Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới
Qúy vị đang nghe Silent Night





BÊN KIA THÀNH PHỐ






  K hi con Quỹnh lùa đàn bò qua hết chiếc cầu sạp bắt qua con đê xuống xóm. Lão Xịa còn ngồi hút thuốc ở bãi gò Vừa quay lại trông theo dáng nó, thì đã thấy nó dừng lại cãi cọ với người chủ xe Lam. Nó vung tay đang cầm roi như xua đuổi những con bò đang chạy rông vào ruộng lúa trước mặt người lái xe Lam, làm gã cứ sấn tới hục hặc cũng như muốn đè bẹp thân thể nhỏ xíu, lắc chắc của nó. Lão Xịa chăm chú nhìn từng cử động của nó, bổng dưng cười một mình. Nụ cười chợt đến chợt đi, vơ vẫn kỳ khôi như mọi lúc ngồi ở bờ đê nhìn mọi người xôn xao bồng bế nhau chạy xuống phố. Như những nụ cười âm thầm ở hiên nhà mỗi tối giam chân lẩn quẩn trong sân. Lão trở nên lặng lẽ hơn trong những việc làm, ngay cả nụ cười, từ lúc được hồi cư, sống lại trong căn nhà đã nhiều lần bỏ đi, trở lại với nỗi tan hoang. Trước mặt lão, con Quỹnh đang lăng xăng cầm roi chạy đuổi bò, cầm roi quơ quất trước mặt gã lái xe Lam. Nó hiện ra, còn đó rõ ràng như dĩ vãng không thể nguôi ngoa trong lòng lão. Đoạn đường bị chiếc xe Lam chận giữa, người ùn lại mỗi lúc một đông. Tiếng còi của những chiếc xe nối đuôi nỗi lên thúc giục, rộn ràng. Khi gã lái xe không dằn nỗi cơn tức, túm lấy mớ tóc khô rời như rơm của con Quỹnh, thì có tiếng quát :

- Kìa, con nhỏ đó khùng mà ông ăn thua vói nó à ? Có ngon ra đây với tui nè …

Gã lái xe nhận ra tiếng nói của một người lính, thả mớ tóc cho con Quỹnh đứng thẳng xuống đất. Nó lại tiếp tục hung hăng quơ quất cái roi trước mặt gã lái xe nhanh hơn trước. Trong đôi mắt nó lơ láo, hốt hoảng hơn bao giờ. Đến lúc đó thì mọi người mới biết là nó khùng. Ai nấy tất tả lên xe, cười nói lao xao trong nỗi hấp tấp như để chạy trốn những tia nắng chiều còn lại dồn đuổi đằng sau. Lão Xịa lại cười vu vơ. Đám đông trôi đi, kéo theo tiếng máy nổ, tiếng còi inh ỏi, ồn ào. Con Quỹnh còn lại yên lặng bên đàn bò, tiếp tục quơ quất cái roi xua bò về. Trông lúc nó gây gỗ với gã lái xe, và khi yên lặng bên những con bò, lão Xịa thấy thương nó thấm thía. Có lần bất chợt gặp nó ngồi núp dưới ngôi mã vội tránh nắng, nghe nó nói chuyện lẩn thận một mình, lão cũng ngồi lại nói chuyện với nó cho có bạn. Ngày nào nó cũng có mặt ở bãi Mối, canh giữ cánh đồng và đàn bò cho nên chuyện gì xảy ra trên cánh đồng này nó đều nói rất thạo. Từ những quả đạn bắn lạc xuống đám ruộng ông Hương, con bò thằng Sung đụng phải mìn chết không rịp rống, lão hai thường đi xe ngựa dừng lại tháo nước trộm mỗi chiều… nó đều trông rõ. Và khi không có gì để xem xét, nó tìm một chỗ kín nào đó chui vào, nằm co mà ngủ, hay tẩn mẫn nói chuyện, cười cợt một mình. Nó ít muốn chơi với lũ chăn bò xóm trên, lũ này đặt cho nó cái tên “con Quỹnh khùng”. Nó cười: Ồ, tao khùng đó có sao không?

Lão Xịa vẫn biết nếu đem so nó với con Phấn thì không có chỗ nào giống, nhưng lần nào nhìn nó, trò chuyện với nó, lão cũng thấy thương nó và nhớ con Phấn quá chừng. Về phần tướng mạo, con Phấn tốt tướng hơn nó nhiều. Về phần thông minh, con Phấn cũng sáng trí hơn nó nhiều. Trông con Phấn với nó, bà Xịa thường bảo, chúng nó khác xa một trời một vực. Lão Xịa còn nhớ rõ ngày con vợ thằng Mua sinh con Phấn. Mẹ nó mang chiếc bụng nặng nề như con vịt tới thăm. Ở lại để giúp việc hơ háp, lửa củi cho cả mẹ con con Phấn nhưng đâu được mươi lăm hôm lại sổ nó ra ngay giữa khuya làm lão chạy quýnh cẳng. Từ nhà bon bon xuống phố rước cô đỡ, lại mang xách đồ nghề trở về, còn bị cô đỡ cằn nhằn từ khi mới mở mắt tới lúc đị hết đoạn đường vào nhà. Tưởng được thong dong, không ngờ thêm một món nợ, lão bị bó chân ở nhà coi sóc để bà Xịa đi Cheo Reo. Nhắc lại chuyện cũ với con Quỹnh lão có nhiều chuyện để nhớ, và từ đó, lão cũng nhớ lại con Phấn dễ dàng. Bắt đầu từ con Quỹnh, lão hình dung ra dáng dấp mỗi ngày của con Phấn theo tầm ước đoán mông lung. Lúc thì nó sáng lán như những ngày sắp có chồng, khi thì tiều tụy gầy hư như hồi tản cư xuống chợ. Lão không giữ yên được hình ảnh nào về con Phấn, từ ngày nó ôm mớ áo quần bỏ đi biệt dạng. Còn phần bà Xịa, hình bóng con Phấn càng mơ hồ, bấp bênh như những ý nghĩ của bà về nó. Bà thường nằm mơ thấy nó thế nầy, thế nọ, rồi rút cuộc bà chẳng nhớ nó rõ ràng là như thế nào. Vì thế hễ ai nhắc tới con Phấn; là bà khóc liền. Lão Xịa đã biết rõ điều này nên lão dù nhớ thương cháu, cũng chỉ bấm giữ lấy hình ảnh của con Quỹnh. Và yên lặng bên những nụ cười bậng quơ.


Lão Xịa ngồi quay mặt ra đường, nhìn suốt theo con đường chạy len vào đầu xóm. Con đường vắng vẻ, thỉnh thoảng một vài chiếc Honda của những người đi ngủ muộn, chạy hớt hãi cốt vượt qua khoảng đồng trống. Nhớ lại con đường này ngày xưa, lúc nào lão Xịa cũng nhắc tới những đêm có trăng, đi từ đầu trên tới xóm dưới cả đêm gà gáy mới mò về nhà ngủ. Những đêm có hát ở đình, thì chắc chắn lão coi xong, ngủ lại nhà lão Hứa, mờ mờ sáng mới băng ra đồng thăm ruộng. Cảnh tượng dập dìu người đi rong chơi mỗi đêm ở con đường này, như mới có hôm qua. Lão thấy gần gũi quá, nhưng cũng buồn bã quá. Con đường bây giờ như xa lạ, và bị chặt cụt lại. Mọi người chỉ di chuyển trong một khoảng từ xóm này, xóm kia. Những chuyến xe hàng chạy suốt lên Cheo Reo, những chuyến buôn heo, gà của bà Xịa trở về mỗi tối rộn rã tiếng nói cười như mất hút, mơ hồ trong trí nhớ. Cứ mỗi bận bà Xịa về, con PHấn được ăn đủ thứ trái cây chín. Nó ăn đã, đòi cả nải chuối để xách đi cho con Quỳnh, con Mơ, thằng Kỵ. Lão Xịa bắt nó ngồi ăn cả chục xoài, bà Xịa trông thấy ưng ý :

- Được đó, ăn cho mau lớn cháu. Trông nó lớn được khúc nào, mừng khúc đó.

Bây giờ mọi việc bày ra trước mắt lão ngoài dự đoán, ước mở của vợ chồng lão. Con Phấn đã ôm áo quần bỏ đi cả năm, không nghe tin tức. Vợ thằng Mua đã bỏ vợ chồng lão, bỏ con Phấn đi lấy chồng khác sau mấy năm ở nhà chờ. Còn con Hiên lận đận dưới phố với bầy con, như cột chặt với nỗi khổ ở đó. Ngày thăng Mua, thằng Hịn tập kết, lão đưa chúng uống tàu, mơ hồ thấy lần ra đi đó thật biền biệt. Nhưng rồi lão cũng lấy lời an ủi của thằng Mua mà về an ủi vợ, con đâu: “Chúng nó đi cho biết Hà Nội, hai năm chúng lại trở về sum họp thôi mà…”.

Buồi chiều xuống sâu dần, xám đen như sắp có cơn mưa tới. Mây âm u, gió thổi lộng từng cơn qua cánh đồng trống. Đám cháy dưới chân núi còn mờ mịt khói. Bầu trời ở đó thâm hơn nặng nề như những đám mây đen. Lão Xịa trông thấy chiếc xe ngựa lão Hai lọc cọc chạy tới, vội vã qua cầu.

- Đi đâu về tối vậy anh Hai ?

- Đi kiếm ăn chớ còn đâu nữa.

- Lo làm giàu quá há ?

- Khỉ khô, luc này tìm đủ miếng ăn đã chảy máu con mắt…

Lão Xịa leo lên ngồi phía trước với lão Hai, xe chạy rập rình qua những chặng đường trống trơn. Ngó lui, ngó tới chỉ có bóng xe lão là về trễ. Và dường như cũng chỉ có lão là thong thả cho xe chạy ở đường này, vào buổi chiều. Từ lúc những người ở núi xuống chận xe lão, làm khó dễ, lão cởi nút áo chỉ vào bụng:

- Không muốn cho tôi sống thêm vài năm nữa, các ông cứ bắn dùm tui cho tui đỡ khổ - tui đi kiếm ăn mà…

Rồi lão cú chậm rãi cho ngựa chạy, không nói thêm một lời nào. Tới bây giờ, ngay lúc người ta sợ con đường này như cõi chết, lão vẫn đi sớm về muộn như không hề biết gì. Lão vẫn thường nghĩ, lão sẽ chết trước con ngựa già của lão, và con ngựa còn lại đủ để lo cho lão cái hòm. Lão bỏ cương cho ngựa chạy chậm:

- Nè anh Xịa, nghĩ đời tụi mình không yên bằng ngựa phải không anh ?

- Ồ … ngựa chết lao chớ đâu chết lão.

- Nghĩ coi, cả ngày tụi mình khổ, tối nằm đâu có yên.

Lão Xịa gắt:

- Sợ chó gì nữa anh, sống chết bây giờ… cứ ngủ cho thẳng cẳng.

Lão Hai quấn xong điếu thuốc, đưa vào miệng xoay tròn:

-Thì tụi mình như đàn bò, bên này lùa đi, bên kia lùa về mà…

- Nói cho đúng, được Trời thương hễ đặt lưng xuống là tui ngủ khò. Đầu hôm còn nghe tiếng súng như bắp rang, cuối hôm thanh tịnh… với lại tôi ngủ quên, sáng ra chuyện gì thì chuyện, cũng đã qua rồi…

-Vậy mà nhà tui chết trước tui mà yên. Nam Mô A Di Đà Phật, ngồi giữa này năm nay tui sáu mươi bốn tuổi, trên đầu tóc đã bạc răng đã rụng, tôi không muốn sống chút nào hết anh à …

Xe bắt đầu qua đám ruộng cuối, chạy vào xóm. Cửa ngõ nhà nào cũng đóng im lĩm, vắng bóng người. Trong sân thấp thoáng bóng lũ trẻ đuổi nhau, cười giỡn. Lão Xịa nghĩ bụng, nếu vắng con nít, chắc là buồn ghê lắm.

Lão Hai cho xe dừng lại ngay trước con ngõ rẽ vào nhà lão Xịa, hút thuốc chờ lão Xịa bước xuống. Lão Xịa xuống khỏi xe, vòng lại vỗ vào vai lão Hai:

-Rảnh, ghé tui nói chuyện chơi nghe anh Hai ?

Lão Hai do dự:

Buồn quá, tui không muốn đi đâu hết anh à …

Sau câu nói bỏ lửng, lão thúc xe cho chạy nhanh hơn. Tiếng khua động của bốn chân ngựa trên mặt đường vang lên đều, rõ nhịp. Đường vắng. Lão giục cương vội vã như cố tránh xa, không nghe thêm một lời nào nữa của lão Xịa, không muốn thấy thêm gì nữa chung quanh. Khác với mọi chuyến trở về trước lần nầy lão thấy nôn nao buồn, và sợ hãi nỗi vắng vẻ.

Bà Xịa rời võng bưng mâm cơm ra giữa sân, cất tiếng gọi lão Xịa còn đang đốt rác ngoài bụi tre đầu ngõ. Lão Xịa nghe gọi, trở vào ngồi chắc chắn bên mâm cơm. Trời tối xẫm trong sân, oi bức. Bà Xịa mang đèn từ bếp lên, thở dài:

-Không biết đêm nay có chộn rộn không mà “nẩu” đi dữ quá?

Lão Xịa bới cơm ra hai chén, chăm chỉ ăn. Bà Xịa vẫn ngồi đó, bên mâm cơm nhìn ra ngõ, lo lắng:

-Ông có nghe nẫu nói gì không?

Lão Xịa gắt:

-Tui đã nói bà lo quá rồi chết, có lo nó cũng vậy. Cứ bắt chước tui hễ đặt lưng xuống là gáy khò khò cho nó yên bà ơi….

Bà Xịa bắt đầu bưng chén cơm, và từng miếng nhỏ, nhai chậm chạp; nói lơ lửng:

- Nghĩ đánh nhau gì mà cả mấy chục năm, không ngớt, không ngán hả ông?

Lão Xịa nín thinh như cùng chia xẻ với nỗi lo của vợ, cắm cúi ăn. Buồi tối ập xuống, bao quanh căn nhà. Căn nhà thu nhỏ hơn trong những hàng rào đựng cao. Đêm lặng lẽ, quạnh hiu quá sức; lão Xịa ăn xong bỏ đi ra ngõ.

Lúc lão vừa định rẽ xuống hàng tre đến un đống rác đang nghi ngút khói thì gặp con Quỹnh đi vào. Nó dừng lại trước mặt lão một cách thân mật, tự nhiên. Lão vỗ vào đầu nó: Con Quỹnh đó hả ? - con chờ ai. Mầy di giờ nầy không sợ mìn na? Mìn đâu mà sợ? Lão lại cười trong tối. Đêm nào nó cũng mò tới ngồi nói chuyện với bà Xịa ở một đầu võng, rồi buồn thì về, vui thì nằm ở sân ngủ. Nó với con Phấn thật khác nhau một trời một vực. nó lắc chắc như con chuột, lam lũ như những con bò. Nếu nó tốt tướng, sáng trí như con Phấn, có lẽ nó đã có chồng, có con rồi. Đằng này nó lơ láo, rách rưới đến nỗi ai cũng gọi nó khùng, ngay những đứa cùng chăn bò ở bãi Mối. Con Quỹnh khùng kia tụi bay ơi … Lão để nó đi vào sân, rẽ xuống hàng tre ngồi thổi đóng lửa cho phựt cháy. Khói tung lên phà vào mặt lão tối tăm, lão nín thở cố sức thổi từng hơi dài.Lửa hực cháy rào rào khi táp tới những nhánh tre khô lão phát mấy ngày trước theo lệnh của ấp trưởng. Những bụi tre um tùm là chỗ trú của địch, là những ổ bắn lén, rút lui. Lão ra sức phát cả hàng tre quanh nhà cho trơ trui, phảng phát mấy ngày mới xong nếu không thì ắt sẽ bị “mời” lên xã. Không làm thì bị bên nầy “hỏi thăm sức khỏe” ; mà làm – thì cũng sẽ bị bên kia “lên án”. Không biết đường nào mà mò cả! Lúc ông Cộ bị bắt trói cắp ké dẫn ra giữa đồng, có mặt lão ở đó. Có cả lão Hai, con Quỹnh, bà Tư. Đọc xong bản án đủ thứ chuyện, lòng lão lại nơm nớp sợ đến phiên lão bị trói quá. Theo chỗ lão biết,và con Quỹnh thuật lại, tuần trước có lính đi hành quân qua đồng, trúng nhằm giờ lão Cộ đi tháo nước một mình. Lính lục soát đào được hầm chứa súng đạn, lão Cộ tò mò tới coi cho biết. Một ngày sau, lúc lão vừa thổi tắt đèn định ngủ thì có tiếng gọi cửa. Lão nằm im thim thíp dưới gầm giường, để đứa con ra sân mở. Rồi lão bị bắt trói cắp ké, nghe đủ thứ tội mà lão không hề ngờ. Bản án viết tay vội vã treo ở đầu ngõ, đọc cho một ít người nghe. Ai nấy đều cúi gầm mặt không dám nhìn lúc lão Cộ bị cột vào một thân cây. Lão Cộ chết rồi, con dâu, con rể, cháu họ đều lãnh án hết trơn. Cái đêm trông thấy lão Cộ chết, nghe lão Cộ lãnh đủ thứ tội, lão Xịa thấy bàng hoàng cho cuộc sống lão như cá trong chậu. Bên nào muốn bắt, muốn giết cũng được. Và muôn ngàn thứ tội có thể đổ lên đầu lão, vợ lão. “Nè anh Xịa, nghĩ đời tụi mình không yên bằng ngựa phải không anh?”. Lão nhìn đờ đẫn vào những ngọn lửa bốc cao, cười: Nghĩ đánh nhau chi cho mệt, đánh hoài không ngán, không ưng bụng sao. Chiến tranh gì mà lâu quá không biết?”

Nhìn ánh lửa chán, theo thói quen lão nhìn hướng xuống ngã cầu. Ở đó một vùng trời sáng ánh điện, vượt lên cao. Những bóng đèn mắc trên một ngọn đồi trông như những vị sao tỏ. Đỉnh Tháp tối, chỉ hiện lờ mờ những chấm sáng điện nên như vút cao hơn, cách biệt hơn. Lão ngơ ngác đếm từng trụ đèn điện dọc quốc lộ, nhìn ánh sáng trong hơn trải trên mặt đường. Nhìn sâu hơn một chút nữa, một khỏang rộng ánh sáng hắt yếu đuối lên nền trời đen dày. Con Hiên và lũ nhỏ đang sống trong vùng ánh sáng đó. Cảnh xôn xao, ồn ào lão đã có thời sống qua khi tản cư tới nấn ná nhà một người bạn già bốc thuốc, hiện đến mỏng manh như một giấc mơ. Chuyện lão nhớ kỹ hơn hết cũng là lúc còn con Phấn ,con vợ thằng Mua, thằng Hịn. Gà gáy đã trở dậy gọi lũ nhỏ nấu cơm, đun nước. Sau những tách trà ngồi ở sân đón gió, nhìn trời sao rộng rãi; vào ăn ba hột đã vội xuống phố mua đồ cho kịp chuyến chợ buổi sáng. Con đường rộn rịp bóng người, tiếng người. Con đường gần gũi thân thuộc với từng bụi cây nghỉ mát, từng cái quán chè đậu đen, nước đá. Và ánh sáng trước mặt lão bây giờ như cao xa vời vợi, chỉ là cõi ước mơ. Hình ảnh mẹ con con Hiên vì thế như biền biệt trong trí nhớ ngày càng còm cõi của lão. Lão Xịa quơ những nhánh lá còn lại bỏ thêm vào ngọn lửa đang cháy hồng, quấn thêm một điếu thuốc.

Chiếc máy bay trực thăng vòng lại lần nầy là lần thứ ba. Hình như mỗi lúc nó càng sà thấp xuống sát đọt tre. Lão Xịa ngồi né vào bên hàng rào, nhìn những chiếc đèn đỏ, xanh chớp sáng. Cánh quạt xoay tròn tạo thêm vòng ánh sáng chung quanh, di động. Lúc máy bay đảo thấp về phía lão, lão đã nhanh chân lủi vào sân. Cái cảnh mẹ con thằng Thính chết giữa sân đã lâu nhưng cứ ám ảnh lão hoài trong những lần nhìn những chiếc máy bay trực thăng bay lượn quanh nhà. Lão gắt:

-Bà thổi ngọn đèn đi chớ, muốn làm đích cho máy bay à ?

Bà Xịa làm theo lời lão, không một lời nói lại. Bà vốn yếu vía nên hễ mỗi lời lão nói ra là như bà không có ý kiến. Già đến chừng đó bà cũng lễ mễ cả ngày mà đào một cái hầm khi nghe con Quỹnh nói lại chuyện đánh nhau ở xóm trên nhà nào không có hầm, chết ráo. Cái tính cù cưa lúc còn đi buôn ở Cheo Reo như bỏ bà từ lâu. Bà còn lại với tuổi già với nỗi sợ hãi lẩm cẩm. Lão bưng tô nước chè để chờ sẵn ở sân, đến ngồi co ro một góc hiên. Còn Quỹnh ngồi một đầu võng vừa đu đưa cho ba Xịa nằm, vừa nói chuyện. Nó bỗng cười hề hề:

-Bác còn nhớ thím Sương con không?

-Nhớ.

-Khi chiều thím tới cho con mấy chục với một bộ đồ.

Nó dừng lại một lái, cười:

-Như bộ đồ của con Mận sao đó, con mặc rộng thùng đây nè.

Bà Xịa hỏi:

-Bộ mày mặc đồ mới rồi hả?

Nó tiếp tục đu đưa cái võng cho bà Xịa, giọng nhỏ hẳn:

- Thiệt lâu, từ ngày má con chết, con mới mặc được bộ đồ đẹp.

Lão Xịa vẫn ngồi co ro, hướng mặt ra đầu ngõ:

- Mày mặc áo quần đẹp mà lên gò chơi với ma …

Đêm mờ mịt và oi ả. Không một chút gió đùa ngọn tre. Từng đợt mõ nổi lên tận miệt núi vọng lại nhọn hoắt. Súng nổ từng tràng dài ở ngã cầu, lao đi hun hút. Đêm trở về với bao âm thanh quen thuộc đó. Lão cất tiếng gọi:

-Này bà, vào trong bà ngủ…

Lão chập choạng đi từ đầu sân tới cuối sân trong lúc con Quỹnh đã nằm dài ở thềm ngủ. Bà Xịa trở vào nhà, không muốn gọi nó dậy. Con nhỏ thiệt sướng, mới đã ngủ như bò.


Lão Xịa quả quyết viên đạn cắm vào đầu con Quỹnh là một viên đạn tình cờ. Những viên đạn tình cờ loại đó đã có quá nhiều ở xóm này, đến nổi khiến lão hoảng sợ. Không biết từ đâu, hướng nào, của ai, viên đạn đã bay đúng vào đầu con Quỹnh khi nó ngồi vắt vẻo trên ngôi mả vôi cao. Nó ngã sấp xuống bãi cỏ, bất tỉnh. Lũ chăn bò đang ngồi tụm lại bàn tính việc bẻ mía trộm, nghe một tiếng thét của nó chạy ùa tới lật nó lên thì nó đã không biết gì. Chúng nghĩ ngay đến lão Xịa, ông già thường ngồi nói chuyện với nó, chạy đi kêu. Lão Xịa hốt hoảng như khi nghe tin con Phấn bỏ nhà đi, chạy một mạch lên gò. Gặp xe lão Hai vừa trờ tới, lão bắt chở thẳng xuống trạm Y tế xã. Lão bồng nó cong queo trong tay máu chảy ra ròng ròng. Bộ đồ mới nó khoe hôm trước của bà thím dưới phố cho mới mặc mấy hôm, thấm ướt máu khô đen. Máu rỉ ra trên tay lão, áo quần lão bốc mùi. Xe chạy hết sức nhưng khi tới xã thì Trạm y tế đã nghỉ. Từ Trạm y tế lên phố, chắc nó không sống được. mọi người không ai lưu tâm tới vết đạn ngang đầu của con Quỹnh khùng, nhưng với lão, nó đang xót xa ray rứt trong lòng. Đặt nó nằm ở sân bệnh xá, lão ngồi đó bó tay nhìn nó thở những hơi cuối cùng. Một viên đạn nổ, một cuộc đời ngã xuống. Còn Quỹnh đã bỏ gia đình lão, bỏ cánh đồng, bỏ đàn bò nằm yên trước mặt lão. Nét mặt nó đã xanh, tái nhợt, tóp khô. Đôi mắt nó vẫn ngơ ngác, láo liên nhìn đứng lên trời. Mớ tóc rối tơi, vàng khô như những cọng rơm rời rã. Tất cả những hình ảnh đó đang khắc sâu vào tâm trí lão . Lão đã lo cho nó hết lòng từ lúc được sanh ra, đến ngày nó chết. Ôm xác nó trở về, lão cười:

-Sao cháu không chờ bác?

Người chủ nuôi nó giữ bò mang tới nhà lão Xịa hai tấm ván mỏng và ba trăm đồng bạc. Công nó giữ bò mấy năm. Lão Xịa vỗ vào vai người đàn ông chủ con Quỹnh nếu không có những thứ đó, tui vẫn phải lo cho nó một nấm mồ. Lão tự tay làm lấy cho nó một cái hòm, tự tay sắp đặt cho chuyến ra đi của nó hết sức cẩn thận. Quần quật cả ngày, đến chiều lão mới đặt nó nằm vào hòm. Bà Xịa khóc kể bên xác nó khi đặt mâm cơm cho lão Xịa cúng.Với bà, con Quỹnh là người còn lại thân thiết nhất có thể làm bà yên tâm trước giờ chờ ngủ. Để bà còn thấy có liên lạc với cuộc sống bên ngoài. Nó chết đi đời bà như thu nhỏ lại, buồn bã. Không còn lúc ngồi ngóng tiếng nó gọi ở ngõ, nghe nó thuật chuyện làng trên, xóm dưới. Và nó chết đi, bà không còn dịp nào để nhắc tới con Phấn. Đó là điều làm bà thấy rõ nỗi trống trải, vô vị của những ngày phải sống sau này. Từ nay, nó không còn tới ngồi ở đầu võng đu đưa cho bà ngủ, nó đã theo má nó. Bác ơi, con muốn được chết theo má con quá. Đừng có nói tầm bậy nghe không? Con nói thiệt, con nói thiệt mà, bác không tin con à ? Bây giờ, Quỹnh ơi, cháu có thể theo má cháu rồi đó.

Đặt cái hòm trên vai, một tay đỡ cho chiếc hòm khỏi lao qua trụt xuống, một tay lão cầm theo một cây cuốc. Lão vòng ra ngã sau, theo lối tắt băng qua những đám ruộng mới cày vỡ đất lên bãi Mối. Lão muốn cho nó nằm mãi mãi ở dưới tàn cây chuối mà thường ngày nó vẫn nằm ngủ. Cháu sẽ ngủ yên ở đây trọn đời, theo má cháu. Lão xới đất, từng cuốc sâu như đã chọn được nơi ưng ý. Đã có một quyết định rõ ràng: “Cháu sẽ ngủ yên ở đây trọn đời, bên má cháu”.

Ra tới đê thì trời đã tối hẳn. Mặt trời chui xuống núi yên lặng quá, như một ngày qua âm thầm với lão. Một ngày nhìn mặt trời lên, và trông mặt trời xuống. Đám người ở miệt xóm trên đã xuống phố hết, con đường còn lại với vẻ trơ vơ xa lạ cũ. Lão ngồi xuống bên bờ đê có ý chờ bóng xe lão Hai về, và nghĩ tới một đêm trong sân vắng bóng con Quỹnh…


Tuy Hòa, tháng 01 năm 1968

( tạp chí Hiện Diện số 01 -1969)



VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004