Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




NGƯỜI ĐI TÌM CHÂN TRỜI









Mỗi khi đi qua dốc phố Bà Triệu Hà Nội tôi lại chú ý đến ngôi biệt thự số 603 .Những năm 1960 của thế kỷ 20 ,Hà Nội chưa có nhiều những tòa nhà đồ sộ cao chọc trời thì tòa biệt thự này khá ấn tượng. Đó là một vila kiến trúc kiểu Pháp 2 tầng có sân thượng xinh xắn tọa lạc trong khu vườn vuông vức thoáng đãng .

Tòa biệt thự này chỉ có hai hộ.Tầng 1 phía trước là lớp dạy nhạc.Tầng gác trên là nhà ở của nhà văn Trần Hữu Chính.Khu phía trong liền kề gồm ba tầng là nhà ở của gia đình ông nhạc sĩ .

Hàng ngày đi qua tòa nhà,người qua đường được thưởng thức những âm thanh du dương trầm bổng .Những giai điệu của Chopin,Schumann...dìu dặt lôi cuốn như gió thổi mây bay

Thời kỳ ấy Sở Văn hóa thông tin Hà Nội có câu lạc bộ sáng tác văn học.Nhà thơ Huyền Tâm và nhà văn Lê Bầu phụ trách tờ Tiếng hát quê ta mỗi quí đăng 1 số 8 trang giấy khổ nhỏ .Tác giả là những cây bút không chuyên của Hà Nội .Bài đăng trên tờ Tiếng hát quê ta là những bài ca dao,thơ,truyện ký,ghi chép phóng sự ,truyện ngắn viết theo chủ đề Ba sẵn sàng,Ba đảm đang ,Người mới việc mới .Sau này gọi là người tốt việc tốt .

Nhà thơ Huyền Tâm ngày ấy đã có bài thơ Đóng nhanh thóc tốt .Bài thơ của Huyền Tâm được nhạc sĩ Lê Lôi phổ nhạc .Đoạn kết có hai câu :

Nắng nhiều sớm nở hoa cau ,

Đóng nhanh thóc tốt càng mau thắng thù.

Nhà văn Lê Bầu hồi ấy đã có tập truyện ngắn Thông reo.Tác phẩm của anh như một trái cây bói đầu mùa ngọt lịm .Nhà ca dao Hồ Minh Hà có tập ca dao Cánh buồm .Trong đó có bài Đêm núi Tản có hai câu kết :

Mai kia em có đến tìm

Hay chăng trong đó con tim bồi hồi

Nhìn chung nhóm văn nghệ sĩ công tác ở Sở văn hóa thông tin ngày đó là cây đa cây đề ,hăng hái sáng tác đã tập hợp được nhiều cộng tác viên.

Hồi ấy nơi ở khó khăn.Cán bộ viên chức hầu hết ở trong các khu tập thể như Nguyễn Công Trứ ,Thành công ...Nhà thơ Huyền Tâm ở với ông Từ trông coi đền Ngọc Sơn .Nhà văn Lê Bầu ở trong một gian phòng chật chội ở phố Phùng Hưng nguyên là tòa soạn báo Tin tức trước đây .

Câu lạc bộ văn học sinh hoạt đều đặn hàng tuần .Đây là nơi để các cộng tác viên gặp gỡ gửi bài viết cho tờ Tiếng hát quê ta .Tôi đã gặp anh Trần Hữu Chính trong những lần sinh hoạt câu lạc bộ này. Anh công tác ở một cơ quan cấp Bộ . Anh có viết văn xuôi. Anh thường đến đây họp .Chúng tôi gặp gỡ ,trò chuyện và thân nhau từ lúc nào .Một hôm anh Chính bảo tôi :

-Đông Quan này ,trưa nay mời cậu đến nhà mình xơi cơm .

-Vâng xin cám ơn anh – Tôi đáp .

Trưa hôm đó tôi đã được anh đèo xe đạp về nhà . Bữa ăn đó anh đãi tôi món cơm xứ Huế có bánh bèo ,giò heo . Một bữa ăn rất ngon có ấn tượng do chính anh nấu đãi khách .Từ lúc ấy địa chỉ tòa biệt thự nơi anh cư ngụ đối với tôi trở nên quen thuộc .

Trong lúc mọi cán bộ công chức mà tôi biết đều ở trong những khu tập thể chật chội thì anh Trần Hữu Chính được sở hữu một nơi ở bề thế khá đẹp . Có lẽ anh là cán bộ miền Nam tập kết ,lại là chuyên viên nên được ưu tiên .

Trần Hữu Chính có dáng người tầm thước,nước da trắng trẻo ,đi đứng nhẹ nhàng .Anh nói năng giọng Huế ngọt ngào thư sinh lắm .Năm ấy tôi 25 tuổi còn anh đã gần 30 rồi .Trần Hữu Chính có viết một số truyện ngắn .Tôi thích nhất Truyện Bưu thiếp 82 của anh .Câu chuyện kể rằng một người con miền nam tập kết đã viết Bưu thiếp gửi về miền nam cho gia đình ở Sài Gòn .Anh viết bưu thiếp đến lần thứ 82 gửi đi mới được hồi âm .Thời kỳ ấy liên lạc giữa hai miền khó vô cùng .Người con miền nam tập kết phải gửi thư qua người nhà ở Pháp .Từ Pháp họ mới gửi về Sài gòn .Gia đình ở Sài gòn lại gửi sang pháp để từ Pháp mới chuyển về Hà Nội .Công phu như thế hai người thân ở hai miền mới nhận được tin nhau .

Đó là tâm trạng chung của nhân dân hai miền khi đất nước bị cắt chia . Còn nhớ ,thời kỳ năm 1962 đoàn đại biểu Mặt trận dân tộc giải phóng miền nam do giáo sư Nguyễn Văn Hiếu dẫn đầu đi thăm miền Bắc.Đoàn phải đi thăm các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu mới vòng về thăm Trung Quốc rồi mới đến được miền Bắc .Nhà thơ Thanh Hải trong đoàn đã viết :

Xa nhau chỉ một mái chèo /Mà đi trăm núi vạn đèo đến đây

Truyện ngắn Bưu thiếp 82 của Trần Hữu Chính đã nêu được nỗi đau của dân tộc khi đất nước bị phân hai như lưỡi dao cắt vào khúc ruột .

Anh Trần Hữu Chính tập kết ra Bắc năm 1954 đến thời gian này đã lớn tuổi vẫn độc thân .Tôi hỏi anh Tại sao chưa lập gia đình ? Anh suy nghĩ một lát rồi nói :

- Đông Quan ạ ,quê mình ở Huế .Khi đi tập kết cha mẹ mình ở lại đã già .Anh cả của mình thì thoát ly đi hoạt động.Mình chưa muốn lấy vợ .Chỉ mong sau hai năm tổng tuyển cử ,vô Huế mình sẽ lập gia đình .Đi xa mình mới thấy con gái Huế thật đẹp.Cậu có biết một nhà thơ xứ Huế đã ca ngợi :

Học trò trong Quảng ra thi

Thấy cô gái Huế bước đi không đành .

Anh nói :

-Con gái Huế đẹp và dễ thương lắm .Giờ tan trường ,nữ sinh Đồng Khánh mặc áo dài trắng như đàn bướm ùa ra sóng bước bên nhau qua cầu Tràng Tiền .Nhìn mới đẹp làm sao.Những ngày mưa phùn các o mặc áo ni lon màu xanh ,đỏ ,vàng,tím giơ cái dù hoa lên cùng bước trong mưa lây rây nhìn mê ly sướng cả mắt . Cậu vào trong đó nhìn mà chết luôn .

Nghe anh tả mà tôi cảm thấy gái Huế quả là đẹp.

Một thời gian sau chiến tranh ở miền Nam ác liệt .Tôi thấy nhiều cán bộ miền Nam tập kết lập gia đình với gái miền Bắc.Tôi giục anh :

- Ngày thống nhất chắc còn xa lắm mà tuổi xuân của đời người chỉ có hạn .Anh nên lấy vợ đi .Anh lấy một cô gái Hà Nội .Con gái Thủ đô cũng xinh đẹp lắm chứ - Tôi hứng chí đọc câu thơ :

Chẳng thơm cũng thể hoa nhài

Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng an

Trần Hữu Chính mỉm cười :

- Gái Hà Nội cũng xinh lắm.Mình cũng đang tìm một o đây . Nhưng tiêu chuẩn chọn vợ của mình hơi cao .

- Anh nói xem nào –Tôi hướng về anh chờ đợi .Anh giảng giải

- Mình chọn con gái làm vợ phải trẻ ,đẹp ,có trình độ đại học .Nghĩa là nàng không quá tuổi 18 .Nàng phải đẹp,duyên dáng .Nàng phải là một trí thức xịn .Đấy tiêu chuẩn chọn vợ của mình như thế đấy ,Cậu tìm giúp cho mình nhé.

Tôi đánh giá anh là chàng trai kén vợ chứ không phải là người vơ quàng vơ xiên .Tôi đã chú ý tìm đối tượng để giới thiệu vợ cho anh,nhưng xem ra khó quá .Cô này được mặt này thì lại không được mặt kia .Khó nhất là tuổi 18 lại phải có trình độ đại học .Nhưng tôi vẫn cứ tìm xem sao ?

Một lần tình cờ đến thăm anh ,tôi bắt gặp một cô gái khá xinh laị trẻ ,duyên dáng lắm . Đẹp nhất là đôi mắt lấp lánh hút hồn dưới hàng mi cong mềm mại ,mái tóc mây buông xuống bờ vai ,gương mặt trái soan tươi nhuận thật dễ thương . Anh Chính giới thiệu :

- Đây là Thu Lan ở Thanh Trì cán bộ phụ nữ -Anh chỉ vào tôi –Còn đây là anh Đông Quan bạn của anh .Hai người làm quen đi .

Thu Lan khẽ chào ,tôi đáp lại bằng nụ cười . Chỉ vài phút sau chúng tôi đã chuyện trò vui vẻ .Em thật hồn nhiên dễ mến .Khi Thu Lan ra về tôi bảo :

- Anh Chính này .Thu Lan được đấy ,Anh duyệt đi còn kén chọn gì nữa .

Anh Chính cười :

- Cô nàng mới học hết cấp hai như thế là còn thiếu một tiêu chuẩn quan trọng nữa cậu ạ .

Anh vẫn kiên trì chọn vợ phải đạt tiêu chuẩn đẹp ,18 tuổi ,trình độ đại học .Nếu không tìm được cô nàng nào như thế anh không duyệt .Anh vẫn sống độc thân trong gian gác rộng 60 m2 .Anh xắp xếp căn phòng ngăn nắp gọn gàng ,sạch sẽ.Thời ấy ,cán bộ công nhân viên được cấp sổ gạo ,phiếu thực phẩm , phiếu chất đốt .Anh là cán bộ loại chuyên viên nên được hưởng bìa mua thực phẩm loại đặc biệt ở phố Tông Đản .Anh mua hai bếp dầu Liên Xô để nấu ăn.Phòng của anh toàn dùng đồ đắt tiền .Nào giường moder ,tủ gương .Nào nơi tiếp khách bài trí sang trọng với bức tranh cổ Lý ngư vọng nguyệt Và giá sách cao 3 tầng xếp những cuốn sách bìa cứng gáy vàng .Trên bàn viết của anh bao giờ cũng có một lọ hoa nhỏ cắm một bông hồng .Nhà bếp kiêm phòng ăn kê đặt thật hài hòa . Trần Hữu Chính còn biết nấu ăn , chế biến các món ăn xứ Huế ,món ăn Hà Thành thật khéo .Khách đến chơi lần đầu tưởng anh đã có một người vợ đảm đang .

Có những hôm tôi ngủ lại . Hồi ấy tôi bị bệnh mộng du ,ban đêm hay bật dậy đi lung tung .Anh Chính thường phải đóng chốt các cửa sổ ,cửa ra vào đề phòng tôi bị ngã .Anh quan tâm đến bạn tận tình lắm .Nhiều hôm anh tâm sự về thành phố Huế quê hương anh . Anh nói Huế có nhiều chùa phật ,nhiều nhà thờ và lăng tẩm ,thành quách cố đô một thời vàng son .

Anh kể nhiều về chùa Thiên Mụ nằm ở tả ngạn sông Hương cách trung tâm thành phố Huế 5 km về phía tây. Khi chúa Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa.Trong một lần rong ruổi đi xem phong cảnh ,chúa gặp một ngọn đồi nhỏ bên dòng Hương Giang trong xanh uốn khúc . Thế đất hình con Rồng đang quay đầu nhìn lại.Ngọn đồi này có tên là Hà Khê .Tương truyền ban đêm có một bà lão mặc áo đỏ quần xanh lục .Bà lão nói rồi đây sẽ có một vị chúa đến xây chùa để tụ binh khí làm bền long mạch cho đất nước thêm hùng mạnh .Năm Tân Sửu 1601 ,Chúa Nguyễn Hoàng đã cho xây dựng ngôi chùa mang tên Chùa Thiên Mụ nhìn ra sông Hương ( Thiên Mụ nghĩa là trời ).Đến thời Nguyễn Phúc Chu (1691 -1725 ) chùa được xây dựng qui mô hơn .Năm 1710 chúa cho đúc một quả chuông lớn nặng trên 2 tấn gọi là Đại hùng chung .Trên mặt chuông có khắc một bài minh .Chùa Thiên mụ là ngôi chùa đẹp nhất xứ Đàng trong cậu ạ .Năm 1862 dưới thời vua Tự Đức .Để cầu mong có con nối dõi, nhà vua sợ chữ Thiên phạm đến trời nên đổi là Linh Mụ( bà mụ thiêng ).Năm 1788 thời Tây Sơn vua Quang Trung Nguyễn Huệ đã đặt đài tế trời đất ở chùa Linh Mụ .Năm 1844 nhân dịp làm lễ bát thọ cho vợ vua Gia Long cũng là bà nội của vua Thiệu Trị vua đã kiến tạo thêm một ngôi bát giáp gọi là Từ nhân ,sau đổi là Phước Duyên,đỉnh Hương Nguyên và dựng hai tấm bia lớn ghi lại việc xây dựng tháp và khắc vào đây một số bài thơ của vua Tháp Phước Duyên cao 21m ,gồm 7 tầng .Mỗi tầng tháp đều thờ tượng phật.Bên trong có cầu thang hình xoắn ốc đẫn lên tầng trên cùng thờ tượng phật bằng vàng .Chùa Linh Mụ là thắng cảnh bậc nhất xứ Huế .Vua Thiệu Trị đã sáng tác bài thơ Linh Mụ chung Thanh có câu :

Truyền công phất thánh tràn non nước

Nhân cảnh ươm lành khắp chốn xa

Khuôn viên chùa với những thảm cỏ ,vườn hoa ,hòn non bộ ,cây trái xum xuê tươi tốt .Cuối vườn là khu mộ táng các nhà sư .Đi trong vườn chùa,du khách như bước vào bức tranh trầm mặc hữu tình .Phong cảnh vừa bình yên vừa tĩnh mịch .Chùa Linh mụ đã đi vào thơ văn,ca khúc của các vua chúa,văn nhân thi sĩ mọi thời đại .

Anh nói say sưa rồi hướng về tôi hạ giọng :

- Cậu có biết không anh mình là con cầu tự chùa Linh Mụ đấy.Chẳng là thế này .Má mình lấy ba mình đến năm ,sáu năm không sinh nên phải lên chùa Linh mụ cầu tự .Thế là năm sau đẻ được anh trai mình .Tiếp theo các năm sinh ra mình rổi sinh ra em gái mình nữa .Cho nên hàng năm ba má mình vẫn lên Linh mụ trả lễ .

- Thế à anh nói Đông Quan mới biết - Tôi nói –cũng như người Bắc hiếm con trai phải đi cầu tự chùa Hương.

Một lần khác anh lại kể cho tôi nghe về chùa Từ Đàm ,Chùa Huyền Không ,chùa Bảo Quốc ...Những ngôi chùa cổ ở Huế .Anh nói về chùa Từ Hiếu ở xã Thủy Xuân xây dựng từ 1843 do hòa thượng Nhất Đinh trụ trì .Vị sư này là người con hiếu thảo với cha mẹ .Vua Từ Đức cảm động trước tấm gương đó nên ban cho chùa được mang tên: Sắc Tứ Từ hiếu tự .Chùa Từ hiếu nằm trong rừng thông xanh rộng 8 mẫu có khe nước uốn quanh,phong cảnh thơ mộng ,có hồ bán nguyệt sênh sang ngào ngạt hương sen thoang thoảng . Anh nói : sau này đất nước thống nhất cậu vô Huế chơi mình sẽ đưa cậu đi thăm các lăng tẩm ở Huế .Đến nơi nào cậu cũng sẽ bị hút hồn .Huế đẹp ,Huế thương lắm Đông Quan ạ .

Tôi rất có cảm tình về người con trai xứ Huế yêu quê hương kỳ lạ . Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 anh đã ngoài 40 tuổi .Tôi tiễn anh ra ga Hàng cỏ để đi tầu Thống nhất về Huế .Tài sản của anh chỉ vẻn vẹn có hai chiếc va ly .Anh sống 20 năm trên đất Bắc vẫn cô đơn .

Mấy năm sau tôi có vào thăm Huế .Anh ở trong căn phòng cơ quan phân cho ở phố Mai Thúc Loan trong Đại Nội cách hồ Tĩnh Tâm không xa. Anh dành thời gian đưa tôi đi thăm thành quách,lăng tẩm Huế .Tôi thích nhất Lăng Tự Đức Sơn thủy hữu tình có gần 50 công trình với hồ Lưu Khiêm có cầu uốn cong dẫn lên đồi thông . Anh lại đưa tôi về thăm nhà thờ Phú Cam lớn vào bậc nhất kinh thành Huế do một kiến trúc sư Việt Nam kiến trúc và xây dựng từ thời Ngô Đình Diệm .Anh lại đưa tôi đi thăm cửa biển Thuận An thăm Vọng hải đài nhìn ra biển Đông một thời bảo vệ kinh thành ...Anh thật sự mến khách . Trước khi chia tay tôi ái ngại vì anh vẫn chưa lập gia đình .Tôi bảo anh đã lớn tuổi khi chọn vợ nên hạ tiêu chuẩn xuống .Ví dụ anh có thể chọn người trên dưới tuổi 30 nhưng hợp ý mình ,hoặc có thể kết hôn với người có trình độ trung cấp thôi hay lấy một cô giáo tiểu học chẳng hạn .Nghĩa là đừng có kén chọn quá .Tôi nói :

- Nếu anh cứ khăng khăng chọn vợ như tiêu chuẩn cũ thì chẳng bao giờ tìm được đâu .Chỉ tìm được người trong mộng mà thôi anh ạ .

Trần Hữu Chính cười :

- Nếu không tìm được người đạt tiêu chuẩn như mình đặt ra thì mình vẫn cứ độc thân sợ chi . Mình cứ kiên trì chờ xem .

Bẵng đi đến hơn 10 năm chúng tôi mất liên lạc . Phần vì xa xôi ,tôi lại có thời gian dài đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài .Nhưng tôi vẫn nhớ hình bóng anh với bao kỉ niệm .Tình cờ một hôm tôi gặp anh bạn cũ trong nhóm đồng hương Huế ở Hà Nội .Anh lấy vợ miền Bắc và cư ngụ tại Thủ đô .Tôi hỏi anh bạn về Trần Hữu Chính .Anh nói anh Chính đã nghỉ hưu từ lâu .Anh cho tôi biết địa chỉ mới của anh Chính ,còn số điện thoại di động của Chính anh không có.

Festival Huế một tháng nữa mới khai mạc .Tôi không thể chờ bèn mua chút quà thủ đô vào tặng anh rồi bay ngay vào Huế thăm Trần Hữu Chính. Xuống sân bay Phú Bài xe ta xi đưa tôi về khách sạn century Riverside -49 Lê Lợi thành phố Huế. Hotel này nhìn ra dòng Hương Giang thơ mộng .Bên kia sông là chợ Đông Ba nhấp nhô trong nắng .Từ ô kính phòng 304 tầng 3 tôi đứng ngắm vẻ đẹp của con sông thơm đến sững sờ ,sóng vỗ lăn tăn lấp lánh như dát bạc .Tôi xuống nhà gửi chìa khóa phòng cho lễ tân rồi ra đường Lê Lợi vẫy một chiếc ta xi chở đến địa chỉ nhà anh Trần Hữu Chính .Xe lên cầu Tràng Tiền sang đường Trần Hưng Đạo qua chợ Đông Ba rồi ngoăt lên cầu Gia Hội .Tài xế cho xe chạy chậm qua những dãy phố uốn lượn có những nhà vườn liền kề màu xanh ngăn cách bởi những rặng cây chè tầu cắt xén phẳng lỳ có phủ những dây tơ hồng vàng mơ .Taxi dừng bánh tôi bước xuống trả tiền cho lái xe .

- Nhà anh Trần Hữu Chính đây rồi .

Tôi bước tới đứng ngay cổng lớn có giàn hoa giấy màu đỏ lất phất bay trong gió.Bên trong cổng là tấm bình phong xây bằng gạch sơn màu đỏ quạch.Tôi tư lự đứng ngắm phong cảnh và lấy máy ảnh ra giơ lên ngắm thu vào ống kính những nhà vườn xôn xao trong nắng mới .Có lẽ ít nơi nào sánh với nhà vườn ở Huế đẹp thơ mộng còn lưu giữ được chất kinh kỳ .Tôi đang mơ màng thì một người đàn ông chừng 40 tuổi mặc áo sơ mi trắng cộc tay đi ra .Đợi anh đến gần tôi lên tiếng :

- Xin chào anh ,tôi hỏi có phải đây là nhà của ông Trần Hữu Chính phải không ạ ?

- Dạ thưa chú đúng đấy ,nhưng chú cháu đã mất cách đây 5 năm rồi .Xin mời chú vô nhà chơi -Tôi súc động nói:

- Thật không ngờ anh Chính đã mất rồi ư ?

Anh nói : Dạ chú cháu đã qui tiên . Cháu tên là Thạch là cháu ruột của chú Chính .Còn chú và chú Chính của cháu quan hệ như thế nào ?

Tôi giới thiệu tôi là Đông Quan là bạn của chú Chính từ ngày ông ở Hà Nội .Tôi bước theo anh Thạch.Khu vườn mở ra bát ngát ước chừng 3000 m2 bạt ngàn cây xanh thoáng đẫng .Có lần ở Hà Nội anh Chính đã nói với tôi nhà anh ở Huế rộng lắm đứng ở cổng gọi to người ở trong nhà không nghe tiếng . Có lẽ đây là khu vườn này .Tôi đã vào đến sân trước mặt là ngôi nhà cổ nợp ngói âm dương nhìn ra hòn non bộ ,và nhiều chậu hoa ,cây cảnh bolsai những trúc ,vạn tuế ,ngô đồng ,si ,đa ...xanh tươi .Xung quanh sân là Thanh trà ,sa cô chê, vú sữa , khế ,đào ,mận trái sai súc sỉu.Ánh nắng ban mai tãi nên vườn cây để lọt xuống đất những chùm hoa lúng liếng .Tôi theo anh Thạch vào nhà,trước tiên tôi xin phép chủ nhân thắp cho anh Chính nén nhang thơm .Tôi đặt một chút bánh kẹo và hộp chè Thái Nguyên vào chiếc đĩa trên ban thờ .Thạch giúp tôi châm ba nén nhang cắm vào lư hương ,tôi thấy chân dung anh dưới các di ảnh của các bậc bề trên.Anh mặc com lê đội mũ phớt ,đeo kính trắng nhìn tôi trìu mến như bảo chào bạn Đông Quan đã lâu quá chúng ta mới gặp nhau .

Tôi vái ba vái rồi ngắm anh trong khói nhang mờ ảo ,trong lòng bỗng xôn xao những kỉ niệm xưa như sống lại bồi hồi .

Trở lại ngồi xuống tràng kỷ ,Thạch rót nước ra chén hạt mít . Nước trà xanh ướp hương hoa sen bốc khói thơm ngào ngạt :

- Mời chú xơi nước- Thạch nói –Đây là nhà từ đường của gia tộc .Ba cháu là anh ruột chú Chính ,khi ông còn sống đã giao cho cháu có nhiệm vụ trông coi và thờ cúng tổ tiên chú ạ .

Anh uống nước nhấp giọng rồi kể tiếp: Khi chú Chính từ Bắc vô ,chú ở nhà tập thể cơ quan phân cho .Chú chưa lấy vợ nên chẳng quan tâm gì đến gia đình nhà cửa chú chỉ thích thơ văn thôi .Khi chú nghỉ hưu phải trả nhà cho nhà nước chú mới dọn về đây ở với cha con cháu .

Tôi uống nước rồi nói về tình bạn giữa tôi và anh Chính khi Anh ở Hà Nội .Khi anh về Huế công tác tôi đã có lần vào thăm anh ở Mai Thúc Loan . Thạch lắng nghe rồi đổi giọng xưng hô :

- Thật kỳ lạ chú con không lấy vợ .Ba con vận động bảo chú phải lập gia đình đi không muộn quá rồi .Tiêu chuẩn chọn vợ của chú bây giờ không thích hợp nữa.Làm sao mà một ông già về hưu lại cứ đòi lấy được gái 18 xinh đẹp lại có trình độ đại học .Thật kỳ lạ đến khi chú 70 tuổi vẫn cứ khăng khăng phải chọn vợ như thế .Con nói với chú rằng : Chú kỳ quá chú kén vợ như người đi tìm chân trời thì không bao giờ tìm được mô

.Chú con gạt đi : Nếu không tìm được người như thế tao quyết không lập gia đình .

Tôi nói với Thạch : Khi ở Hà Nội anh Chính cũng đề ra tiêu chuẩn kén vợ như thế .Thật là kỳ lạ .

Tôi hỏi Thạch :

- Mộ của chú Chính an táng ở đâu tôi muốn đến thăm viếng để thắp nhang cho ông .

- Dạ , mộ của chú con an táng ở xã Vinh An đường đi thuận tiện thôi xin mời chú .

.Anh lấy điên thoại gọi Taxi khi chúng tôi ra đến cổng lớn thì chiếc xe matit đã đỗ chờ ở đấy .Anh quay lại khóa cổng rồi chúng tôi lên xe .Chiếc matit vè vè chuyển bánh .Khi xe đến chợ Đông Ba tôi bảo lái xe dừng lại .Tôi xuống xe ghé vào một quầy bán hoa tươi mua 10 dò hoa huệ , một nải quả ,mấy bông hoa cúc ,một bó nhang và xấp tiền âm phủ . Anh Thạch cũng xuống xe mua gói bánh và cân kẹo mè xửng rồi đưa tất cả đồ lễ cho tài xế đặt vào cốp xe . Chúng tôi lên xe .Con Matit lại vè vè chạy lên cầu Tràng Tiền rồi xuôi đường Lê Lợi ,qua Đập đá ,rẽ về đường đi Vinh An .Xe băng băng lướt qua những đồng ruộng ,xóm làng trù phú thấp thoi những vườn cau tươi tốt ,cây trái xum suê như chạy trong bức thảm xanh.Thỉnh thoảng xe tôi lại tránh những chiếc xe chạy ngược về Huế .Anh Thạch nói : xe của những người vô thăm mộ ở nghĩa trang Vinh An đấy . Chừng 30 phút sau chúng tôi đã đến nơi . Thạch nói :

- Đây là xã Vĩnh an thuộc huyện Phú Vang ,mời chú xuống nghỉ chút đã .

Chúng tôi xuống xe . Trước mặt không xa là những ngôi mộ vàng son chói lọi lấp lánh dưới ánh nắng mặt trời .Mộ này tiếp mộ kia kiến trúc cầu kỳ tít tắp dài đến 3,4 km .Thạch chỉ tay ra xa : Mộ của chú con ở mãi xa kia .Làng An Bằng thuộc xã Vinh An này có cách đây chừng 500 năm , nay đất làng này dành để xây dựng nghĩa địa .An Bằng là thành phố ma -Một nghĩa địa giầu có nhất Việt Nam chú ạ .Đấy chú xem những ngôi mộ lăng tẩm tầng tầng lớp lớp kiến trúc cầu kỳ như thế này đều do tiền của các Việt kiều gửi về cho gia đình xây dựng.Người sống thì ở tồi tàn còn người chết thì ở lộng lẫy như thế này.Mỗi lăng mộ chi tốn kém hàng chục ngàn đô la chú ạ .

- Có lẽ ít nơi nào như ở nước ta lại quan tâm nhiều đến người chết như vậy- Tôi nhận xét .Anh nói : Dạ đúng như thế đấy.

Thạch lại mời tôi lên xe để đi tiếp đến mộ chú Chính.

Anh tài xế cho xe chạy lên cầu bê tông vào nghĩa địa .Đường về làng An Bằng như đi trong thành phố âm ti .Lăng mộ tiếp nhau san sát lấp loáng xanh đỏ châp chới lạnh tanh .Một chiếc xe khác đi sau xe chúng tôi bóp còi xin vượt lên đi trước .Chừng 10 phút sau ,Thạch bảo lái xe dừng lại cách chiếc xe vừa đỗ không xa . Tôi thấy có hai người đàn ông mặc com lê và một bà mặc áo dài tím đang vào khu mộ hoành tráng to như miếu thờ để hành lễ .Chúng tôi xuống xe .Anh chỉ tay vào khu mộ trước mặt kiến tạo như lăng Khải Định thu nhỏ :

- Mộ Chú Chính con táng trong khu lăng gia đình.Trong cùng là mộ ông bà nội con ,tiếp đến là mộ ba má con ,bên cạnh là mộ chú Chính con.

Thạch nói thêm : Năm kia bà o tức em ruột ba con ,cũng là em ruột chú Chính .Bà là luật sư Việt kiều ở Mỹ ,bà o cùng chồng về xây dựng lăng mộ này .Khi xong công trình ông bà giao cho con chăm sóc rồi lại về Mỹ .

Tôi đặt lễ trước mộ anh Chính rồi thắp nhang cho tất cả các ngôi mộ trong lăng.Thạch châm lửa vào các cây đèn cầy .Ánh nến lung linh chấp chới .Xong thủ tục tôi cùng Thạch chấp tay lễ bái . Tôi vái ba lạy rồi khấn vong linh anh Trần Hữu Chính người bạn cũ đã qui tiên .Anh đã trút bỏ bụi trần về thế giới vĩnh hằng xa rất xa .Khi anh mất vì xa xôi Đông Quan không hay biết xin anh thứ lỗi ,nay trở lại Huế Đông Quan đến vĩnh biệt anh,cầu chúc cho anh an giấc ngàn thu nơi tiên cảnh .

Chúng tôi đứng lặng lòng bồi hồi trước khói nhang trầm tỏa :

Đôi ngả phân ly tôi còn lại / Anh đi mùa thu đã chết rồi

Chờ cho tàn nhang Thạch đi hóa vàng .Những đồng tiền âm phủ cháy bùng bùng tàn tro lất phất bay .

Thạch đi thu lễ tôi đứng bái biệt rồi lên xe.Chú tài cho ô tô quành trở lại vè vè bò qua cầu bê tông trở về Huế .Xe lướt đi băng băng trong ánh nắng buổi trưa chói chang .Thạch bảo lái xe chạy về đường Phạm Hồng Thái đến nhà hàng An định viên .Thạch nói : Con mời chú ăn trưa ở đây .

An định viên là nhà hàng khá đẹp có không gian trầm lắng đất cố đô nhưng tấp nập du khách ra vào .Không gian mát rượi xanh rợp bóng cây .Thạch chiêu đãi tôi một bữa ăn thuần Việt đậm chất Huế có bánh bèo ,bánh nậm ,bánh lọc ,nem công ,bia Huế -

- Chú cứ tự nhiên .Chú con mất rồi nhưng còn có con được tiếp đãi chú như người thân chú đừng ngại chi .Chú thực tình nhé .Có dịp ra Hà Nội con sẽ đến thăm chú .

-Chú rất vui được đón tiếp anh –Tôi đổi giọng xưng hô cho thân tình .Chúng tôi ăn uống tự nhiên và nghỉ ngơi thưởng thức ly cà phê chuyện trò vui vẻ lắm . Chừng 1 giờ sau xe đưa tôi về khách sạn . Thạch bắt tay tôi tạm biệt .

- Còn ở lại Huế ngày nào mời chú cứ lại chơi ,con sẽ đưa chú đi vãng cảnh nhé .Đây số phôn của con đây –Thạch đưa danh thiếp cho tôi rồi lên ta xi .

Tôi nhận lời rồi xem đồng hồ đã 3 giờ chiều .

Tôi vào lễ tân lấy chìa khóa rồi đi thang máy lên phòng .Tôi tháo giầy lăn ngay ra giường định làm một giấc nhưng cứ nghĩ lan man mãi mà không chợp được mắt .Tôi vừa thiu thiu thì có tiếng gõ cửa :Cộc ! cộc ! cộc !. Tôi bật dậy:

- Ai đấy ! tôi vội xỏ dép đi ra .

Cửa vừa mở,tôi đứng như trời trồng mồm há hốc .Trước mắt tôi là anh Trần Hữu Chính .Anh đứng kia tươi cười :

- Xin chào anh bạn Đông Quan .Mời anh đi theo tôi .

Như cái máy tôi theo bóng anh xuống tầng 1 rồi đi ra bờ sông Hương .Một chiếc thuyền Rồng đã chờ sẵn .Tôi theo anh xuống thuyền những nhạc công khăn nhiễu áo dài gấm hoa lộng lẫy đang tấu lên những bản nhạc cung đình theo nhịp phách tiên . Anh ra hiệu cho con thuyền trôi ra giữa dòng rồi hướng về Ngã ba sình.Trên sông Hương mênh mông bạt ngàn thuyền Rồng to ,nhỏ xuôi ngược như lá tre .Sóng nhấp nhô ,thuyền đan nhau ,nhạc xập xình ,ca Huế cất lên rộn ràng đông vui nhộn nhịp .Bầu trời như sẫm lại,gió vi vu . Chừng một giờ sau ,hai bên bờ ánh điện le lói.Các con thuyền đèn nến sáng choang .Tiếng hát vút lên lanh lảnh :

Cầu Tràng Tiền sáu vai mười hai nhịp,

Thương nhau rồi thì biết kịp về mô

Kẻo mai kia bóng xế qua cầu

Bạn còn thương bạn chứ biết giải sầu về với mô ...hờ

Anh ra hiệu cho con thuyền xuôi Cửa Thuận. Tiếng ca tiếng phách , cung đàn nổi lên theo nhịp . Mái chèo khua nước .Con thuyền vượt lên vỗ sóng xôn xao ,gió mát hiu hiu .Con thuyền rẽ sóng lướt đi .

- Cửa Thuận An kia rồi !

Anh lại cho thuyền quay lại chạy ngược lên . Trần Hữu Chính cười nói với tôi :

- Từ ngày rũ bụi trần tôi được ở tập trung với những người không vợ ,không con ,không chồng trong nhà dưỡng lão . Những ông mãnh , bà cô bị người đời phê phán là hâm dở ,mà hâm dở thật .Riêng tôi hâm dở quá là do mình đặt ra tiêu chuẩn quá cao nên không thực hiện được . Mà ngẫm xem những vua quan ,những kẻ có chức cao vọng trọng lắm tiền ,nhiều của thì cả hoa hậu nó cũng mua được thôi .

Tôi định nói với anh nhưng mở mồm không được ,tôi chỉ có quyền nghe anh nói : Tôi đang học tập để đi đầu thai nhưng xem ra làm người khó quá ( Tôi nghĩ đến nhà thơ Nga E. vinokurov đã băn khoăn :

Làm thú vật làm thánh thần cũng dễ

Chỉ có làm người khó biết bao nhiêu

Nhưng không bày tỏ cho anh nghe được .

Đàn vẫn ca hát ,thuyền rồng vẫn xuôi ngược như lá tre .Anh chỉ huy cho con thuyền chui qua cầu Tràng Tiền rồi cầu Phú Xuân .trôi trên Phú Văn Lâu bồng bềnh .Sóng nhấp nhô .Ánh điện lấp lánh như hoa gấm .Vườn hoa trên bờ chan hòa ánh điện như muôn hồng nghìn tía .Thuyền ngược mãi lên phía thượng nguồn .Bên kia là Thủy Biều xanh ngắt cây xanh .Bên này là chùa Linh mụ . Anh cho con thuyền ghé gần bờ rồi chỉ lên ngôi chùa trầm mặc có tháp Phước Duyên in trên nền trời có muôn vàn vì sao lấp lánh .Tiếng chuông chùa bỗng ngân lên thánh thót ném vào không gian mênh mông . Thuyền Rồng quay lại xuôi dòng.Con thuyền chạy đan xen giữa những con thuyền khác trên dòng sông hoa đăng rộn rã tiếng đàn tiếng phách .Đến khách sạn tôi ở , thuyền ghé vô .Anh Chính đưa tiễn tôi lên bờ : Đôi ngả phân ly Đông Quan ở lại/ Mình về âm thế mùa thu đâu còn nữa bạn ơi.

Nghe như tiếng gió thoảng bên tai tôi quay lại .Anh Chính và cả chiếc thuyền rồng đã biến mất .Cả mật sông bỗng vắng vẻ mênh mông rờn rợn .Tôi rùng mình chạy nhanh vào khách sạn đi thẳng cầu thang bộ lên tầng 3.Mắt tôi cay xè díp lại .Tôi trượt chân đổ rầm xuống giường .Cứ thế tôi lịm đi , lịm đi ...

Bỗng có tiếng động làm tôi choàng tỉnh dậy. Đêm khuya lắm .Tôi dụi mắt lắng nghe .

-Cộc ! cộc ! cộc ! –Đúng lại có tiếng gõ cửa ,gõ lần thứ 2 .Tôi bước xuống giường ra mở cửa .Một cô gái trẻ xuất hiện .Ả cao dong dỏng má phấn môi son tuyệt đẹp .Ả mặc quần đùi trắng nõn ,áo hai giây hở ngực mắt lúng liếng nhìn tôi tươi cười :

--Dạ , chào quí khách , em có thể chăm sóc anh được hôn ? Giọng Huế thật ngọt ngào quyến rũ .Tôi lưỡng lự :

- Xin cám ơn em tôi không có nhu cầu .

Tôi đáp , đóng cửa lại rồi trở về giường ngủ tiếp.



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 18.03.2017.


VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004