Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới





Đâu Chỉ Là Hạt Bụi









Đám tang dài dằng dặc trên đường quốc lộ. Hầu hết là các em học sinh và đồng nghiệp của người quá cố. Chiếc xe chở quan tài chợt dừng lại, những người đẩy xe tang đang tìm cách rẽ trái để vào nghĩa trang. Dòng xe bị ùn tắt nhưng không có tiếng phiền hà. Hình như ai cũng lặng lẽ chờ đợi trong niềm cảm thông. Bởi đây là cuộc hành trình cuối cùng trong đời của một con người.

Gió bỗng thổi mạnh. Mây đen vần vũ sà xuống thấp. Mọi người lo lắng.

Huyệt đã đào sẵn từ sáng, tươi nguyên màu đất mới. Thầy hiệu trưởng đưa loa cho một em nữ sinh. Cô bé đọc điếu văn. Bài văn xúc động quá! Người đọc nghẹn ngào, người nghe không cầm được nước mắt.

Gió càng lúc càng mạnh. Lá và giấy vàng bạc thi nhau bay tung toé chao đảo quay cuồng. Trong thoáng chốc, hoa đã phủ kín quan tài. Rồi những nắm đất rơi xuống… Tiếng khóc vỡ òa…

Mưa bắt đầu rơi. Nấm mộ cũng vừa nhú lên . Mọi người vội vã ra về.

Mưa vẫn to. Gió vẫn lớn. Trời thấp nặng xám xịt.

Bỗng có ba người đội áo mưa đi vào. Họ đang dọ dẫm tìm kiếm. Tiếng đàn ông:

- Đây rồi!

Giọng phụ nữ:

-Tiếc quá! Giá chúng ta đến sớm hơn một chút có lẽ kịp .

Giọng một người đàn ông khác:

-Mưa thế nầy thì không thể thắp nhang được. Chúng mình nên ra ngoài kiếm chỗ trú đã.

Ba người lại quành ra. Họ tìm được quán nước gần đó. Bộ ba ấy là Nhã, Tường và Huy. Nhã thở dài buồn thảm:

-Giá như mình xuống sớm hơn một tí!

Huy an ủi :

- Việc ngoài ý muốn mà. Bây giờ thế nầy nhé, tạnh mưa tụi mình vào thăm mộ cô, sau đó về trường.

Tường uống cạn ly cà phê :

- Nhã, tối nay bạn tính sao?

- Mình về Sài Gòn.

Mưa nhẹ hạt dần. Ba người bạn trở vào nghĩa trang. Nấm mộ mới đắp, sau cơn mưa to, bị loang lỗ, trông càng não lòng. Nhã đặt bó huệ trắng lên mộ, Tường và Huy lúi húi đốt nhang. Mùi hương ấm áp lan tỏa xua bớt cái lạnh lẽo u tịch của nghĩa trang trong buổi chiều mưa lạnh. Cả ba quỳ xuống. Nhã khóc nức nở. Tường, Huy cắn chặt môi.

Chưa tới sáu giờ mà trời như đã tối. Cả ba tìm về ngôi trường cũ. Trường vắng tanh. Cổng lớn, cổng nhỏ đều đóng kín. Cả bọn loay hoay chưa biết tính sao thì ông Tư bảo vệ lê từng bước chân chậm chạp nặng nề đi ra, tay cầm xâu chìa khóa.

Nhã nói nhỏ:

-Ủa ! Bác Tư đấy ư ? Bác ấy già đi nhiều quá!

-Các cô cậu vào thăm cô giáo Cát phải không ?

Ông Tư dẫn họ ra sau. Mùi nhang thoang thoảng trong không khí hơi lạnh và ẩm ướt. Cửa nhà tập thể mở toang, bên trong sáng rực ánh đèn. Bàn thờ đặt ngay giữa nhà. Trong khung ảnh phóng to, cô Cát tươi cười chào đón mọi người. Ánh mắt cô vẫn như xưa: Vui vẻ, ấm áp và nồng hậu. Xung quanh cô, đầy hoa tươi và trái cây. Lư hương đang ghi ngút khói. Nhã nghe lòng quặn thắt nhói đau. Nước mắt lại trào ra.

Tường, Huy và Nhã lần lượt thắp nhang cho cô. Đứng trước di ảnh cô, trong thinh lặng, cả ba có thể có những dòng suy tưởng khác nhau nhưng đều có cùng cảm giác là cô giáo chủ nhiệm năm lớp mười hai của họ như vẫn đang còn đâu đây. Cô chưa hề ra đi!

Bên ngoài, mọi vật bắt đầu nhạt nhoà. Cả ba ngồi xuống chiếc chiếu trải trên sàn. Ông Tư bước vào, thay chén trà trên bàn thờ. Huy chạy đến giành việc mời trà cô giáo cũ. Ông Tư nói chậm rãi:

_ Các cô cậu về thăm vầy, cô giáo Cát vui lắm. Nè, hồi đó cậu Huy hay đi học trễ, bị tui nhốt ngoài cổng hoài. Cậu Tường làm trưởng lớp, cứ đầu buổi học cậu lên văn phòng lấy sổ đầu bài. Cô Nhã thì có dịp lễ lộc là lên khán đài phát biểu. Tui nhớ vậy có đúng không?

Bộ ba kinh ngạc bái phục trí nhớ ông già.

Nhã vừa thay đổi dự định, đêm nay Nhã ở lại đây với cô giáo yêu quý rồi sáng mai Nhã sẽ đón xe về Đà Lạt sớm. Cô Cát đang nhìn Nhã, hiền từ và chan chứa yêu thương. Tóc cô vẫn để ngắn như hồi dạy bọn Nhã. Hình như món tóc trước của cô hơi quăn, có lẽ khi chụp tấm hình nầy cô vừa mới uốn. Giá như bấy giờ có Nhã đứng đó, Nhã sẽ dùng máy sấy và lược kéo món tóc ấy duỗi ra bớt, chắc chắn trông cô sẽ trẻ hơn.

Cô Cát không đẹp nhưng rất có duyên. Trong phong thái chuẩn mực, thông tuệ của nhà giáo lại phảng phất nét lãng mạn, tài hoa của người nghệ sĩ. Đôi mắt hiền hậu của cô thường hơi nheo nheo, ánh chút khôi hài mà ẩn chứa nhiều nỗi niềm. Hai khoé miệng sâu, rõ nét, hơi chếch lên, nên lúc nào trông cô cũng như đang mỉm cười, ngay cả khi cô đang giận dữ vì học sinh lười học.

Ngày đó Nhã vẫn cứ thắc mắc trong lòng vì sao cô không lấy chồng. Bọn học sinh đồn với nhau là cô đã từng yêu, người yêu cô là hoạ sĩ, rồi người ấy theo gia đình ra nước ngoài. Từ đó lòng cô khép lại .

Nhã là học sinh cưng của cô, gần gũi cô lắm, bởi Nhã giỏi Văn, môn cô dạy. Nhã thường đến căn phòng nầy học và chơi với cô. Cô hay kể Nhã nghe về quê cô. Đó là một thị xã nhỏ tận ngoài miền trung, nhỏ đến nỗi đạp xe chưa mỏi chân đã hết. Tiệm sách khá nhiều. Trước giờ vào học hoặc lúc tan trường, áo trắng lượn dày phố xá. Đẹp làm sao hình ảnh nữ sinh tóc thề, vành nón nghiêng nghiêng thấp thoáng nụ cười e thẹn! Ấn tượng làm sao hình ảnh người mẹ còng lưng gồng gánh kiếm tiền nuôi con ăn học nên người! Cô Cát có vẻ thích thú khi kể cho Nhã nghe những hôm cô và vài người bạn có chút tiền, đi học bằng xe thổ mộ, chiếc xe chạy lộc cộc trên con đường nho nhỏ, vòng vèo qua nhiều ngôi nhà cổ kính mái lợp ngói âm dương, phủ dày rêu phong năm tháng.

Rồi Nhã vào Sài Gòn học đại học. Cuối tuần về nhà, Nhã thường vào trường thăm cô. Hễ vừa thấy Nhã, cô mừng rỡ chạy ra, dang rộng tay ôm lấy Nhã. Giống in mẹ của Nhã vậy. Rồi cô trò thủ thỉ bao nhiêu là chuyện!

Ngày Nhã lấy chồng, cô tặng Nhã bài thơ, Nhã đọc mà nước mắt tràn mi. Sau đó Nhã theo chồng lên Đà lạt. Cha mẹ Nhã thì về Sài gòn. Nhã trôi theo dòng chảy của cuộc đời, xa cô từ ấy, thoắt đã gần sáu năm.

Tối hôm qua Nhã nhận cú điện thoại của Huy, báo tin cô giáo Cát vừa mất vì bệnh ung thư phổi. Sáng sớm nay khi Nhã chuẩn bị đi, chồng Nhã lộ vẻ không vui “Em gửi tiền xuống phúng điếu được rồi, đường sá xa xôi, chẳng ai trách đâu”. “Em không sợ ai trách cả, chỉ sợ lương tâm trách mình thôi. Ở đời đâu phải lúc nào cũng giải quyết sự việc bằng tiền bạc được. Mà nè, chúng mình lấy được nhau là nhờ cô Cát đó nghen!”

Chưa kip giải thích với chồng, Nhã lao nhanh ra xe.

… “Vâng lệnh quân vương nên thiếp vui lòng phụng hiến.

Nhưng thiếp biết nói gì , khi chim hoa lau về hỏi chốn ngày xưa ?”

Đó là chuỵên cô Cát đã kể trong một tiết văn học. Rằng một nàng cung nữ có chậu hoa quí, nhà vua tỏ ý muốn được dâng chậu hoa ấy. Người cung nữ viết hai câu thơ kia đính vào cành hoa. Sau đó vua cho người mang trả lại. Nhã đã vận dụng chuyện đó vào việc của mình. Nhà Nhã có một cây mai chiếu thuỷ rất đẹp. Ông bạn cùng cơ quan của ba tới chơi, đứng ngắm mê mệt, thấy vậy ba tặng ông luôn. Nhã tiếc đứt ruột bèn nảy ra việc làm táo bạo: Ghi hai câu thơ ấy lên mảnh giấy, bọc trong cái túi ny lon nhỏ rồi lén nhét vào giữa cây trước khi bị chở đi. Khoảng tuần sau, một anh con trai đưa tới nhà Nhã chậu mai chiếu thuỷ. Đúng là chậu ba đã tặng ông bạn. Anh con trai đó là con của ông bạn ba, và cũng là chồng Nhã bây giờ.

Sáng hôm sau, thay vì như dự kiến về Đà lạt sớm, Nhã cùng Tường, Huy và một số thầy cô giáo, một số học sinh đưa hình cô giáo Cát lên chùa. Cô chẳng còn ai thân thuộc trên đời nầy. Đây cũng là ước nguyện của cô trước lúc lìa trần. Ngồi trên xe, ôm tấm hình của cô Cát vào ngực, Nhã buồn rầu triền miên trong dòng hoài niệm về cô.

Ngôi chùa nằm sâu trong vườn bạch đàn tĩnh mịch. Từ xa mọi người đã nghe vang vọng tiếng chuông thanh thoát, tiếng mỏ trầm lắng, tiếng tụng kinh đều đều… Tất cả tạo nên giai điệu u hoài buồn thương cho kiếp người luân lạc, lay động tận sâu thẳm lòng người.

Một ni cô ra hướng dẫn đoàn người vào chùa. Qua gian chính điện, mọi người vòng bên hông ra sau. Đây là gian thờ những người được gửi vào chùa, nhiều vô kể. Cô Cát cũng như những người khác, dưới tấm hình có ghi rõ họ tên, quê quán, ngày sinh ngày mất. Hình Cô Cát được đặt ở góc trái tầng thứ hai tính từ dưới lên. Với chỗ ngồi khiêm tốn, cô Cát có vẻ vừa lòng vừa ý, nét mặt bình yên thanh thản, tươi cười như cám ơn mọi người. Thầy hiệu trưởng đốt nắm nhang, đưa mỗi người một cây. Vị ni cô đánh chuông, tất cả đồng loạt cúi đầu vái. Nhã lại chạnh lòng, rưng rưng nước mắt: “Cô ở đây thanh thản nghen cô”. Huy nói nhỏ: “Xin cô tha lỗi cho em!” Tường ngẩng lên , nhìn vào mắt cô, thì thầm: “Cô ơi! Em cám ơn cô nhiều lắm!”

Thầy hiệu trưởng ra nhà sau nói chuyện với sư trụ trì. Bọn Nhã ngồi ở bậc tam cấp bên hông chùa. Làn gió thoảng qua, mấy chiếc lá sầu đông nhẹ lìa cành, nghiêng ngửa, chới với trong khoảng không, như tiếc nuối cuộc sống trước khi đành bất lực buông mình xuống đất.

Tường cám ơn cô Cát nhiều lắm! Bởi không có cô, giờ nầy làm sao lương tâm Tường yên ổn được? Khuya đó Tường đi xe gắn máy từ Long Thành về. Trên con đường đất nhỏ tối tăm, vắng ngắt chìm khuất dưới hai hàng cây cao ven đường dẫn ra quốc lộ, xe anh bỗng va phải một ai đó bên đường mà vì mãi mê suy nghĩ, đèn xe lại hơi mờ nên anh không thấy rõ. Anh hơi chao đảo nhưng gượng được và tiếp tục chạy. Đi được một quãng ngắn, không hiểu có sức mạnh vô hình nào khiến anh quày lại. Anh kinh hoàng khi nhận ra một bé gái nằm sấp bên vệ đường! Anh điếng người, không kịp suy nghĩ, rồ ga bỏ chạy như điên. Khi về tới ngã ba Vũng Tàu, anh dừng lại, thở dốc. Trong tâm trạng u mê mụ mẫm, Tường bỗng đau đớn nhận ra mình vừa phạm tội tày đình! Anh phải làm gì bây giờ? Trở lại nơi đó, nếu em nhỏ chết, anh chắc chắn phải ngồi tù! Không, anh không còn sự lựa chọn nào khác! Anh không thể chui vào cái định mệnh nghiệt ngã kia! Tường vòng qua đường hướng về Sài gòn. Chợt lúc ấy, Tường nghe giọng nói hiền dịu và xúc động của cô Tiểu Cát trong buổi tiệc chia tay cuối năm lớp mười hai: “…Cô mong ước trên hành trình của các em, có một lúc nào đó, cô được nhớ đến với một lời nhắn nhủ về lẽ sống, về đạo làm người. Đừng bao giờ dẫm đạp lên người khác mà đi nghen các em!…” Bỗng dưng Tường cảm thấy tức ở lồng ngực. Khó thở. Anh dừng xe, gục đầu trên tay lái. Lát sau, anh bình tĩnh quành trở lại. Em bé vẫn còn nằm đó! Vẫn còn sống! Tường đưa em vào trạm xá. Em chỉ bị sây sát nhẹ. Nhà em nghèo lắm, hàng ngày em phải đi bán vé số để nuôi người mẹ tật nguyền. Cũng từ đó, Tường thường xuyên thăm viếng giúp đỡ gia đình em.

Còn Huy, sao Huy lại xin lỗi cô Cát ? Bữa đó Huy không thuộc bài. Cô phạt Huy đứng ở góc tường ngay cửa ra vào. Xấu hổ không dám nhìn xuống lớp, Huy quay mặt ra ngoài. Ma xui quỷ khiến thế nào không biết mà ngay lúc ấy Lan đi ngang qua, Lan tròn mắt nhìn Huy. Đôi mắt vốn to, đen tròn như hai hạt nhãn ấy càng đen tròn hơn, to hơn; lấp lánh cái dấu hỏi tinh nghịch. Huy sượng trân, chết lặng người. Buổi học hôm sau, cô Cát vào lớp. Thông lệ, sau khi cho lớp ngồi xuống, cô mở sổ kiểm tra bài cũ. Nhưng sao cô cứ đứng cạnh bàn? Cả lớp ngạc nhiên. Giọng cô buồn rầu và ôn tồn: “Ai đó đã hiểu sai tên cô rồi, Cát là điều lành, mà cô chỉ mong được làm Tiểu Cát, một chút điều lành nhỏ, nhỏ như thể một hạt bụi! Chỉ là một hạt bụi thôi, các em biết không?” Nói xong cô lẳng lặng lấy giấy hốt đống cát trên ghế. Bỗng cô quýnh quíu xoa hai bàn tay vào nhau! Tường hiểu ngay sự việc, chạy đi mượn cái quẹt lửa, đốt nắm giấy hơ tay cho cô. Lớp học lo lắng xì xầm. Chắc ai đã xát trái mắt mèo lên bàn ghế cô. Hôm đó cô không kiểm tra bài cũ. Cô nhẹ nhàng nói rằng cô buộc phải nghiêm khắc vì đây là năm học cuối cấp, là khúc quanh lớn trong đời các em, quyết định tương lai các em… Huy cúi đầu, suốt tiết học không dám ngẩng lên. Nhiều bạn kín đáo nhìn Huy trách móc. Ai lại không biết tỏng tòng tong anh chàng nghịch như quỉ này. Mới hôm đầu năm, thầy Khoái, dạy môn Toán bước vào lớp, thấy ngay trên bàn giáo viên một củ khoai, trên có cắm xiên viên phấn theo hình dấu sắc. Cả lớp vừa thích thú vừa lo sợ, hồi hộp theo dõi phản ứng của thầy. Thầy thản nhiên xách cặp đi xuống cuối lớp, đứng nhìn lên một hồi mới trở lại bàn. Thầy cầm củ khoai lên, gật gù, tủm tỉm cười ra chiều ý vị lắm. “Sáng, tôi rất khoái ăn sang nhưng không có tiền nên đành phải sáng ăn khoai. Cám ơn các em! ” Và thầy đảo mắt tìm kiếm: “Nghịch nhưng thông minh đấy!” Cả lớp vỗ tay rào rào. Huy vỗ tay to nhất và hét cũng to nhất …

Huy giỏi Toán, Lý, Hóa bao nhiêu thì lại dở Văn bấy nhiêu. Những bài viết của Huy thường chỉ đạt điểm 3, thấp nhất lớp. Cuối năm, cô Cát đã soạn riêng đề cương ôn tập kiến thức cơ bản môn Văn đưa cho Huy. Cô dịu dàng:“ Em vốn thông minh, chỉ cần một chút cố gắng là em sẽ đạt điểm trung bình. Cô tin em sẽ làm được!”. Huy ngượng nghịu, lí nhí cám ơn cô, tự hỏi hôm nọ cô có biết Huy đã cố tình nghịch ác cô. Huy tính có dịp thuận tiện sẽ xin lỗi cô. Nhưng rồi dịp đó chưa đến. Huy tối mặt tối mũi với kì thi tốt nghiệp, rồi thi đại học, rồi Huy đi học ở Sài Gòn, rồi Huy đi làm… Và rồi Huy quên mất… Cho tới bây giờ , khi cô không còn trên cõi đời nầy nữa thì Huy mới nhớ, rằng vẫn chưa kịp xin lỗi cô, rằng đã từng làm cô bận lòng.


***


Ngày hai mươi tháng mười một, bọn Nhã, Tường, Huy lại gọi điện thọai rủ nhau về thăm cô Tiểu Cát. Thật bất ngờ! Mộ cô đã sạch sẽ và đầy hoa tươi, ấm áp khói hương. Bộ ba còn lên tận chùa. Nhưng đâu chỉ có riêng họ! Vài nhóm cựu học sinh cũng vừa đến thắp nhang cho cô.

Bằng giọng nghiêm trang, thành kính và xúc động, Tường thưa: “Cô ơi! cô đã vun đắp cho mỗi tâm hồn chúng em bao điều tốt đẹp. Chúng em mãi mãi nhớ ơn cô!”

Một người đàn ông có dáng vẻ và cách ăn mặc của người ở nước ngoài về, đang dõi mắt trên những tấm hình. Có vẻ như ông ấy đi tìm người thân? Nhã đã ra tới cổng chùa bỗng tò mò quay lại. Người đàn ông kia đang đứng lặng yên trầm tư trước hình cô Tiểu Cát.

Nỗi buồn vẫn nặng lòng, ám ảnh Nhã bấy lâu nay chợt mỏng mảnh trong suốt, êm dịu và nhẹ thênh.



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HoaKỳ ngày 18.03.2017.


VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004