Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới






CHIẾC XE LĂN CHỞ TIẾNG CƯỜI








  T rong căn nhà nhỏ ven sông Đà có hai con người làm nên một huyền thoại giữa đời thường. Không phải bằng tiền của, dáng mẽ bên ngoài mà huyền thoại họ tạo nên bằng tình thương vô bờ, bằng tình yêu nồng thắm và cả bằng nghị lực phi thường. Tôi bảo rằng họ đã và đang xây nên một tượng đài tình yêu bên dòng Đà Giang hùng vĩ...

34 năm nằm một chỗ làm thơ

Chu Phạm Minh Tuấn ở xóm Độc Lập xã Hợp Thịnh- Kỳ Sơn –Hòa Bình sinh năm 1962. Người ta thường bảo rằng con trai tuổi Nhâm Dần là tài ba và thành đạt lắm. Vậy mà với Tuấn thì chỉ được một nửa. Là con trưởng trong một gia đình đông con, từ nhỏ anh đã phải lam lũ nơi đồng đất quê nhà phụ việc cùng cha mẹ. Sáng dạ và thông minh nên Tuấn là học sinh giỏi của trường cấp I Hợp Thịnh trong suốt mấy năm liền. Đang học dở lớp 5 thì căn bệnh viêm đa khớp đã bắt anh phải nằm viện hơn ba tháng liền. Ông Tấn và bà Điểm nhìn con trai phải bỏ học, quằn quại trong đau đớn mà trong tim ứa máu. Mấy tháng đi hết viện huyện, viện tỉnh đôi chân của Tuấn cũng chỉ nhúc nhắc được nhờ hai chiếc nạng gỗ. Không có tiền chữa tiếp, ông bà đành gạt nước mắt đưa con về nhà tìm thầy lang mong điều may mắn sẽ đến. Ông đạp xe đi Ba Vì-Sơn Tây tìm thuốc. Ông vượt sông Đà sang bên Phú Thọ tìm thầy. Thương con ông lần mò khắp chín phương, tám hướng. Những thang thuốc đông y đã giúp cậu khỏi dần và tháng 9-1974 Tuấn tiếp tục đi học lại. Niềm vui chưa được tày gang, đang học dở lớp 6 thì bệnh cũ tái phát và lần này còn nặng hơn lần đầu. Tuấn ngồi trong lớp học nhưng cắn răng chịu cơn đau hành hạ. Thầy cô, bạn bè thương em trào nước mắt. Khi không đi nổi nữa, Tuấn nhờ Quân vừa là bạn học vừa là cậu ruột cõng tới trường. Nghị lực phi thường của cậu học sinh lớp 6 cũng không thắng nổi bệnh tật. Đến tháng 11-1976 hai chân Tuấn bị liệt hoàn toàn, anh chỉ lết người quanh nhà. Mỗi ngày bệnh của Tuấn càng nặng thêm và đến năm 1983 tay trái của Tuấn cũng không cử động được nữa. Trước đây Tuấn còn dùng hai tay chống nạng hay cầm hai chiếc ghế con lê thân thể đi khắp nhà giờ anh đành chịu và đành nằm lì một chỗ. Bố mẹ Tuấn đứng nhìn đứa con trai nằm co quắp trên giường, mọi sinh hoạt hết thảy phải nhờ người khác lòng quặn đau một cách vô vọng. Tuấn nằm theo dõi các chương trình của Đài tiếng nói Việt Nam. Năm 1991 Tuấn đã có bài gửi cho Đài và nhận những đồng nhuận bút đầu tiên. Năm 1993 Tuấn được Đài tiếng nói Việt Nam bình chọn là một trong 10 thính giả suất sắc nhất. Tuấn đã viết nhiều bài thơ về tình bạn, về quê hương Hợp Thịnh với bãi bồi mươn mướt ngô xanh bên dòng sông Đà. Năm 1999 anh tham gia cuộc thi thơ ‘‘ một thế giới-một tâm hồn ” do Hội bảo trợ người tàn tật và trẻ mồ côi Việt Nam và Hội bảo trợ người tàn tật và trẻ mồ côi tỉnh Hòa Bình phối hợp tổ chức. Đọc bài thơ “ Chiếc xe lăn ” đạt giải khuyến khích của Tuấn tôi biết anh nén nỗi đau để nuôi khát vọng sống đẹp. Đến khi ngồi với Tuấn thì tôi mới hiểu rằng tất cả mọi điều tưởng như vô vọng nhưng vẫn có thể làm nên nhờ có tình yêu. Chính tình yêu chứ không phải cái gì khác đã tạo nên những điều kỳ diệu của cuộc sống con người.

304 bức thư tình và 2000 ngày mong đợi

Những ngày tháng nằm tại vị trên chiếc giường nhỏ Tuấn đọc tất cả. Bạn bè, anh em xa gần biết Tuấn ham học nên sưu tầm đủ các loại sách báo đem về mong cho Tuấn khuây khỏa. Thời gian từ năm 1995 chương trình ‘‘ Thời sự và âm nhạc” của Đài tiếng nói Việt Nam mở mục ” Kết bạn ”. Qua các địa chỉ thông báo trên làn sóng phát thanh, Tuấn nằm ngửa viết những lá thư gửi đi bốn phương. Đáp lại tình cảm và sự chân tình của anh, những lá thư của Kiều Oanh ở Mỹ Lộc- Hải Dương, Minh Huế ở Đông Hưng- Thái Bình, Lệ Ngân ở Xuân Thủy- Nam Định, Đặng Anh Thư ở Xuân Trường –Nam Định vv và vv đã hồi đáp. Mọi người khi đọc thư của anh càng thương và trân trọng tình cảm của một chàng trai không may mắn. Trong đó có một cô gái tên rất đẹp : Đặng Anh Thư. Thư biết Tuấn là một chàng trai tật nguyền từ năm 14 tuổi. Qua những trang thư mà cô biết rằng Minh Tuấn là một chàng trai có nghị lực, trái tim đầy nhiệt huyết và bao khát vọng mặc dù anh không đi lại được. Nhờ những lá thư mà Tuấn biết mình có một cô bạn gái còn rất trẻ nhưng giàu lòng nhân ái, thông minh và thích tham gia các hoạt động xã hội. Anh Thư sinh 1975, là con thứ ba trong một gia đình có 4 chị em. Cha Thư đã từng là chiến sĩ quân đội thời chín năm kháng chiến, hòa bình lập lại ông về quê hương Hành Thiện-Xuân Trường-Nam Định xây tổ ấm gia đình. Thư lớn lên trong tình yêu thương đủ đầy của cha mẹ, anh chị em. Một chiều ngồi trên đê lộng gió nhìn ra biển, Anh Thư nhận được thư của một người xa lạ. Đó là lá thư đầu tiên của Minh Tuấn viết ngày 20-6-1995 với lời lẽ chân tình và mấy câu thơ làm quen: Tâm hồn ta chiều nay thanh thản/ Nét bút gầy rung động con tim/ Ghi gì đây hỡi bạn chưa quen/ Xin gửi tặng vần thơ kết bạn. Từ cái ngày định mệnh ấy, Thư đã đổi thay. Ngoài những buổi đến nhà thờ giúp các sơ chăm sóc những người tàn tật và trẻ em không nơi nương tựa trở về, cô đau đáu ngóng chờ một lá thư của người bạn trai Hòa Bình chưa biết mặt. Tuấn cũng chẳng khác gì Anh Thư, anh nằm ngửa vật lộn với từng dòng chữ . Cứ viết được một, hai dòng Tuấn lại nghỉ cho đỡ mỏi tay, mỏi mắt lại viết tiếp. Như sự thôi thúc từ phía biển xa, Tuấn nhận được thư của Anh Thư là phúc đáp ngay mặc đêm khuya, mặc những khớp tay, chân đau tê dại. Họ đã viết cho nhau như thế gần 2000 ngày đêm. Có bức thư chỉ nửa trang giấy học sinh nhưng có những bức kín chữ mấy trang khổ phơi đúp. Tôi ngồi lần giở 304 lá thư hai người đã gửi cho nhau trong gần năm năm trời mới thấy điều kỳ diệu của cuộc sống. Lá thư sau dài hơn thư trước. Càng về sau thư chở tình càng nặng hơn và lửa trong mỗi con tim của họ đã truyền cho nhau qua từng dòng chữ nhỏ càng nóng bỏng hơn. Một ngày Đông lạnh giá, Thư đã vượt hơn 200 cây số lên thăm Tuấn. xuống huyện lỵ Kỳ Sơn, đạp xe dọc bờ sông Đà vừa đi vừa hỏi thăm về Hợp Thịnh. Gió buốt lạnh từ mé sông phả vào khuôn mặt tươi trẻ. Mặc, Thư cứ hăm hở, cúi mình dấn bàn đạp mong sao nhanh được gặp người cô đã ngưỡng mộ và thương yêu. Còn gì sung sướng hơn, hạnh phúc hơn với họ khi tay trong tay, mắt trao ánh mắt và nói với nhau những lời sâu nặng ân tình. Hai ngày họ bên nhau và một chân trời phía trước đã đến. Thư quay về Nam Định xin cha mẹ, họ hàng được làm vợ của Tuấn. Thư thưa với mẹ cha rằng :” Chỉ có con mới làm cho Tuấn vui hơn, yêu cuộc đời này hơn và tự tin hơn. Con đã chọn rồi, cha mẹ đừng cản trở. Con biết cuộc sống mai này chẳng hề giản đơn nhưng con lấy người con yêu thương là con hạnh phúc...”. Họ đã quyết định cuộc đời này của họ phải thuộc về nhau, được dâng hiến cho nhau. Vượt qua mọi đàm tiếu, mặc cảm và cản trở ngày 13-11-2001 dân làng xóm Độc Lập- Hợp Thịnh được dự một đám cưới thật xúc động. Chú rể ngồi trên xe lăn đón cô dâu ở đầu làng trong bộ váy hồng trên ô tô bước xuống. Cô cúi hôn anh và đẩy xe lăn vào phòng cưới ở gia đình. Tình yêu của hai người đã được dệt từ 304 lá thư cùng 105 tấm thiếp mừng ngày sinh nhật hay những ngày ý nghĩa của hai người. Tôi đã giành thời gian tiếp xúc, gặp gỡ, trao đổi với nhiều người ở Hợp Thịnh về câu chuyện tình nhà Tuấn Thư. Bà Nguyễn Thị Tuyết Phó chủ tịch Hội phụ nữ xã Hợp Thịnh nói lên cảm nghĩ như nhiều bà con ở đất quê này đã nói : “ Đối với vợ chồng Tuấn Thư họ cho là bình thường nhưng với địa phương đây là một điều đặc biệt. Một người bị tật nguyền hơn ba chục năm trời nhưng không hề bi lụy, tiêu cực. Còn cô vợ nhỏ nhắn tươi trẻ chịu thương, chịu khó và hết lòng vì chồng. Tình yêu thương không tính toán thiệt hơn của họ đã để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng nhân dân Hợp Thịnh ”. Nếu được đứng ngắm ngôi nhà ba gian gọn gàng và ngăn nắp của vợ chồng Tuấn Thư, ít người biết rằng trong căn nhà nhỏ ven dòng Đà Giang có hai con người làm nên một huyền thoại giữa đời thường. Không phải bằng tiền của, dáng mẽ bên ngoài mà huyền thoại họ tạo nên bằng tình thương vô bờ, tình yêu đằm thắm và cả bằng nghị lực phi thường.

Chiếc xe lăn đầy ắp tiếng cười

Sau ngày Tuấn Thư cưới nhau, hai người tính đến kế sinh nhai. Thư là một cô gái khéo tay hay làm. Với nghề đã có, Thư mở cửa hàng may cắt quần áo ngay tại gia đình. Những năm trước khi quần áo may sẵn chưa tràn vào thì Thư bảo rằng tháng cũng kiếm đủ sống. Mấy năm nay thu nhập đã sút đi nhiều một phần phải chi phí cho việc chữa bệnh của Tuấn. Hơn nữa từ ngày cháu Thành Đạt chào đời, Thư phải chăm sóc cho con, cho chồng mọi việc từ A đến Z và họ cũng không có tiền thuê cửa hàng ở mặt đường. Mỗi tháng Tuấn được trợ cấp ít ỏi từ Hội bảo trợ người tàn tật, Thư làm may cũng được khoảng hai triệu đồng. Cô chăn nuôi gà, ngan, trồng rau xanh để đỡ phải chi vào đồng tiền ít ỏi . Hàng ngày Tuấn nằm trên giường, bên cạnh là bàn may của Thư hai người vui đùa với con và cười nói râm ran. Họ sống như tất cả mọi đôi lứa trên trái đất này có khác chăng đó là hai con người khác nhau về lực. Một trẻ trung, hồn nhiên và tận tâm, tận sức hiến dâng tất cả cho người mình yêu thương. Một tật nguyền nhưng khát khao vươn tới cái đẹp của cuộc đời. Hai con người ấy chung trí tuệ, mơ ước và họ trao cuộc đời cho nhau không hề tính toán. Cái buồn của họ đã ở lại ngày hôm qua như Tuấn viết trong bài thơ Chiếc xe lăn đạt giải khuyến khích trong cuộc thi thơ ý nghĩa năm nào :

Chiếc xe lăn ngày ngày đưa anh/ Đến thăm sân trường đầy lá/ Gặp anh tìm nỗi buồn thơ ấu/ Chỉ thấy tiếng cười trong trẻo giữa hư không/ Và ngày ngày cứ thế những chiều/ Chiếc xe lăn quen đường/ Chở tiếng cười về/ Chở nỗi buồn đi.

Năm mươi tuổi đời với 34 năm ốm đau đến nỗi teo tóp cả hai chân và một cánh tay khẳng khiu như cành bàng mùa đông. Chu Phạm Minh Tuấn đã khẳng định rằng một người không gặp may mắn như anh nhưng không phải là chấm hết. Khát vọng sống, khát vọng yêu và mong muốn hòa nhập với cuộc đời đã cho Tuấn gặp Thư. Hai con người với hai trái tim cháy bỏng yêu thương, lòng nhân ái và giám sống, giám chịu trách nhiệm những điều mình đã quyết. Tuấn Thư đã và đang xây tổ ấm cho mình nhưng tôi nói với họ rằng các bạn đã xây một ‘‘ Tượng đài tình yêu ” bên dòng Đà Giang. Họ như mầm cây vẫn vươn lên mặc nắng, mưa, bão táp, sương sa. Chuyện tình của vợ chồng Tuấn Thư còn lưu mãi trong ký ức bao người ở vùng đất cuối sông Đà và họ rất cần thêm những vòng tay nhân ái tiếp sức để thắp sáng ước mơ nuôi cháu Thành Đạt khôn lớn, nên người.



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả từ HoàBình ngày 09.4.2017.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004