Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




GIAN NAN LÀM NGƯỜI






Chương 10


TRỞ THÀNH “CẬU TÚ”


Từ niên học 1956-1957 hệ thống giáo dục thống nhất theo một mô hình đó là trường Phổ thông các cấp. Theo thông lệ, đáng lẽ tôi học Đệ Tứ (Trung học đệ nhất cấp) nhưng nay chuyển đổi là lớp 7, lớp cuối Phổ thông cấp 2.

Tuổi học sinh những năm đó cũng như các bạn bây giờ đã là trẻ con thì nhiều chuyện lắm. Ước mơ , hoài bão, rồi những lần sinh hoạt tập thể. Các hình tượng văn học và hình tượng anh hùng cách mạng như Lý Tự Trọng, Phan Đình Giót, Trần Văn Ơn tuy mỗi người một thời, một hoàn cảnh nhưng họ đều là những ngôi sao lấp lánh để chúng tôi luyện rèn. Còn trẻ lắm, học hết lớp cuối cấp đã sắp thành “Cậu Tú” đến nơi nhưng đã ai có mơ mộng gì đâu. Chính sự trong trắng trong tư tưởng đã làm cho hành động của mỗi người đều như có “thép đã tôi” trong đó.

Học sinh lớp Bẩy (Chu Văn An) được phân công tham gia xóa nạn mù chữ cho bà con các xã ven nội, đồng thời dạy BTVH cho những người đã biết đọc biết viết, vực trình độ họ trở thành lớp 4 sau hai năm. Lớp 7B của tôi được về dạy ở các làng Bái Ân, An Phú, Cầu Sau, Hồ Khẩu.

Đó là những ngày học sinh các lớp rất vội. Những người ở xa thường bỏ cả cơm chiều để đi dạy rồi mới về ăn sau. Tôi và các bạn về làng Bái Ân ở ngay cạnh làng Yên Thái. Điện chưa có. Đêm đêm anh em mò mẫm đi vào con đường làng bên bờ Ao Cá. Con đường ban ngày trông thơ mộng lắm, hàng cây sòi nhỏ có lá xanh, lá đỏ săm sắp bên nhau. Nép sau hàng cây đó là một ngôi nhà gianh, có bác thương binh cùng cô con gái trạc tuổi chúng tôi, tóc dài tết sam thường ra vào. Mỗi lần đi qua, không ai bảo ai đứa nào cũng nhìn trộm vào để xem cô gái đó đang làm gì

Lớp học đặt tại nhà ông Bẩy, bốn bà già hàng xóm mỗi bà cầm một cái túi vải đựng sách bút và cái đèn hoa kỳ nhỏ bằng thủy tinh bước vào

-Chào cậu giáo

-Chào anh giáo

Chúng tôi lí nhí chào lại mà ai cũng ngượng vì các bà đều cao tuổi hơn cả mẹ mình ở nhà. Đành cứ cười trừ rồi nói lấp :

-Thưa các bác, chúng cháu được giao nhiệm vụ đến đây để cùng các bác học chữ. Bác Hồ đã dạy toàn dân phải diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm và giặc đói. Nay ta đã có hòa bình nhân dân đang làm ăn để khôi phục kinh tế thì cái dốt phải diệt, các bác ạ.

-Phải đấy. Chúng tôi xin theo lời Bác Hồ.

Những bà học viên già ngồi quanh nhau cắm cúi tập viết, tập đọc. Ngọn đèn dâu hỏa dù khêu đến to cũng không tỏa sáng như ngày nay có điện để bạn trẻ đang học, thế mà bởi ánh sáng từ trong lòng soi rọi chỉ 21 ngày sau những học viên già của lớp đã nhận được mặt chữ, đã ghép vần và viết được. Dòng chữ đầu tiên khi học viên trả bài là “Bác Hồ muôn năm” Còn gì vui hơn khi giúp được những người đã lớn tuổi đó, sau những năm daì tăm tối tìm được ánh sáng của đường đời. Thấy chúng tôi dạy ở Bái Ân thành công Ban phụ trách lại rút anh em đi về làng xa hơn, cho đến gần ngày thi cấp II mới tạm dừng để ôn thi. Cuộc tổng kết công tác Bổ túc văn hóa và Bình dân học vụ năm ấy anh em chúng tôi được tặng mỗi người một tấm thiếp hồng có ảnh và chữ ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bác viết “ Tặng chiến sĩ ziệt zốt” Đó là phần thưởng vô giá mà chúng tôi đã được nhận từ hồi còn trẻ.

Bấy giờ lớp Bẩy, học sinh đều sàn sàn 15, 16 tuổi. Sống trong không khí tự do, độc lập lại được lôi cuốn bằng những phong trào ai nấy đều thi đua học tập và rèn luyện

Trong những lần nhà trường tổ chức nói chuyện chính trị giảng viên thường hướng suy nghĩ của chúng tôi – những người học sinh được rèn luyện dưới mái trường Dân chủ hân dân – về các nhiệm vụ mới : Đó là khôi phục đất nước.

Các bạn trẻ bây giờ hãy hình dung hồi ấy : Sau 9 năm kháng chiến nhiều cánh đồng bỏ hoang , nhiều nơi dây thép gai còn chằng chịt. Nạn đói và bão lụt liên tiếp xảy ra đe dọa nền kinh tế còn non yếu. Thế mà trong hoàn cảnh đó mọi người đoàn kết cùng chịu khó kiên cường phục hóa những cánh đồng hoang, gỡ mìn khu chiến trường, đồn bốt cũ , làm lại đường sắt Hà Nội – Mục Nam Quan. Trong lực lượng lao động đó, những thanh niên học sinh có trí thức , có giác ngộ đáng quý lắm. Tuổi học sinh chưa cống hiến nhiều, thì ngoài giờ học tập mỗi lớp cũng tổ chức đơn vị lao động xã hội chủ nghĩa và nhận một phần việc được làm vào ngày chủ nhật. Ngày đó được gọi là “ngày chủ nhật cộng sản”

Các lớp trên các anh chị còn ghi tên tham gia công trường : Khôi phục đường sắt Hà Nội – Mục Nam Quan (nay gọi là đường sắt Hà Nội – Hữu Nghị Quan) Ngày nào cũng nghe dư âm tiếng hát hùng mạnh yêu đời ca ngợi con đường đó.

Hà Nội – Bắc Kinh – Mạc Tư Khoa

Dập dìu (này) tiếng hát, vui (này) chan hòa

Nếu không đi công trường đường sắt thì đi Tây Bắc. Nơi nào cũng cần sức khỏe, mà học sinh thì đang phơi phới thanh xuân.

Khi lớp trưởng Bạch báo tin :

Chủ nhật này chúng ta làm lao động xã hội chủ nghĩa ở trước quảng trường Ba Đình. Các bạn hãy thu xếp thời gian tham gia cho đông đủ.

Chiều thứ bẩy thì bạn Hưng đến nhà tôi . Nó bị yếu tim đã thành bệnh nặng, nay ốm o khác hẳn những người cùng tuổi. Hưng buồn rầu bảo :

Tớ yếu quá. Hôm qua làm xong bài toán mình cứ phải nằm bệt mãi. Không biết ngày mai mình có đi được không ?

-Mệt thì nghỉ. Đi làm ốm thêm đấy.

-Nhưng mà không được tham gia cùng các bạn, tôi buồn lắm. Mình đã đọc đi đọc lại câu “Người ta chỉ sống có một lần, phải sống cho ra sống để chết đi không còn luyến tiếc gì” Cậu cho tớ cùng đi nhé.

Thương bạn quá, nhưng không dám để Hưng đi theo, anh em trong lớp nhất quyết ép Hưng về. Nó về mà nước mắt lưng tròng.

Cả lớp xuất quân từ trường Chu Văn An ra quảng trường Ba Đình, Trời còn sơm. Ngọn cỏ còn vương mấy hạt sương đêm. Lớp chúng tôi nhận khối lượng xong là xúm lại cùng làm. Chỉ có mấy chục học sinh mà hát hò, không khí lao động náo nhiệt quên cả thời gian

Chợt từ phía Phủ Chủ tịch có hai chiếc xe đi ra. Đã vượt qua nơi chúng tôi làm thế mà có một chiếc vòng lại . Một người bước nhanh đến chỗ chúng tôi :

-Các em là học sinh ở đâu, làm gì vậy ?

-Thưa, chúng em là học sinh lớp Bẩy trường Chu Văn An. Hôm nay đi lao động xã hội chủ nghía ạ.

-Thế các cháu có biết lao động xã hội chủ nghĩa là làm gì không ?

Một giọng nói trầm ấm cất lên ngay cạnh chúng tôi. Mọi người giật mình quay lại : Trời ơi ! Bác Hồ đã đứng bên bên chúng tôi từ lúc nào mà không ai biết. Hôm nay trông mái tóc Bác như trắng hơn, đôi mắt Bác hiền dịu quá . Bác Hồ nói :

-Các cháu ạ. Hiện nay các cháu đang đi học, cố gắng rèn luyện để thành nhân tài cho đất nước. Nhưng học không thể tách rời cuộc sống, Nhân dân ta đang dồn hết tâm lực để khôi phục kinh tế.

Các cháu còn trẻ vậy cần phải biết học và biết cả lao động nữa. Nếu có học mà không có ứng dụng thì các cháu sẽ làm được điều gì ? Vậy lao động xã hội chủ nghĩa là những bài học để các cháu biết yểu lao động, từ đó biết quý trọng công sức người lao động mà giũ gìn bảo vệ. Các cháu có đồng ý không ?

Cứ như là trong một giấc mơ , học sinh lắng nghe chưa kịp trả lời vì còn mải ngắm Bác thì người thư ký đã mời Bác ra xe đi công tác. Vài phút gập Bác, nhưng mấy ai đã có dịp trong đời.

Để kỷ niệm niềm vui đó, lớp tôi đã lên một trang báo tường với nhiều bài tường thuật kể chuyện do các cây bút trong lớp thực hiện Tôi cũng góp một bài thơ kể lại niềm vui đó (nay còn nhớ)

Sớm ấy, lớp tôi vui lắm nhé

Đang làm lại được Bác Hồ thăm

Bác rất hiền, lời Bác rât thân

Dạy lớp trẻ chúng con tiến bước


Có em nhỏ trên đường đi học

Cũng chạy vào ngắm Bác không thôi

Tôi lắng nghe như nuốt từng lời

Từ đấy lòng chúng tôi có lửa


Học sinh lớp Bẩy thi đua với nhau về nhiều mặt. Ngoài việc nâng điểm số học tập, điểm số lao động, chúng tôi còn chú trọng rèn luyện thân thể. Lớp nào cũng có đội bóng đá. Cũng tham gia cuộc thi Bơi lội phổ thông vượt 50 mét do Sở Thể dục Thể thao tổ chức. Được rèn luyện từ công việc nhỏ nhất, tham gia các hoạt động xã hội và hoạt động công tác Đoàn Đội nên đến ngày thi tốt nghiệp nhiều bạn được xét trưởng thành Đội để thành Đoàn viên Thanh Niên Lao động từ năm 16 tuổi.

Hè năm 1957 khi anh em học sinh chuẩn bị thi Tốt nghiệp Phổ thông cấp II, trên báo Nhân dân có bài xã luận khích lệ học sinh, coi chúng tôi là những “trí thức trẻ” của xã hội Dân Chủ Nhân Dân.

Sau này chúng tôi lên cấp III học tiếp Đại Học hay Trung cấp ngay từ năm hết cấp II không ai có thể quên được những năm đầu Hòa Bình lập lại có nhiều gian khó, không ai không tự hào về điều mình đã tham gia đóng góp. Được động viên kịp thời , trở thành những cán bộ chiến sĩ trên các mặt trận giữ gìn độc lập dân tộc.

Kể lại chuyện “ngày xưa đi học” tôi muốn nói với các bạn : Bây giờ các bạn có nhiều điều kiện để học, hãy rèn luyện tốt hơn nữa để đưa nước Việt Nam yêu quý của chúng ta trở thành hùng mạnh.

Những bạn bè của tôi ngày ấy có người đã trưởng thành trong công tác, có người đã hy sinh, cống hiến tuổi trẻ cho sự nghiệp Giải phóng Miền Nam thống nhất đất nươc.

Nhắc lại để nhớ một thời đầy vất vả, nhưng đày ấn tượng đối với tuổi thơ. Cũng qua trang viết này mô tả sinh hoạt các miền, các nơi để hun đúc tình yêu quê hương của chúng ta.


Chương 11


NHỮNG NGÀY HỌC CẤP III


Chúng tôi đã lên cấp III học lớp 8C.

Lớp 8C hồi ấy có nhiều học sinh giỏi từ trường Albert Sarraut chuyển sang. (vì năm 1958 trường Albert Sarraut giải tán) Lớp tôi đón các bạn học sinh cùng cấp trong đó có bạn Nguyễn Phú Lâm và Tuệ ở phố Sinh Từ giỏi tiếng Pháp có thể nói chuyện, phiên dịch cho vợ chồng giáo sư Tông gát. Ông bà là những thầy giáo dậy Pháp văn cuối cùng của chương trình Sinh ngữ. Sau khi vợ chồng giáo sư về Pháp, lớp 8C chuyển sang học tiếng Nga do thầy Trần Lâm phụ trách.

Từ bỏ vốn tiếng Pháp đã học liên tục 7 năm đến nay quay sang học tiếng Nga thực là khó lắm. Nhưng không ai kêu ca gì. Cũng trong thời gian này, xuất hiện báo Nhân văn và Giai phẩm mùa Thu. Trên báo Nhân dân, báo Văn nghệ xuất hiện nhiều bài báo phê phán các tác giả , gọi họ là “nhóm Nhân Văn – Giai Phẩm”

Năm 1959, đã vào niên học 1959-1960. Trước khi vào học tất cả học sinh đều dự sinh họat chính trị. Đó là học tâp, rèn luyện để trở thành những học sinh vừa có kiến thức, vừa có khả năng lao động tôt. Các cán bộ của Sở Giáo dục Hà Nội , của Thành đoàn kêu gọi học sinh đến với Gia Lâm để xây dựng trường cấp III của huyện ấy. Hồi ấy học sinh Gia Lâm muốn học cấp III phải sang Hà Nội. Số học sinh đông dần mà trường chưa có. Năm nay, Sở quyết định lập trường cấp III đầu tiên. Từ năm nay, Sở quyết định lập trường cấp III đầu tiên. Có trường, có lớp, nhưng học sinh lấy ở đâu ra ? Các cấp đề ra công thức học sinh Gia Lâm và học sinh nội thành tình nguyện sang.

Đây là một kiểu trường vừa học vừa làm. Học sinh sẽ có buổi sáng học văn hóa, buổi chiều vào Nhà máy Xe lửa Gia Lâm học nghề. Công n hân Xe lửa Gia lâm sẽ hào phóng truyền nghề cho học sinh. Viễn cảnh đó cùng với sự hứa hẹn của các cấp, sựn ca ngợi những thanh niên dám bỏ trường cũ đi xây dựng trường mới như những hiệp sĩ dấn thân làm mọi người rất phấn khởi. Thế là tôi và Nguyễn Công Sơn cùng ghi tên đi Gia Lâm.

Hồi ấy, sau khi làm Công tư hợp doanh gia đình Công Sơn từ vai tiểu chủ xuống làm xã viên trong HợpTác Xã Giấy Cộng Lực. Tôi và Sơn chơi thân với nhau, thậm chí học cấp III mà bài vở có để ý gì đâu. Cái mê nhất của hai đứa là đi bắn chim. Chỉ là súng cao su nhưng chúng tôi kỳ công đào đất sét nặn đạn Những khi làng xung quanh cây cối um tùm, chim di trú về nhiều. Ở đầu làng Bái Ân có cây đa bên Ao Cá và cây đa già đứng gần cổng làng Bái. Hai cây đa này mỗi khi quả chín là chim vàng anh bay về ăn. Nó bay trong đám lá, đôi cánh vàng chóe xập xòe trong lá, bắn nó rất dễ. Ở trong chùa Võng Thị lại có đàn chim “bạch đầu” thân đen đầu trắng, khi nó bay về vừa ăn quả vừa hót vang khu vườn chùa. Đàn chim này rất khôn, thường có con đầu đàn đậu trên cao quan sát, chỉ huy. Lại có con “hét” thường không làm ồn ào, mình nó đen tuyền, có động thì vội vàng bay lên, buông mấy tiếng kêu “Hét, hét” Trên đường Hoàng Hoa Thám có loài cây nhội,mỗi mùa nhội chín có loài sáo nhội (gần giống sáo đá) về ăn, chúng nó tranh nhau kêu ríu rít . Tôi cứ như lạc vào thế giới của chim, lang thang theo các đàn để săn bắt. Nhóm chúng tôi có thêm Thảo (rỗ) một đứa có biệt tài bắn súng cao su. Khi nó đã giương súng cao su lên, hướng chạc súng về phía nào đó y rằng sẽ có con chim rơi xuống.

Có lần ông bố Sơn bắt được hai đứa không đi học, mà đang lẫn khuất ở Ao Đình để chơi. Ông vừa cất tiếng gọi thì cả hai chạy thục mạng. Tôi leo lên tường gạch chỗ đặt Bia Bà Tư Hin rồi quaweng mình xuống. Sơn không biết cách, nó nhảy theo tôi rơi như một con ếch, nằm ngất bên đình. Ông bố đuổi đến nơi nhìn thảm cảnh mà sợ, không dám nói gì, vực nó về phục thuốc.

Sau lần ấy, tự nhiên chúng tôi không ham bắn chim nữa, mà ra sưc học tập trong học kỳ 2 của năm lớp VIII, rồi rủ nhau đi sang Gia Lâm học tập.

Khai giảng năm học 1959-1960 trường cấp III đầu tiên của Gia Lâm lấy tên là Nguyễn Gia Thiều. Trường có 2 lớp Tám (8A, 8B) và hai lớp 9A, 9B. Đó là một ngôi trường cấp 2 cũ, nay đã nâng cấp thành Trường Cấp II và Cấp III. Tất cả đều là nhà một tầng. Các lớp cấp III có nhà gạch, các lớp cấp II là nhà tranh, nền đất. Sân rộng, ngày mưa lõm bõm nước. Trường đóng tại đầu làng Ngọc Lâm . Học sinh Hà Nội sang được giới thiệu trọ học trong làng. Hồi đó tôi trọ tại nhà cụ Luân (gọi theo tên con trai). Cụ có hai người con là chị Gái (dệt vải) và anh Luân (làm ruộng) Ở trọ nhà cụ có ba học sinh là Nhiệm, Sơn và tôi. Nhiệm nhiều tuổi hơn, được bầu làm tổ trưởng.

Ở Gia Lâm, chúng tôi khép mình trong kỷ luật. Anh Nhiệm quê ở Hưng Yên, ham học và cần kiệm. Nấu cơm anh ta chỉ cho ăn canh cà chua suông,. Nhưng học phải đủ bài mới được đi ngủ. Đi xa nhà trong cái tuổi mới lớn, chẳng gì cũng đã chớm 17. 18 rồi. Con người ai chẳng có rung cảm. Thời kỳ này ở miền Nam. Ngô Đình Diệm ban hành luật 10/59 thẳng tay diệt Cộng. Hầu hết tâm tình người Bắc đều hướng về Nam. Đêm đêm nghe loa truyền thanh đọc “Những bức thư tiền tuyến” nghe thơ “Lá thư Bến Tre “ của Tố Hữu, nghe Khánh Vân hát “Bài ca hy vọng” mà lòng nôn nao chỉ muốn đi Nam để giết bọn Mỹ - Diệm.

Là học sinh cấp III ở huyện đã được coi là sang, đắt giá. Không ít các cô em cấp II ở các Lớp 6. Lớp 7 tóc dài đã bắt đầu đánh mắt. Tôi và Sơn, hai thằng dân Hà Nội cũng không vừa. Chúng tôi cứ để ý tìm nhau trong sinh hoạt và học tập. Ngay ở lớp tôi tình trạng gán ghép cũng bắt đầu. Lớp 9B có mấy cô xinh lắm. Cô Mai người phố Hàng Đào, cao tuổi hơn ăn mặc đúng mốt con nhà giàu. Mùa rét Mai hay khoác áo dạ dệt carô rộng, cập sách luôn ôm chéo trước ngực. Cô Lan có đôi mắt to, thích hoạt động , lại giỏi toán. Lại có chị em Ngân , Thọ là người miền Nam vượt tuyến ra Bắc học, được cả lớp quý lắm.

Lớp 9A cũng pha các học sinh từ Quế Lâm về nước, Sau này họ đều là những người có địa vị trong xã hội. Lớp tôi có bạn Lý Văn Nguyện –một học sinh bị tât nguyền ở chân- nhưng rất mê vật lý, lại có đầu óc tổ chức.

Cuối năm học, chính Nguyện là người bày ra triển lãm thành quả lao động của học sinh Nguyễn Gia Thiều vừa học vừa làm. Người xem thán phục trước các sản phẩm cơ khí, sản phẩm đúc của chúng tôi. Họ cũng khen sáng kiến của Lý Văn Nguyện làm máy phát điện bằng sức gió từ cái “đynamô” xe đạp

Cùng tổ học tập với tôi còn có Hoàng, Lê và Lâm. Mẹ Hoàng thương tôi lắm, bà hay cho tôi ăn bánh rán, vì thế tôi hay bỏ nhà trọ ra phố Ái Mộ ngủ lại nhà Hoàng. Ở đây, có lúc gập các bạn bên 9B cùng đến chơi.

Không biết có cô nào để ý đến tôi không nhưng thằng Sơn thì có chuyện “động trường” Số là trong buổi liên hoan học kỳ, nó múa đôicùng Tuyết 8A trông rất đẹp. Học sinh đùa ghép đôi, nó ức quá bảo “ Chúng mày ghép quá, ông công khai cho biết tay” Tưởng nó nói thế, ai ngờ hôm sau trên báo tường của lớp có bài “Anh Sơn chị Tuyết” lời lẽ vừa đánh trống kêu làng, vừa ăn cướp. Nó kêu khổ đấy nhưng lại kết bài là “không hiểu bạn Tuyết nghĩ thế nào về lời ghép đôi này ?”. Cả trường xúm quanh đọc báo, khiến thầy hiệu trưởng phải cho tịch thu bài báo đó.

Bản thân tôi cũng ăn đòn vì chuyện ghép đôi, trong lớp 9A hồi ấy chúng nó ghép đôi đủ kiểu. Giỏi Văn có đôi, giỏi Toán có đôi, giỏi Lý cũng có đôi. Mà giỏi Toán hồi ấy có đôi Hòa – Lan, chúng tôi hay đùa ghép như thế. Như mọi lần tôi ở bàn trên vừa đứng lên to mồm hét “Hòa – Lan” thì ở bàn dưới thằng Hòa cục tính ném cả cái ghế lên. Cái ghế đạp trúng đàu, khiến tôi gục xuống. Máu chẩy chan hòa. Tôi ngất đi không biết gì nữa.

Khi tỉnh dậy tôi đã nằm ở Bệnh xá Gia Lâm, thằng Hòa vẫn ngồi ở bên khóc. Nó bảo “Tao giết mày rồi. Tội tao to quá” Tôi xem bệnh án, thấy vết thương không lớn, lại đang sức khỏe nên bảo Hòa “ Tao đã khỏe rồi. Mày đưa tao về lớp. Đừng khóc nữa” Đầu tôi mang sẹo từ đấy.

Những ngày nghỉ, tôi đi bộ qua cầu Long Biên thường thấy người thợ sơn cầu, giãi nắng dầm mưa mà sơn. Qua phố Hàng Đậu thì đón tàu điện về Bưởi chơi với gia đình. Mẹ tôi vẫn đi chợ Bắc Qua bán trầu cau, anh tôi học trung cấp Giao thông vận tải. Các bạn cũ đã có đứa nghỉ học, phá ngang đi làm. Bưởi đã già đi một chút, đội bóng đá vẫn còn cầu thủ, nhưng các bạn tôi không thi đấu dưới mầu áo “Tuổi Xanh” nữa, đi học, đi làm ở đâu thì đá cho đơn vị ấy.

Mỗi lần về Bưởi, tôi thường tìm cách gập Xuân. Cô bạn mới hết lớp Năm nhưng đã là một thiếu nữ dậy thì. Xuân có mái tóc dài, đôi mắt mở to đen láy. Đôi khi nhìn kỹ, đáy mắt có pha chút vàng của mắt Âu. Bạn tôi lấy tên hiệu là Mai Ngọc, cũng đỏng đảnh lắm. Trong lúc tôi cố tình tìm cách gần thì các anh của Xuân lại cố tình ngăn cản. Anh của Xuân đã bảo tôi :

-Hai đứa còn là học sinh cả, hãy học cho tốt đi. Cậu phải tu dưỡng bản thân cho thuần tính hơn, chứ cậu đánh nhau khắp làng thì ai dám kết thân với cậu.

Vì những rào cản như thế nên Xuân đã xa dần tôi.

Hồi đó, ảnh hưởng thơ mới tôi cũng tập viết, tập làm thơ. Bài thơ tôi viết là bài về người em làm giấy. Trong cái ngõ sau nhà cô bạn đã bao lần tôi cố tình đi qua để ngắm cảnh cô gái làng can giấy, seo giấy.mà bật lên tứ thơ :

Em sẽ cúi nghiêng mình bên mớ uốn

Đôi bàn tay vuốt nhẹ chiếc liềm thông

Những tờ giấy trắng trong như lụa

Theo tay em hàng xếp nên hàng.

Làng tôi là một làng làm giấy, con gái làng từ nhỏ đã phải học các động tác seo giấy, bóc uốn và can giấy. Nghề giấy là nghề vất vả nhưng nhờ đặc tính làm nghề trong mái che nên cô nào cũng trắng da dài tóc. Hơn nữa, tục truyền nước giếng làng rất “mát da thắm thịt” nên con gái làng da trắng tóc dài là chuyện thường tình. Với dáng như thế khi seo giấy, khi can giấy họ đều có nét đẹp trong từng động tác.

Ở Gia Lâm tôi quen Thân trong đội bóng của Trường. Thân có em gái vốn được coi là “búp bê của phố Ngọc Lâm” Thi đỗ cấp II thì Thân đi học chuyên nghiệp rồi đi làm. Em Thân vẫn đang đi học và cô cũng mến tôi. Hồi đó, học sinh cấp 2, cấp 3 đều lớn tuổi không phải là chuyện hiếm. Mười năm trong vùng tạm chiếm nên học sinh thất học nhiều lắm. Năm ấy, hòa bình mới lập lai 6 năm, học sinh các cấp có được bao nhiêu là quý bấy nhiêu, nên ở Gia Lâm, ở Nguyễn Gia Thiều không ít các bạn ở trường là trẻ con, khi về nhà là người lớn. Lúc đó đang là hè 1959, em chủ động hẹn tôi sang Gia Lâm để được gập nhau. Mỗi lần sang, tôi đến nhà Hoàng ngủ nhờ. Nó chỉ cười, hỏi tôi “T4 lại hẹn mày rồi à ?”

Một năm học tập ở Gia Lâm, nhờ sự nghiêm túc của Nhiệm anh em chúng tôi học có khá hơn và căn cứ thành tích học tập tôi được xét cấp Học bổng toàn phần, trị giá 21đông/1 tháng. Hồi ấy đã bắt đàu chế độ tem phiếu, nhưng chưa bán theo định mức. Gạo tẻ có giá bốn hào /1 kg gạo.

Hết năm lớp 9, tôi chia tay các bạn về nghỉ hè, hẹn gập lại lúc khai giảng lớp 10 . Nhưng đến đầu niên học lớp 10 tôi đã phá ngang đi làm.

Đầu năm 1960 Đảng Lao động Việt Nam đề ra khẩu hiệu “ Ra sức xây dựng Miền Bắc, giúp đỡ Miền Nam, đấu tranh thống nhất đất nước” Tôi cũng đã vượt qua tuổi 18 không thích ngồi ở ghế học sinh nữa. Hồi đó, về tư tưởng coi trọng giá trị người trực tiếp lao động . Nhiều bài hát ca ngợi “anh thợ hàn” “cô thợ sơn” “xây dựng khu gang thép Thái Nguyên”. “xây dựng cầu Việt Trì” ngày đêm thúc giục, kêu gọi

Cái hình ảnh người thợ rất lãng mạn, rất hấp dẫn đã làm lu mờ hình ảnh trí thức chỉ có lý thuyết suông.

Khoảng tháng 8 năm 1959 thì C500 mở lớp tuyển sinh, tôi được A13 giới thiệu thi tuyển. Cuộc thi tuyển ở C500 trải qua nhiều khó khăn tôi đều vượt qua, nhưng về cân nặng thì không đủ 50 kg thế là rớt. Nhưng cái chuyện tôi được C500 tuyển dụng khiến các bạn phục lắm, khi tôi bị đánh trượt, trả về trường chúng nó vẫn chua tin

Tháng 9 năm 1959 lại có hai đợt tuyển sinh, đó là làm công nhân nhà máy cơ khí trung quy mô (Cơ khí Hà Nội bây giờ) và thi tuyển vào Điện Ảnh. Gửi hồ sơ đi hai nơi đều được gọi, Tôi đắn đo suy nghĩ, cuối cùng bỏ Nhà máy cơ khí để thi vào trường Điện ảnh Việt Nam


... CÒN TIẾP ...


. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 18.3.2017.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004