Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới






CÁI SỰ ĐỜI








L ão Mận năm nay tuổi đã ngoài tám chục vậy mà sáng nào cũng dậy sớm đi bộ. Qua ngõ nhà tôi, lão cầm gậy nhẹ vào cánh cổng sắt. Đó là ám hiệu lão rủ tôi dậy cùng đi bộ với lão. Lão bảo: “Đi bộ là giải pháp tốt nhất rèn luyện sức khỏe, để sống cho lâu mà nhìn cái sự đời”. Chẳng biết sự đời lão nhìn là cái gì? Tuổi như lão, còn chưa chịu buông xuôi, canh cánh “cái sự đời” làm chi nữa chứ? Hơn bốn mươi năm lăn lộn, lão chưa thấy hết cái sự đời, thẳng cong, tròn méo hay sao mà còn cố sống để nhìn? Chắc trong lòng lão già còn ẩn ức điều gì chưa thể nói ra?


Tôi với lão Mận là bạn vong niên. Mùa hè, lão dậy từ khi trời đất còn lờ mờ. Tôi bảo: “ Bác dậy sớm quá!” Lão khề khà: “Không ngủ được, nằm mãi chỉ mong cho trời nhanh sáng”. Thường tôi chỉ đi bộ với lão một vòng, rồi chạy trước. Đi cùng lão, tôi thấy mình già theo. Lão vừa đi vừa ho, mùi dầu cao chống gió từ người lão bay sang, tôi có cảm giác giống như mình đang nằm trong bệnh viện.

Có một dạo, bảy tám ngày liền, không thấy tiếng gõ vào cánh cổng, tôi tưởng lão ốm, đến thăm, nhưng không phải, lão đi thăm đứa con gái đầu làm chủ lò nước mắm trên thành phố. Con gái đầu của lão năm nay đã gần sáu chục. Tôi chỉ nhỉnh hơn vài tuổi. Ví như ngày xưa, có duyên, tôi thuộc hàng con rể của lão.

Làng tôi thuộc vùng bán sơn địa, đồng đất cả bãi cả đồi. Ngày xưa, tức là ngày lão Mận còn đang là cán bộ huyện, vùng này nổi tiếng ngô bãi, được nhân điển hình. Chính vì lão là người đi đầu, đưa giống mới có năng xuất cao vào thâm canh cho nên từ bí thư đoàn xã, được điều tít lên huyện làm cán bộ phong trào. Hai năm sau, lại được cất nhắc về tỉnh, rồi đi đâu không ai biết nhưng xa lắm. Làng tôi ngày ấy, theo lời mẹ tôi kể, lão Mận cưới được cô Khát xinh đẹp và giỏi dang nhất làng. Khi lão Mận lên huyện, cô Khát làm bí thư chi đoàn. Năm sau, khi ông Ngô Công Trạng, bạn lão làm bí thư Đảng ủy, cô Khát được cất nhắc sang hội trưởng hội phụ nữ. Ngày ấy, người ta, cất nhắc, điều động cán bộ như sắp quân cờ, nhanh lắm chứ không quy hoạch quy hiếc như bây giờ.


Thoáng thế mà lão cũng đã về hưu gần hai chục năm. Đi bộ chỉ là để cải thiện sức khỏe chứ đâu phải là phép cải lão hoàn đồng? Tuổi già có tha ai? Mặc dù lão cố công luyện tập như thế nhưng sắp này thấy lão yếu tợn, đi bập bõm bữa đực bữa cái . Có hôm tôi mở cổng, thấy lão đang đứng chống gậy thở. Lão kêu mệt và đau. Lão kéo cái ống quần pi gia ma lên cho tôi xem, thấy hai đầu gối đỏ tấy. Tôi khuyên lão nên về vì trời lạnh, độ ẩm cao, rất bất lợi cho người bệnh khớp. Lão nghe lời tôi quay về nhưng vẫn đứng một lúc lâu nhìn theo, vẻ như tiếc nuối một thời tuổi trẻ đã vĩnh viễn đi qua.

Tưởng lão đang bị bệnh, dừng đi bộ vài hôm, vậy mà sáng hôm sau, tôi đã thấy lão đang lọ mọ đi phía trước rồi. Tôi động viên: “ Bác đúng là một tấm gương sáng về lòng dũng cảm và đức tính kiên trì chiến thắng bệnh tât.” Động viên thế cho lão vui, chứ tôi nhìn lão thực sự ái ngại. Bước chân lão đi run run, dáng ngả nghiêng. Nếu không có cây gậy, chắc lão chả đi nổi vài bước. Mấy hôm sau trời nắng, căn bệnh khớp của lão có phần thuyên giảm, lão phấn khởi lắm. Hôm ấy, tôi nhường lão đi trước, tôi đi sau. Tôi nhìn kỹ lão, thấy thương. Một người đã trải qua gần bốn chục năm cống hiến, sáu mươi năm tuổi Đảng, bôn ba là thế mà bây giờ thân thể oặt ẹo như cái rễ khoai, chả có ma nào quan tâm chăm sóc, một mình chịu đựng, chống chọi với bệnh tật, cố nhoi lên để tồn tại mà chẳng biết được mấy nữa. Ngẫm sự đời mà buồn. Lão bảo với tôi, sáng lão dậy, mụ Khát, vợ lão cũng dậy theo. Khi lão chống gậy đi ra đường thì mụ Khát ra vườn hái rau, cà chua, cà pháo, chuẩn bị hàng đi chợ. Khi lão đi bộ về, mụ vợ đã gánh hàng đi. Chợ quê họp mãi cuối bãi ngô, vợ lão cứ gồng gánh theo con đường dọc bãi mà đi. Vãn chợ, mụ về, phần thực phẩm mua cho lão chỉ có hai thanh đậu phụ, thế thôi. Bệnh của lão phải kiêng khem. Hôm nào thèm, chót dại mà chấm mút chút thịt bò, hải sản, nuốt khỏi miệng, chỉ có mà kêu trời. Gần bảy mươi nhưng mụ Khát vợ lão gân cốt còn khỏe, mụ xắn quần, cặp đùi gái chân dài một thời còn hồng như con gái, trồng rau, gánh nước phân, nhanh thoăn thoắt. Tôi hay đùa lão: “ Này, hỏi thật bác chứ, tháng có còn “tiếp xúc cử tri” được một lần không?” Lão thật thà: “ Quên lâu rồi anh ạ! Từ cái thời bằng tuổi anh, cái đó đã đầu hàng!

- Thế là bác yếu! Nhiều cụ tám chục vẫn còn muốn cưới vợ cơ đấy!

- Đó là những anh khỏe, không phải đi đâu xa, ăn uống tẩm bổ thường xuyên, chứ tôi, mấy chục năm nằm biên giới, đi lại nhiều, ăn uống kham khổ, sốt rét kinh niên nên giờ yếu tợn Như thằng cha Ngô Công Trạng làng ta đó thôi! Nó bằng tuổi tôi đấy, mà da đỏ như gà chọi, rượu tu cả chai. Chỉ khổ cho nó là con vợ già khú, trông như con bú du, gớm chết. Nó khỏe, là vì thời trẻ, nó có phải đi đâu đâu? Hết làm chủ tịch, rồi sang bí thư Đảng ủy xã. Thời còn bao cấp, gạo thịt của dân, chúng lấy mấy mà chẳng được? Bữa nào chúng ăn cũng như đại tiệc, có lũ tay chân, kẻ hầu người hạ. No xôi chán chè rồi lại tếch lên huyện làm phó chủ tịch. Đó! Có bằng có cấp chi? Chẳng qua là có dây có nhợ, có ô có dù! Thế mà có lần báo chi đăng, bảo hắn là kỹ sư nông nghiệp đấy! Thật đúng là lũ bịp bợm! Chỉ chết những thằng thật thà như tôi.

- Thì bác cũng cán bộ tỉnh chứ có thua gì ông ấy?

Lão Mận dừng lại một lúc lâu không nói. Tưởng lão phật ý, tôi định xuê xoa để lão bỏ qua, nhưng không. Lão lên tiếng nhưng giọng khác hẳn. Giọng lão tự nhiên trầm xuống, như thể ngậm ngùi, chua xót, đắng cay.

- Nếu không nhắc đến thằng ấy, tôi cũng chẳng nói với anh chuyện này. Nhưng mà tôi không để bụng mãi được. Mà ở cái làng này, phân nửa là họ hàng con cháu nhà hắn. Có muốn nói thì nói thì nói với ai? Tôi tin anh, người có học, lại tử tế, mặc dù anh không phải là Đảng viên. Anh nghe, biết vậy, cũng đừng nói với ai. Cây gậy trong tay lão tự nhiên bị tuột khỏi tay rơi xuống đường. Lão dừng lại, cúi xuống nhặt rồi lại tiếp tục câu chuyện.

- Anh còn nhớ mặt con Khánh nhà tôi không? Nó lấy chồng về thành phố từ ngày anh đi thoát ly. Nó kém anh chừng bảy tám tuổi là cùng. Hôm nay tôi nói thật với anh một điều thật đau xót, nó không phải là con gái ruột của tôi. Hôm nọ, tôi về thành phố thăm nó là để khẳng định lại một lần nữa trước lúc hai tay tôi buông xuôi. Đúng anh ạ! Giỏ nhà ai, quai nhà nấy. Khi người ta càng già thì càng giống cha mẹ. Trông nó bây giờ, giống hệt cái thằng cha hắn! Nhất là cái mũi và hai con mắt. Con gái mắt một mí, nhìn láo liêng như gã ba Tàu. Đúng là cái bản mặt thằng Trạng, thằng xỏ lá. Thì anh bảo, mấy chục năm, tôi nằm tít tận biến giới, để vợ ở nhà, lại làm hội trưởng hội phụ nữ. Nhà tôi khi đó, văn hóa lớp năm, biết cái con mẹ gì? Chẳng qua chúng đưa vào hội nọ hội kia để họp hành mà hú hí với nhau.

Nghĩ đến cái tao đoạn ngày ấy, hình như lão xót xa nên cứ khút khít như khóc. Tôi biết, lão còn đâu nước mắt? Lão đang nuốt ngược cục hận vào trong. Mà làm sao lão lại kể cho tôi nghe chuyện này nhỉ? Có lẽ đời lão thêm bội phần đắng cay là về già chẳng có người tâm sự.

Người giầu kinh nghiệm, gặp phải "ca" này, tốt nhất là chỉ nghe chứ đừng có hỏi, hỏi có khác chi cầm dao ngoáy thêm vào nỗi đau của người khác?

- Anh có biết vì sao cái lần tôi được rút lên huyện, vài năm sau, lại lên tỉnh không? Cứ tưởng là mình được cấp trên trọng dụng, nào ngờ nằm trong âm mưu của nó cả. Sau này, liên kết các sự kiện lại, tôi mới biết cái thằng đó nó thâm thật. Khi đưa tôi lên huyện, nó đã có ý đồ với vợ tôi từ lâu nên mới bố trí cô ta làm hội trưởng phụ nữ. Hắn chỉ mong cho tôi đi thật xa nhưng chưa có cơ hội. Hóa ra, cái thằng chủ tịch huyện ngày ấy lại là con ông chú ruột hắn ở dưới quê. Gặp đúng đợt tỉnh đang thiếu cán bộ trẻ có năng lực bổ sung cho tuyến biên giới. Thế là tôi dính đòn ngay. Lão Mận cười gằn nhưng chỉ nghe hơi thở gằn gặt như khi người ta thông lỗ điếu xì ra. Tôi muốn chuyển câu chuyện đi hướng khác, sợ rằng tâm trạng lão rơi vào trạng thái khó kiểm soát, ảnh hưởng tới sức khỏe của lão nhưng không thể. Lão đang trút bầu tâm sự mà trời còn sớm.

- Tôi làm công tác biên giới được tám năm thì xẩy ra chiến tranh năm 79. Các cơ quan đoàn thể của ta gần như bị quân Trung Quốc san phẳng. Chúng tôi chẳng kịp mang theo đồ, tháo chạy như vịt. Không súng ống, không chạy để chúng giết chết à? Gần tháng trời chui rúc trong hang, ăn quả sung quả vả rừng, uống nước suối cầm hơi, anh bảo gì mà không suy kiệt? Đợt ây tôi bị sốt rét ác tính, tưởng không qua khỏi, may sao bọn chúng lại rút về nước, chúng tôi được giải thoát.

Tôi ở biên giới đúng hai tám năm, gần gấp đôi thời gian Thúy Kiều lưu lạc. Ở trên ấy, anh em người ta cũng thương, bảo tôi làm đơn xin về xuôi để gần vợ con, nhưng không biết tại sao, tôi gửi đến dăm bảy lá đơn rồi mà họ vẫn không giải quyết. Mãi cái tết năm tám tám, tay chủ tịch huyện cũng trạc tuổi tôi, chờ hết khóa về hưu, hắn mới đưa cho tôi xem những lá đơn ngày trước tôi xin chuyển công tác và mục “ý kiến của chính quyền địa phương”, tôi mới ngả ngửa! Thì ra là thế! Đồng chí đồng rận chi quân ấy! Đ. mẹ cha cái lũ mất dạy!

Lão Mận thở dốc, nỗi tức giận bị đè nén trong lòng, mấy chục năm qua, giờ mới bật ra. Lão như kiệt sức.

- Thôi bác! Để hôm khác kể, hôm nay bác mệt mà cũng đã muộn rồi.

- Anh cứ để cho tôi kể nốt. Tôi cố đi bộ, rèn luyện lâu nay là để sống lâu, xem đời cái thằng ấy nó có khá hơn ai không? Xem nó có chết trước tôi hay không? Ác giả, ác báo. Nhưng xem ra đến bây giờ nó vẫn còn khỏe lắm. Khả năng tôi "đi" trước nó anh ạ.

Lão có vẻ suy sụp, tấm lưng còng như còng thêm. Mãi lúc sau, lão mới nói tiêp:

- Thời điểm đó mà ý kiến của chính quyền địa phương, chúng phê như thế này có khổ tôi không: “ Gia đình đồng chí Lê Văn Mận hiện nay kinh tế đầy đủ, vợ đồng chí là cán bộ cốt cán của xã, đảm đang việc nước việc nhà. Vợ đồng chí tình nguyện xa chồng để làm gương cho chị em trong phong trào ba đảm đang. Con cái ngoan ngoãn, học hành chăm chỉ. Đồng chí đủ điều kiện công tác xa nhà lâu dài”. Thằng Trạng bí thư ký trước, đến thằng Tam chủ tịch, rồi thằng Cường chủ nhiệm. Dấu má đóng đỏ choét cả! Anh bảo, như thế thì làm gì tôi chả “chết” ở biên giới mười mấy năm trời? Thế mà mỗi lần tôi về, nó đến nhà, nói là đồng chí cứ chịu khổ thêm một thời gian nữa, đia phương sẽ có kiến nghị để đồng chí chuyển công tác về gần nhà. Mười mấy năm rồi còn gì? Hắn nói như thông cảm với hoàn cảnh của vợ chồng tôi lắm không bằng! Nhưng đúng là cái thằng nó đểu anh ạ! Tôi đưa lá đơn xin chuyển nhờ hắn xác nhận vào, hắn lại bảo: Đồng chí cứ để đơn vị chủ quản gửi đường bưu điện. Làm thế này, họ lại cho là mình cá nhân, quan hệ tình cảm riêng, mất khách quan. Tôi cứ một lòng tin nó. Anh bảo, cùng đồng chí, không tin nhau thì tin ai?

Thì ra “ cái sự đời” mà lão nói là như thế. Nhưng lão Mận ơi, đời con người có biết bao cái sự. Dù sao những năm tháng cuộc đời, lão cũng đã cống hiến cho dân, cho nước. Giờ về hưu ở cái tuổi này cũng là mãn nguyện, chỉ buồn bà Khát vợ lão, khi lão xa nhà không chung tình với lão thôi. Thôi thì mọi sự đã qua, lão cũng nên rộng lòng mà tha thứ cho bà ấy, cảnh thân gái một mình, đêm hôm mưa gió, chồng xa biền biệt mà người ta lại có chức có quyền, giữ làm sao cho được? Lão có cái sự đời của lão, tôi có cái sự đời của tôi. Tôi nhìn thấy mặt trời sau lão hai mươi năm, vậy mà sự đời tôi gặp cũng có kém vị cay đắng của lão đâu? Tôi không nói ra, cũng như lão không nói ra thì ai biết? Người ta cũng tưởng trên đời này đều tốt đẹp như trong sách vở kia chứ. Xét cho cũng ra, ở đời, thằng nào thật thà là dính cước. Tôi cũng có một thời như lão, cũng tận tâm tận lực, một lòng vì dân, vì Đảng vậy mà. mới ngoài bốn mươi tôi đã phải về “mất sức”. Thì cũng là “cái sự đời” đấy! Nhưng tôi sướng hơn lão, là những thằng hại tôi, chúng đều bị quả báo và chết trước tôi cả rồi. Nhưng vẫn còn một thằng, thằng này khi đó, chức vụ khá cao, hơn tôi đến mười tuổi, nhưng còn khỏe lắm. Tôi cũng đang học theo tấm gương đi bộ của lão, để xem tôi với hắn, thằng nào chết trước...


Tôi lên thành phố thăm thằng con trai, nửa tháng sau mới về. Buổi sáng hôm ấy, trời đẹp. Tôi một mình đi trên con đường nội đồng mới rải bê tông xuyên giữa cánh đồng lúa đang uốn câu. Trời đẹp thế này, tôi chắc lão Mận đã đi trước, thế nào ra đường chẳng gặp, định bụng kể cho lão nghe chuyện sắp tới hưu trí được tăng lương, tôi vừa nghe ở tỉnh để lão vui và nguôi ngoai câu chuyện buồn mà hôm nọ lão trút bầu tâm sự với tôi. Trời dần sáng rõ. Lũ cào cào châu chấu động cánh rào rào. Ếch nhái nhóc nhách dưới chân ruộng. Tôi cứ cắm cúi đi. Bổng tôi sửng người. Hình như trên đường có ai bị ngã? Tôi bước vội đến thì đúng là lão Mận. Lão nằm sấp, hai cẳng chân gầy guộc, bên co, bên thẳng, cái gậy nằm dọc theo thân người. Tôi vội sờ vào ngực, thấy tim lão vẫn còn đập thoi thóp. Hoảng quá, tôi xốc vội lão lên vai rồi chạy quay lại, đưa vội lão về nhà. Hàng xóm chạy đến đông lắm, người cao, người hái trầu không cùng vợ lão đánh gió, xoa ngực bóp tim, lúc lâu sau thì lão tỉnh. Không biết có phải tỉnh hay không nhưng mà lão mở mắt. Đôi mắt lờ đờ, vô hồn nhìn chăm chăm mặt mụ Khát, vợ lão lúc đó đang cúi xuống. Nhưng lão không nói được gì cả. Lúc sau, đầu lão ngoặt sang một bên. Từ hai hốc mắt của lão, rỉ ra mấy giọt lệ đục như nước vo gạo. Thế là hết! Lão đã ra đi trước kẻ tình thù. Người bạn già của tôi cùng “cái sự đời” từ đây ngàn năm thinh lặng.


Tôi đưa lão ra tận huyệt, ném cho lão nắm đất. Con đường mỗi sớm lão Mận đi bộ cũng là con đường đưa lão ra bãi tha ma. Khi đồng chí bí thư chi bộ còn rất trẻ đọc lời điếu, đến cái đoạn kể về công lao đóng góp cho sự nghiệp của Đảng của lão, tôi liếc mắt nhìn ông Ngô công Trạng, đồng chí của lão đang đứng trong hàng ngũ Đảng viên dự tang lễ, khuôn mặt vuông vức, cái cằm to bạnh ra, hai con mắt một mí hum húp, tay lão cầm khăn đưa lên lau mắt mấy lần. Nếu tôi không trực tiếp nghe kể từ miệng lão Mận, tôi cũng tưởng ông ta xúc động trước sự ra đi đột ngột của đồng chí mình. Thì ra sự thật là như vậy! Mấy ai hiểu được tâm địa của con người!

Khi người ta khiêng linh cửu lão ra xe tang, tôi thấy bà Khát vợ lão cứ níu lấy mép quan tài, khóc hức hức...


Từ hôm lão Mận qua đời, tôi cũng đi bộ nhưng không dậy sớm quá. Trên con đường quen thuộc ấy, mỗi bước đi, tôi như vẫn thấy hình dáng già nua của lão Mận đang thập thẫng, vừa đi vừa gõ cây gậy lộc cộc theo nhịp bước chân xuống nền đường bê tông. Phía chân đồi trước mặt, là nghĩa địa của làng tôi, khi trời sáng rõ và vầng dương nhô lên, ngôi mộ lão Mận hiện rõ mồn một nhờ có rất nhiều vòng hoa giả làm bằng ni lon đủ màu sắc của các đoàn thể đến phúng viếng phủ lên. Dưới sâu ba thước đất, người bạn già của tôi đang tan rữa vào đất như tất cả những ai sống trên cõi đời này. Đừng buồn nữa lão Mận ơi! Thôi thì con Khánh không phải con ruột lão, nhưng nó vẫn gọi lão là cha, vẫn đội khăn tang đưa lão ra tận huyệt và khóc lão cơ mà. Ngoài lão ra, ai biết? Nhưng vẫn còn may nó là con gái, chứ con trai, cha chú nó cất nhắc làm lãnh đạo, lại lừa bịp, chiếm đoạt vợ người ta, thì xã hội còn khốn nạn hơn nhiều, đó mới là “trời có mắt” đấy lão ạ!.

Câu chuyện “cái sự đời” lão kể, bảo đừng nói với ai, nhưng tôi không thể không nói, là vì, tôi không muốn thêm ai gặp hoàn cảnh giống lão nữa. Tôi viết ra đây, đăng báo cho mọi người cùng đọc, để cảm thông với nỗi đau của lão. Khi nỗi đau buồn được chia sẻ, sẽ nhẹ lòng đi rất nhiều lão ạ! Như vậy, linh hồn lão sẽ sớm được siêu thoát.

Câu chuyện “cái sự đời” của lão Mận, đúng ra là chỉ dừng lại ở đây, nhưng tôi muốn viết thêm vài dòng nữa là vì sau ngày lão Mận ra đi, tôi thấy con Khánh hay về nhà thăm mẹ nó, và đôi ba lần, lão Ngô Công trạng có mặt trong ấy. Hôm làm cỗ cúng 49 ngày cho lão Mận, bà Khát mời tôi. Khi tôi đến, thấy ông Ngô Công Trạng đang ngồi bàn trong, bên cạnh bà Khát, còn con Khánh thì cứ đi đi lại, thi thoảng lại nói nhỏ vào tai ông Trạng, chẳng biết nó nói gì. Tôi nhìn kỹ hai khuôn mặt, nhớ lời lão Mận nói khi còn sống, thì thấy đúng là “giỏ nhà ai, quai nhà ấy” thật.


31/3/2017



.Cập nhật theo nguyên bản của tác giả gởi từ Thanh Hóa ngày 09.4.2017.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004