư cụ bận việc rời chùa từ sớm, cô đều về không.

Tín đồ gặp riêng hòa thượng trụ trì là bình thường nên bà Bưởi chẳng quan tâm. Chỉ khi nghe Huệ Từ vô tư kể: cô gái còn hỏi về chú Huệ Minh nữa, thì bà mới giật mình, sinh nghi. Là sao nhỉ? Cô ta cũng trạc tuổi chú ấy, liệu có khi nào…?

Cứ nhớ đến đôi mắt cô ta rập khuôn mắt con dâu, bà lại thấy… bất an. Thì hãy nhìn con trai bà kìa, gương nhãn tiền đấy: nó cứng cỏi, bậm trợn vậy mà còn bị cái lúng liếng kia quật đổ, huống chi chú Huệ Minh chơn chất, thật thà? Vài chị em vẫn rúc rích bông phèng vào tai nhau rằng: chú Huệ Minh điển trai, trắng trẻo, cao ráo thế kia, nếu không khoác áo nâu sòng nhất định sẽ rất… đào hoa!

Càng nghĩ càng ngờ vực, tích Quan Âm Thị Kính hiện ra mồn một lớp lang khiến bà lo và sợ. Lo Thị Mầu thời @ tái hiện, sợ chú Huệ Minh trẻ người non dạ… vụng đường tu! May là trong cả hai buổi sáng, chú ấy có giờ học ở trường, không biết gì.

Bà Bưởi để ý kiểm soát chặt chẽ, nhất là khi chú Huệ Minh có mặt ở chùa. Bà thấy quả nhiên lần nào cô ta cũng hỏi chú ấy, không chỉ hỏi suông mà hôm qua còn đòi gặp trực tiếp nữa kia! Hừ, đời nào gặp dễ thế? Ngay cả lởn vởn gần chỗ Huệ Minh còn bị bà “đánh chặn từ xa” kia mà!

Ấy vậy mà sáng nay, từ giếng nước lót tót lên sân trước, bà Bưởi giật mình thấy bên gốc sứ trắng, cô gái kia đã sáp lại chỗ chú Huệ Minh từ lúc nào, mặt tươi hơn hớn! Bữa nay cô ta đến hơi sớm, bà có ngờ đâu?

Chết thật!… Chướng mắt quá!” Chỉ cần cô ta đứng gần Huệ Minh là đủ để bà “chướng mắt” rồi! Bà sấn lại, chen ngang vào giữa, gay gắt:

-Này, cô muốn gì thế?

Hỏi rồi lại tự trả lời luôn:

-Sư cụ đi rồi, nhé!

Bà đẩy vai Huệ Minh xua chú đi nơi khác, rồi hơi hếch mặt lên:

-Cần gì, cô nói với tôi.

Cô gái vẻ cam chịu, chỉ lí nhí:

-Thôi ạ… Để mai…

Cô gái thật kiên trì, liên tiếp suốt tuần như thế, chẳng kết quả gì mà vẫn không nản lòng. Rảnh nhỉ, không có việc gì làm à? Bà Bưởi đinh ninh cô ta thực sự chỉ cốt nhắm vào Huệ Minh thôi, nhìn bộ mặt rạng rỡ lúc tiếp cận chú ấy là biết! Bà càng ghét cay ghét đắng, gia tăng canh chừng. Vào khung giờ cô quen đến là bà lảng vảng ở sân trước, để xua cô ngay từ cổng chùa cho… khuất mắt!

Áp đặt cô gái chỉ là thứ rác rưởi xấu xa, bà Bưởi tự khoác lấy sứ mệnh “giải cứu” chú Huệ Minh, “bảo vệ” thanh danh nhà chùa, chứ chưa bao giờ nghĩ đã lạm quyền, khắt khe vô lý.

Bà vẫn gọi lén cô là Bạch Cốt Tinh, Yêu nhền nhện, Cáo chín đuôi, Thị Mầu… và ngấm ngầm đắc ý thấy tên nào cũng thích hợp cả. Đúng quá! Lẳng lơ cám dỗ Tiểu Kỉnh Tâm hay Đường Tam Tạng, đích thị chỉ có Thị Mầu và bọn yêu quái thôi!


***


Nhưng có đúng bà Bưởi võ đoán quá không? Nếu “có” thì chuyện vừa xảy ra phải nghĩ thế nào? Rành rành hai năm rõ mười, lại trước mặt Huệ Lộc nữa, có phải riêng mình bà đâu?

Sáng nay, hai chú Huệ Minh, Huệ Lộc cùng nhau trồng mấy gốc mãng cầu xiêm chỗ cuối vườn sau, gần cổng hậu rất ít khi có ai ra vào. Chẳng hiểu sao cô gái biết được đã lẻn vào đây từ bao giờ mà bà Bưởi không hề hay biết, lúc cắp rổ ra vườn định hái rau mới thấy cô ta mặt đối mặt Huệ Minh rồi.

Bà càng bàng hoàng, không tin vào mắt mình khi chứng kiến cô đột ngột nắm tay áo rộng của chú Huệ Minh kéo lật lên, cho lộ ra cả khuỷu tay trắng như da con gái.

Như bị ong chích, bà Bưởi quăng rổ, vừa la toáng vừa hào hển chạy đến. Quá quắt lắm! Trời Phật ơi! Bồ Tát ơi!

Mặt bà Bưởi đỏ bừng bừng, do quá giận. Mặt cô gái cũng đỏ bừng bừng, có lẽ do xấu hổ. Bị mắng xối xả, cô chỉ ấp úng:

-Cháu xin lỗi… Là… cháu…

Bà quát lên, át giọng:

-Về đi!... Sư cụ đi rồi!

Đang tức, bà quay sang trách luôn chú Huệ Minh:

-Sư cụ không cho phép chú… như thế… đâu…

Rồi cố vận hết sức lực, bà nắm áo cô ta vừa kéo vừa đẩy tuồn tuột ra cổng:

-Đi ngay!… Đi đi!

Hai cánh cổng hậu mở ra rồi đóng sập lại ngay, chát chúa.

Thực sự bà Bưởi đã cố tình nói dối: sáng nay sư cụ ở chùa, không đi đâu cả. Bởi thấy cô ta “manh động” nên bà quyết liệt không cho tiếp cận, dù với chú tiểu non nớt hay hòa thượng bạc tóc. Biết bọn yêu nữ sẽ còn giở trò ma mãnh gì?

Suốt ngày, nhớ lại hành vi “mạo phạm” ấy, bà Bưởi vẫn tức ấm ách, muốn nổ đom đóm mắt. Hừ, lố lăng hết sức! Trên đời hết sạch con trai rồi sao? “Cọc đi tìm trâu” đã khó chấp nhận, đằng này lại “lăn xả” vào người tu hành nữa chứ! Con cái nhà ai chẳng biết xấu hổ là gì? Làm sao cho “nó” đừng tới “ám” chú Huệ Minh nữa đây?

Nghĩ mãi… nghĩ mãi… cuối cùng bà Bưởi cũng tìm ra kế sách mà bà cho là hữu hiệu nhất: “tố cáo” với cha mẹ cô ta! Chẳng cha mẹ nào ủng hộ con gái làm thế. Sợ chuyện xấu xa đồn đãi bung bét, đưa đến hậu quả khó lường, chắc chắn họ sẽ có biện pháp ngăn chặn.

Trước hết là dò xem nhà cô ta ở đâu? Bà Bưởi đoán không phải người địa phương nên chị em trong chùa chẳng ai biết tí gì về cô cả. Nhưng tìm nhà chắc cũng không quá khó vì bà để ý đã biết cô ta luôn đến rồi về bằng chuyến xe buýt có trạm dừng rất gần chùa. Phương tiện di chuyển này rất thuận tiện cho bà bám theo cô ta, chỉ cần ngụy trang một chút để không sớm bị nhận ra.

Bà Bưởi âm thầm tính toán kế hoạch. Mai bà sẽ nghỉ một ngày công quả chờ sẵn ở trạm dừng xe buýt, đợi lúc cô gái đón xe về. Bà yên tâm vì ngày mai cả sư cụ lẫn chú Huệ Minh đều đi vắng thật sự, cô ta sẽ về ngay thôi.

Rồi cha mẹ cô gái phản ứng sao đây? Buồn rầu, giận dữ hay đau khổ chưa biết, nhưng nhất định hồi kết sẽ bất ngờ, thú vị và gay cấn! Nỗi tò mò thúc đẩy bà Bưởi thêm háo hức. Thật hấp dẫn khi là người đầu tiên phanh phui một bí mật, lại càng hấp dẫn hơn khi sau đó được rỉ tai loan truyền cái bí mật ấy.


***


Cô gái đã đến, với tâm trạng buồn bã khác thường, mặt bơ phờ hốc hác như thiếu ngủ, bước chân nặng nề. Hình như có một ám ảnh gì khiến cô lo lắng, bất an.

Cô mệt mỏi lên xe, bà Bưởi kín đáo theo chân ngay. Bà đã mặc áo gió bên ngoài lại cố tình chùm cái khăn che nửa mặt, kéo thêm vành nón sụp khỏi mắt, để có ngồi gần thì cô ta cũng khó nhận ra. Nhưng cô gái có chú ý đến ai đâu, vẫn thờ thẫn… thẫn thờ… thế nào, lên xe buýt rồi xuống xe buýt dường như chỉ theo phản xạ.

Cô gái đổi liên tiếp hai tuyến xe. Đường khá xa, xe lắc lư mạnh làm bà Bưởi mau chóng thấy mệt nhọc. Đầu váng, mắt hoa. Tình trạng này kéo lâu hơn nữa, sợ bà không chịu nổi sẽ phải bỏ cuộc, kế hoạch hay ho khó thể tiếp tục hoàn thành rồi!

Bà Bưởi thấy khó nghĩ quá, chưa biết làm sao thì xe buýt đã ghé trạm dừng và cô gái vừa bước xuống. Ô, may quá, đến nhà rồi! Bà hí hửng nghĩ để rồi thất vọng khi cô rẽ vào cổng… bệnh viện. À, cô ta còn đi thăm ai!

Nhưng lúc này mới tầm mười giờ, lại là ngày đầu tuần, đâu phải thời điểm cho người ngoài vào thăm? Thông thường, các bệnh viện ấn định khoảng thời gian từ bảy đến mười một giờ -trừ ngày nghỉ- dành riêng để bác sĩ khám chữa bệnh lâm sàng nên “nội bất xuất, ngoại bất nhập”. Những ai đang nuôi bệnh cũng phải tạm thời ra khỏi khoa, tìm chỗ nào đó ngồi chờ. Người ta thường dùng “thời gian chết” ấy để trò chuyện, đọc báo, đánh cờ, ăn, ngủ hoặc đi đâu đó… Đã nhiều lần vào các bệnh viện, bà Bưởi biết rõ quy tắc ấy.

Bà lưỡng lự, đắn đo không biết nên tiếp tục đi theo hay chỉ cần lảng vảng ngay cổng bệnh viện chờ, vì thế nào cô gái chẳng phải ra về? Nhưng sẽ còn chờ bao lâu nữa? Vài mươi phút dưới tiết trời nắng nóng này, xem ra cũng chẳng thoải mái gì!

Chưa có chủ đích, chân bà vẫn đều đều bước theo. May mắn, khoa bệnh cô gái hướng đến ở ngay tầng trệt. Một tấm biển to treo ngang dãy phòng cửa đóng im ỉm mang ba chữ đậm nét “KHOA UNG BƯỚU”. Bên ngoài khoa, khá nhiều người đang đứng ngồi vạ vật. Mặt ai cũng ủ ê, căng thẳng.

Nhác thấy cô gái, một người đàn ông đang mệt mỏi ngồi dựa lưng vào tường đứng bật dậy, kêu lên:

-Ô kìa, cô không mang điện thoại à? Tôi gọi mãi không được.

-Tối qua cháu quên sạc pin.

-Điều dưỡng báo tin mẹ cô mất rồi...

Chỉ nghe thế là cô gái đổ quỵ xuống. Mọi người xúm lại nâng cô lên, nhốn nháo thoa dầu, xoa bóp, giật tóc mai cho tỉnh dậy. Cô lăn lộn, khóc ngất:

-Mẹ ơi… con để lỡ tâm nguyện… của mẹ rồi…

Người đàn ông thở dài:

-Ra cô lại vừa lên chùa.

Cô tức tưởi kể lể:

-Cả tuần, người ta nói sư cụ đi vắng… Giờ thì muộn rồi… Mẹ cháu chưa yên lòng… chết không thanh thản…

Ai đó tặc lưỡi, vu vơ:

-Nhanh quá! Sáng còn tỉnh lắm…

Đứng bên cạnh, bà Bưởi bàng hoàng, mơ hồ cảm nhận câu chuyện không phải như bà đã suy diễn. Có lẽ quan trọng hơn, thiêng liêng hơn. Theo những gì vừa nghe được thì cả tuần nay cô gái lên chùa để hoàn thành tâm nguyện của mẹ.

Đột nhiên, bà chạnh lòng, ân hận nhận ra mình đã khắc nghiệt, vô lý và quá đáng với cô. Chỉ vì cặp mắt cô cũng đong đưa, lúng liếng giống con dâu bà nên tiềm thức xô đẩy bà đối nghịch với cô, khiến bà phạm sai lầm không thể sửa chữa. Đúng thế, người mẹ mắc bệnh nan y đã chết khi tâm nguyện dở dang, còn sửa chữa làm sao?

Cô gái vẫn vật vã không thôi. Người đàn ông nhắc:

-Thôi, cô mau đi làm giấy tờ đưa mẹ về…

Được hai người tốt bụng vừa xốc vừa dìu hai bên, cô gái rũ rượi lết từng bước ngắn.

Lúc họ đi ngang, bà Bưởi nghe một người hỏi nhỏ:

-Mẹ cô còn tâm nguyện gì? Chúng tôi giúp được không?

Bà Bưởi cũng muốn hỏi thế nhưng lại thấy không cần thiết nữa. Bà mệt mỏi lặng lẽ đi ra cổng bệnh viện. Giờ thì bà sợ phải nghe lọt bất cứ câu trả lời nào của cô gái.

Nhưng cô gái cũng không trả lời. Trên đời có nhiều điều rất khó để nói ra. Chẳng phải ngay mẹ cô cũng đã rất khó khăn đó sao? Nhiều năm, bà âm thầm ôm giữ bí mật riêng mình. Nếu không đột ngột phát hiện căn bệnh ngặt nghèo đã ở giai đoạn cuối, bà vẫn chẳng hé môi.

Hơn hai mươi năm trước, một mình từ tỉnh lẻ khăn gói vào thành phố học Đại học, mẹ cô gái đã yêu lầm một người đàn ông đang có vợ. Yêu cuồng nhiệt. Yêu quên thân mình. Yêu bất chấp hậu quả. Nên khi hậu quả hiện hình, ông ta sợ hãi trốn biệt tích. Không đủ can đảm thú nhận với gia đình lại càng không dám nhúng tay vào tội ác, bà mẹ âm thầm chịu đựng. Sinh mới hai ngày, bà đã trốn bệnh viện, ôm con lẻn đi.

Nửa năm sau, chiều lòng cha mẹ, bà lên xe hoa và theo chồng về một tỉnh rất xa. Lần lượt sinh bốn con gái nhưng lại chỉ nuôi sống được một, bà bị cả nhà chồng kết án. Ngay khi chồng hất hủi, bà cũng không oán trách, chỉ đinh ninh tất cả là cái giá đền “tội” xưa.

Tuy vẫn chìm khuất trong bóng tối, lỗi lầm ấy luôn ám ảnh người mẹ. Nung nấu nỗi nhớ thương đứa trẻ bạc phước, bà bứt rứt không yên. Trong đêm thâu mất ngủ, bà vẫn nhớ tiếng khóc yếu như tiếng mèo kêu của nó. Nhớ hai cánh môi bé xíu nhem nhép đòi sữa. Nhớ vết bớt trên bắp tay có màu đỏ sẫm, tương tự một vệt máu loang.

Bà không hiểu sau đêm đó, cuộc đời thằng bé trôi dạt về đâu? Nó còn sống hay đã chết yểu từ lâu? Có may mắn được lớn lên trong một mái gia đình, dù lắp ghép nhưng đủ đầy cha mẹ, hay đang côi cút lạc loài xó chợ đầu đường?

Thời gian được con gái đưa vào thành phố chữa bệnh, bà nhen nhúm chút hy vọng mong manh. Tâm nguyện cuối cùng của bà chỉ là tìm ra ngôi chùa xưa, để hỏi thăm vị hòa thượng trụ trì số phận một hạt bụi nhỏ nhoi bị vứt bỏ trước cổng chùa…



.Cập nhật theo nguyên bản của tác giả từ SàiGòn ngày 15.5.2017.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004