Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới







LÃO… VẪN HÀNH QUÂN









  1. Lão cho cái bi đông đựng nước – kỷ vật đời chiến duy nhất còn lại của lão – vào túi xách rồi nở một nụ cười độ lượng, nửa như hàm ơn, nửa như chiến thắng xen lẫn hy vọng với vợ con. Và lão bước nhanh ra ngõ. Ở đấy có thằng cháu lão làm việc ở huyện, đang chờ, tiện đường sẽ chở lão lên bến xe. Thời tiết bữa nay đẹp. Trời trong. Nắng sạch. Lão thấy phấn chấn. Thế là lão đã thắng hiệp đầu. Lão càng tin vào chiến thắng của cả chuyến đi này. Không gì thì một khởi đầu tốt đẹp cũng dễ để cho người ta hy vọng vào một kết cục có lợi khi bắt tay vào làm một việc gì đó.

Có lẽ ông thầy làng bên nói đúng?! Cuộc đời lão chưa khi nào tin vào cái việc xem ngày giờ, tướng số, nhất là sau mười năm từ chiến trường về, mười năm lão sống với những giây phút trên ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết thì lão càng không tin vào những lời phán của bất kỳ ai. Lão chỉ tin vào hành động, cách hành động và kết quả hành động. Với lão, vậy là đủ. Vậy mà lần này, trước khi đi lão đã “lén lút” qua làng bên nhờ ông thầy được xem là nức tiếng cả vùng, định cho một cái ngày, giờ “hoàng đạo” nhất. Cho yên cái bụng. Lão nghĩ đây là cuộc hành quân lớn thứ hai của đời lão, sau cuộc hành quân mười năm kháng chiến. Đây là cuộc tổng tiến công và nỗi dậy cuối cùng. Dù gì lão cũng đã sáu mươi rồi, gần đất xa trời rồi. Cái thân già như cổ máy đã rệu rã, lỏng ốc, khô dầu mở có thể sẽ rệu rã hơn sau chuyến đi này. Nhưng lão quyết dốc tất cả vào “ván bài” cuối, cả vốn là mười năm thanh xuân nơi đại ngàn Trường Sơn lẫn lãi là bao chuyến đi trước đây của lão.

Lão muốn tìm lại những gì chính ra lão phải được, lâu rồi. Lão muốn xã hội phải thừa nhận lão, một chút thôi. Vì vậy khi ông thầy nhăn trán, hóp mũi, giật giật mi mắt rồi nâng kính lên hạ kính xuống phán cho một ngày và bảo “Bác cứ xuất hành như tôi bảo, nhất định việc sẽ hanh thông. Mà tướng bác về già có hồng phúc lớn lắm đấy” thì lão lấy làm mừng lắm. Ít nhất lúc này lào còn có ông thầy xem ngày đứng về phía mình. Chưa khi nào lão thấy mình muốn tin vào những người làm “thầy” mà chẳng ra thầy như lão vẫn nghĩ về những người hành nghề này xưa tới nay như lúc ấy.

Và giờ này, khi đã ngồi sau xe thằng cháu, lão lại càng tin hơn.

2. Đời lão, nói như mấy ông bạn trong tổ cờ tướng là “thật quá, người quá”. Lão là một trong những đảng viên mang bao huy hiệu, huân huy chương trong mình từ chiến trường Tây Nguyên theo đội quân thần tốc tiến về Sài Gòn vào tháng tư lịch sử năm xưa. Rồi lão ra quân. Trong khi người ta chuyển ngạch đi học cao, học thấp tùy trình độ học vấn hay ở lại phục vụ lâu dài cho quân đội thì lão nằng nặc đòi về.

Về mà chẳng cần gì. Chỉ chiếc ba lô, mãnh vải dù và cái bi đông đựng nước. Giữa lúc Sài Gòn đang vỡ ra, ai về mà chẳng kiếm chác chút gì cho gia đình, chí ít là miếng vải, cây quạt hay bộ xích líp, khung xe đạp… Nhưng lão thì không. Tịnh không. Lão vội về với thầy u xóm núi, với cô bạn mười năm chắc vẫn chải tóc bên bờ suối chờ lão. Người ta bảo khi một cánh cửa khép lại thì cánh cửa khác sẽ mở ra, thường sẽ mới hơn, hứa hẹn hơn. Nhưng lão khép lại đời chiến hết sức nhẹ nhàng, bình thản không một chút nghĩ suy, không một chút mảy may, như tự nhiên nó thế để về cầm lại tay cày tay cuốc với ý nghĩ thế là lẽ tự nhiên.

3. Rồi con tạo xoay vần. Xã hội vặn mình răng rắc đi lên. Lúc này, khi đã có một độ lùi nhất định, đất nước đã đứng được trên đôi chân kinh tế của mình thì người ta mới có thể nhìn lại cuộc chiến thần thánh đã qua. Nhìn lại và ghi nhận những công lao, xương máu của những đồng đội, con người thế hệ lão thì lão mới giật mình như mới bước lên từ thửa ruộng ngấu bùn đã bừa xong mà xem lại thấy quên chưa cuốc góc bờ. Lão đâu còn gì. Mấy cái huy hiệu, huân huy chương đứa con lão táy máy lấy nghịch, đeo vào làm chỉ huy chơi trận giả từ hồi chăn trâu đốt lửa, giờ còn chắc cũng ngã màu đất trên đồi hay dưới suối. Còn giấy tờ thì mấy cơn lũ quét thưở cùng cực đã đưa về phương nào không hay. Nói như vợ lão “Giấy tờ có ăn được đâu, lo giữ mấy bồ thóc, bắp ngô đã vả mồ hôi rồi”.

Mà thật. Với lão những thứ ấy cũng chỉ là chút tự mãn nhất thời, nó đã qua. Cái lão được lớn nhất là những kỷ niệm về đồng đội với bao trận đánh như hằn lên mỗi nếp nhăn chạy rần rật trong mạch máu. Cái ấy mới thực, mới sống động. Khổ nỗi người ta không nghĩ như lão. Người ta cần những cái giấy, trong ấy có chữ ký và con dấu đỏ. Người ta không cần những kỷ niệm, những trận đánh mà năm nào mỗi dịp kỷ niệm ngày thành lập quân đội hay ngày thương binh liệt sĩ lão vẫn được mấy trường cấp một, cấp hai trong xã mời lên sinh hoạt, nói chuyện khiến bao thế hệ há miệng nghe không chớp mắt mà thích thú, mà thán phục.

4. Lão quyết lên huyện hỏi hồ sơ. Nhưng ông trời chơi ác. Huyện mới tách. Người ta bảo lão lên huyện cũ. Huyện cũ lại bảo đã chuyển cả hồ sơ xuống huyện mới. Người bảo lên. Người bảo xuống. Rồi lão lại ra tỉnh. Cái đận ra tỉnh mới hút chết. Lão bận bộ quân phục bàng bạc lâu ngày để trong tủ còn vương mùi thuốc chống dán, khoác thêm cái ba lô. Mới xuống tới bến xe, đang định hướng đi đâu về đâu thì quân cướp giật ở đâu ào qua, nhanh như một ngọn gió gầy tháng chạp. Đôi mắt lão không đủ nhanh và chân tay lão không đủ khỏe như người lính năm xưa, lão hô hoán đuổi theo thì chỉ còn nhặt được chiếc bình biđông đựng nước giắt phía ngoài, văng ra. Vậy là mọi vốn liếng kỷ vật của lão còn lại mỗi chiếc biđông. Hôm ấy chắc lũ cướp tưởng lão mới trên rừng xuống, đào đá đỏ, vàng bạc hay tìm trầm về. Có lẽ chúng sẽ phải chuyển nghề nếu lần nào cũng gặp những cái ba lô như của lão.

Vậy đấy. Lão sắn quần chạy đi chạy lại. Ngơ ngác. Nếu như trong ván cờ mỗi khi xuất quân lên là mỗi lần lão thể hiện được sự dàn trận biến hóa khôn lường thì giờ đây lão chẳng khác gì con sĩ, hết lên, lại xuống, có khi đứng ngẫn tò te nhìn xe, pháo, mã tung hoành ngang dọc. Để rốt cuộc nhận được câu trả lời “Hồ sơ thất lạc”. Mệt bả hơi mà không được gì. Bực hơn là mấy tên “nhãi ranh” đụng chút là hạch sách. Chúng cỡ tuổi con lão. Chúng đâu biết mùi đạn bom là gì, sống chết ra sao. Vậy mà dám hạch sách lão. Lần đầu lão bực. Cố nhịn cho xong chuyện. Nhưng chuyện đâu có xong. Lại rối thêm. Điên quá lão “vả” lại. Chiến trường dạy những người lính như lão, nếu nó bắn ta, không hòa giải được thì ta phải bắn trả lại nó. Đơn giản vậy thôi. Lão nói như lên đồng, như lên lớp một tiết lịch sử hay hơn bất cứ một bài học lịch sử nào mà những anh lính bàn giấy hách dịch cửa quyền kia từng được học qua. Rồi lão thất thểu về. Kệ mớ đời!

5. Tưởng thế là xong. Lão sẽ về với con trâu luống cày, với vườn cây hoa trái xanh xanh như đời lão mãi xanh, và thanh thản. Vợ con lão cũng đâu có kêu ca gì. “Gần hết đời người rồi, tóc ngã màu theo vết thời gian, bàng bạc, làm gì mà phải vác tấm thân chạy theo để cho chúng “hành””. Con lão nhiều khi có chén nói ngang ngang mà xem ra cũng đúng. Kể ra có chút chế độ cũng tốt. Mà không thì bấy lâu nay lão vẫn sống. Sống đẹp nữa là khác. Gia đình vẫn ấm, con cái học hành tới chốn.

Lão tự bằng lòng với mình. Nào ngờ, sự thật chơi xỏ lão. Có người tưởng trước kia bị bắt đi cải tạo vì mới vào chiến trường, dính đạn, vào viện. Xuất viện xong thì sợ quá trốn về quê. Ấy vậy mà giờ đưa giấy tờ và vết thương ra để làm chế độ; có thằng đáng tuổi em út lão cũng lên biên giới, rồi sợ chạy mất giày, tự bắn vào chân để thương nằm viện; hay trêu ngươi hơn là có lão mới sâu răng mà đi khám lại cũng thành thương binh. Nhiều lắm. Bao nhiêu người xưa nay nhìn vào hành trình ra trận của lão phải ngã mũ cúi chào thì bỗng chốc lại có chế độ. Lại ngửa cổ cười. Lại nằm mát ăn bát vàng. Lão không hiểu tại sao họ thành thương binh nhanh thế. Họ đi bằng cửa nào? Vốn dĩ cuộc sống này nhiều cửa, nhiều lối đi mà. Tất cả đang mở ra. Ai cũng có thể chọn cho mình một lối đi riêng. Lão cũng vậy. Nhưng cách lão chọn khác họ. Cánh cửa lão chọn dẫn lão đi về phía khe hẹp, chỉ riêng lão, độc hành, vào trái tim.

6. Những ngày dài trôi đi, lão mơ màng bơi giữa những trận đánh, hỉnh ảnh bao đồng đội cũ ngã xuống vào mùa mưa rồi mùa khô hay ngay cửa ngõ Sài Gòn, thậm chí giải phóng rồi vẫn hi sinh một cách tức tưởi vì những viên đạn lạc hay bắn tỉa… với những đứa trẻ trong xóm chiều chiều lại tụ quanh lão. Những lúc hào hứng như vậy thì không sao. Nhưng khi dứt khỏi mạch chuyện, nghĩ lão lại bực. Vết thương trong người lão lại cựa quậy. Nhưng lão không thấy đau ở đấy nữa. Lão thấy đau, đau hơn ở phía ngực trái. Một nỗi đau âm ỉ, kéo dài. Vết nhăn trên mặt lão xô lại, đan xen, níu kéo chằng chịt như những con đường mòn trong rừng thưở trước. Những con đường mòn lão và đồng đội lão đã đi vẹt bao đôi giày đôi dép còn những vết nhăn giờ là trằn trọc giằng xé đang đi lên và để lại. Cơ hồ sâu trong mỗi vết nhăn ấy là những ghĩ suy rậm rạp hơn cả rừng Trường Sơn năm nào.

Rồi sau mấy đêm thức cùng đồng đội dưới bàn thờ lão tự lập ở nhà để hương khói mong đồng đội đỡ bớt phần quạnh hiu, lão quyết đi. Đi một chuyến vào quân đoàn cũ mãi miền Tây Nguyên xa xôi. Lão phải chứng minh một điều – Lão là thương binh. Lão muốn được xã hội thừa nhận, chính xác, trên giấy tờ chứ không phải chỉ qua những câu chuyện lão vẫn kể, mà có kẻ “thối miệng” bảo lão bịa chuyện, nói lấy được theo kiểu bốc thơm. Để rồi sau đó lão sẽ được gì nữa? Không ! Lão chỉ cần vậy là đủ. Để rồi, có thể lão sẽ được chết. Chết một cách thanh thản. lão nghĩ thế.

7. Và sau những ngày căng thẳng thuyết phục vợ con, bán con bò, lão dắt lưng cục tiền rồi đi. Vợ con lão không tiếc gì con bò. Mà thương lão. Lụ khụ quá rồi. Nhưng lão ...



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả từ VũngTầu ngày 24.4.2017.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004