Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới








ĐAU LẮM LỜI RU





D ì Năm Dình điên thật rồi! Mẹ tôi từ ngoài đồng về,vừa xổ hai ống quần xuống vừa nói trống không. Tiếng gàu múc nước va lanh canh vào thành giếng rồi ục một tiếng rõ một. Mẹ đổ nước vào chậu nhôm rồi ngước mặt nhỉn như dò thái độ của tôi trước cái tin kia. Tôi thì lại im lặng,chờ mẹ nói nốt cái điều mẹ giữ trong lòng về dì Năm, ít ra lúc này,có thể giải tỏa phần nào uất ức. Tôi định lên tiếng thì nghe tiếng xe đạp vội vã của chị Hai phóng vào sân. Ném chiếc xe ngả chổng kềnh, chị hằm hằm như muốn ăn tươi nuốt sống ai vậy.Cũng tại lũ con khốn nạn của dì mà ra cả mà!

Thì ra là vậy. Dì Năm điên là vì mấy đứa con. Mà mấy đứa con của dì đã làm gì mà dì phải nông nổi như thế này. Thằng Nhân ,con Đức, thằng Phúc đều có nghề nghiệp, sống ở thành phổ cả,thỉnh thoảng mới về.Còn con Hạnh lỡ thì, xin gã đồ tể làng bên đứa con, mở quán cháo lòng ngoài đầu làng. Có thấy tụi nó hoạnh họe mẹ nó gì đâu .Biết tôi thắc mắc, chị Hai vừa cầm cái nón quạt lấy quạt để vừa càm ràm như chuyện của nhà mình. Cái lũ con ấy,biết thế này, đẻ ra bóp mũi chết hết cho rồi. Làm gì mà ghê vậy trời. Tôi nhìn mẹ như muốn biết ngay cái hệ lụy mà dì Năm gánh mang.Mẹ trông có vẻ đăm chiêu, thủng thẳng. Biết thế nào mà nói,phải tội. Người làng mỗi người mỗi ý, chuyện bé xé cho to. Thôi mày vô nấu cơm, rồi ở lại chơi chiều về. Tao qua bên nhà dì tí. Nói rồi, mẹ te tái bước đi như lúc về.

Dì Năm Dình là con riêng của bà ngoại tôi. Ngoại tôi trước khi lấy ông ngoại đã có người hẹn ước.Nhưng người đó,vì thời cuộc, phải rời quê. Biền biệt nhiều năm, ngoại tôi đành gạt nước mắt sang sông theo người mà mình không yêu, chỉ biết nhau qua một lần trễ đò và người mai mối. Lúc đầu,ngoại cũng cứng đầu,bướng bỉnh nhưng nghĩ lại mình không còn trẻ nữa,tuổi xuân theo thời gian cũng đã phai tàn,ngoại gật đầu mang theo chiếc khăn thêu đôi chim cầm sắt.Ở với ông ngoại hai năm ,ngoại sinh mẹ tôi. Và năm ấy người đàn ông năm cũ trở về. Tình xưa chưa trọn,nghĩa cũ chưa nhòa. Họ đã lén lút gặp nhau và dì Năm Dình ra đời trong một đêm mưa gió bão bùng. Ông ngoại tôi sững sờ,nhìn hai đứa bé một vừa thôi nôi một còn đỏ hỏn. Ông biết mọi chuyện nhưng làm thinh. Suốt ngày giặt giũ tả lót, cơm nước . Bà ngoại ở cữ vừa đầy tháng thì phải ra ngoài làm lụng. Cảm giác có lỗi đè nặng khiến ngoại lặng thầm như chiếc bóng. Ông ngoại hiền từ, nhận đức, gạt đi nỗi đau bị phụ tình mà cố yêu thương, chia sẻ với bà ngoại nhiều hơn. Có lẽ cái ơn của ông ngoại đã khiến ngoại nguôi ngoai và hình bóng người đàn ông kia không còn tồn tại nữa. Bà ngoại chăm sóc mẹ tôi và dì Năm Dình chu đáo dù ngày ấy mười nhà đã đến chin nhà thiếu ăn.Ông ngoại tôi thì làm thợ mộc, đóng cối xay nên nay đây mai đó. Một chuyến đi thường một tháng, có khi hai ba tháng mới về. Ở nhà, bà ngoại quán xuyến mọi công việc từ ruộng đồng, nương rẫy đến heo gà. Mẹ tôi và dì Năm thương yêu nhau, đi đâu làm gì cũng đều có nhau, không rời một bước. Đã thế hai người lại hao hao, suýt soát nhau nên người ta cứ nghĩ hai chị em sinh đôi.

Cứ thế mẹ tôi và dì lớn lên trong sự yêu thương đùm bọc của ông bà ngoại. Mỗi lần về, quà cho hai con đều giống nhau. Một bên mẹ, một bên dì, ông ngoại tôi pha nhiều trò, cười nắc nẻ. Năm mẹ tôi mười tám tuổi, theo bà ngoại ra chợ, gặp người thương hồ buôn muối lên mạn ngược, kiêm luôn nghề coi bói. Ông ta phán rằng, số mẹ lận đận tình duyên, lấy người không hề yêu và sẽ sớm thành góa phụ. Mẹ tôi dụi vào lưng bà ngoại cười e thẹn khi thoáng thấy ánh nhìn của gã trai sau tấm chắn lá cọ dưới khoang thuyền. Về sau, chẳng biết ai dẫn lỗi đưa đường mà mẹ tôi đã gặp gã trai ấy và nên duyên chồng vợ. Thiệt tình, bảo không yêu mà lấy như lời người thương hồ thì không đúng lắm. Mẹ tôi vẫn có cái xuyến xao của tuổi đương thì, vẫn hò hẹn cùng nhau trong những đêm trăng hiếm hoi khi thuyền buôn muối ghé qua. Đám cưới tổ chức sau đó một năm. Cha tôi về ở với mẹ con tôi chưa được mười lần thì biệt tích. Tôi và chị Hai thiệt thòi đủ thứ, cố giành giật tấm hình cha cũ nát, bạc màu mỗi lần nhớ đến ông. Còn dì Năm thì muộn chồng hơn mẹ tôi. Mãi đến gần ba mươi dì mới chịu gật đầu với người đàn ông tên Phi, làm nghề thợ bạc, kém dì hai tuổi. Ai cũng bảo dì sung sướng. Lấy chồng kém tuổi lại giàu nữa. Dì Năm trông sắc sảo hơn mẹ tôi, ăn nói lại có duyên nữa. Khối người mê. Ông bà ngoại tôi nhiều phen mất ăn mất ngủ vì tiếng chó sủa, tiếng những gã trai gây sự đánh nhau trước ngõ. Có người còn thề sống thề chết nếu không lấy được dì nữa. Rồi dì lấy chồng. Mọi người không bất ngờ cho lắm. Vì hai người trông rất xứng đôi. Điều họ thắc mắc là cái bụng cô dâu sao cứ nhọn lên, muốn bật tung cúc áo, trông thần sắc cũng không được tự nhiên lắm. Câu trả lời là khoảng bốn tháng sau, con Nhân oe oe khóc trong nhà hộ sinh xã. Mà dì Năm mén con lắm, sòn sòn mỗi năm một đứa. Mẹ tôi phải gác chuyện nhà mà nuôi đẻ, vì bà ngoại tôi đã già, phía chồng dì lại người phố, không dám động tay.

Sự đời chẳng ai biết trước điều gì cả. Sướng khổ, buồn vui, hạnh phúc hay bất hạnh luôn đồng hành khiến con người ta luôn thích ứng, vượt qua, nếu không thì gục ngã. Đang yên ổn với cuộc sống lặng thầm,không nhiều xáo trộn với hai đứa con, mẹ tôi hay tin phải lên trại giam tuốt trên núi đón bố tôi về. Mẹ tôi ngã như cây chuối bị chặt ngang thân, thất thần suốt mấy ngày. Đêm không ngủ được. Mái tóc dày rụng phân nữa, xác xơ. Hai chỉ em tôi chỉ biết nhìn mẹ mà xa xót. Rồi mẹ đã quyết định là đi đón cha nhưng không chấp nhận cha sống chung với chúng tôi. Khi ấy tôi mười lăm còn chị tôi mười bảy. Thì ra cha tôi bị kết tội buôn lậu, còn buôn lậu gì thì tôi không biết. Ông ngoại tôi biết chuyện cũng không nói gì cả. Cái điếu cày là vật gắn với ông suốt ngày sau đó, khói bay mịt mù. Còn bà ngoại tôi thì lăng xăng qua lại, hỏi han đủ điều. Bà còn bảo với mẹ, dù sao thằng Toàn ( cha tôi) cũng là cha tụi nhỏ, mày làm vậy có nên không? Mẹ tôi nhìn ngoại một hồi rooficuis mặt, cắp chiếc nón lá đã bung vành ra ruộng. Bà ngoại nhìn theo chép miệng. Tôi và chị Hai thì nhìn trân ngoại, muốn lắm một lời động viên, an ủi. Có lẽ ngoại thấy chưa cần thiết nên e hèm một tiếng rồi về trông thằng Phúc mới biết lật, dì Năm mới chạy ra chợ thì phải.

Chuyện gia đình tôi mẹ giải quyết ổn như không còn cách nào ổn nữa. Cha bị kết án,ra tù rồi về quê, còn làm gì thì chị em tôi không hề biết và mẹ cũng không có ý định nói cho chúng tôi biết. Tôi sợ nhất là mẹ buồn nên không dám hỏi. Từ đó mẹ tôi đã thay đổi, mẹ dồn hết sức lo cho hai chị em tôi ăn học. Chị Hai tôi lấy chồng xã bên, cách một con sông, hạnh phúc tạm thời với hai đứa con, một trai một gái và người chồng siêng năng chìu vợ hết lòng. Còn tôi thì xong đại học, lên phố làm việc. Vì lấn cấn chuyện học hành, thi cử rồi chạy đôn chạy đáo tìm chỗ làm mà mãi đến hơn ba mươi rồi mà vẫn chưa tròn chữ hiếu với mẹ. Tuy vậy, tôi tạm hài lòng với bản thân mình. Cuối tuần tôi hay đánh xe về nhà với mẹ, ăn bữa cơm cùng mẹ. Nhiều lần gọi điện cho mấy đứa con dì Năm để về cùng nhưng bọn nó đều từ chối, bảo bận lắm.

Thì ra bọn nó giành nhau mảnh đất. Chị Hai hét toáng lên, đến nửa làng nghe thấy. Tôi từ tốn hơn nhưng vẫn thấy ấm ức trong lòng. Còn mẹ thì ngồi thừ trên mé hiên. Thiệt tình, không thể hiểu nỗi bọn chúng đang nghĩ gì. Mảnh đất ấy gần đường cái. Lâu nay con cái trưởng thành,lên phố học, rồi ở lại, dì Năm cũng không ngó ngàng chăm xới nên trông như đất hoang, cỏ dại um tùm, những cây thân gỗ mọc thấp chen nhau, gia súc gia cầm làm chốn kiếm ăn. Ai ngang qua cũng lắc đầu, tiếc rẻ. Đùng một cái, dự án nâng cấp đường xôn xao. Bọn chúng có chữ nên ngửi được mùi tiền nhanh nhạy, đi tắt đón đầu, kéo nhau về bàn với mẹ bán đất chia cho an hem chúng.Bốn đứa con, hai trai hai gái, thêm một rể , hai dâu tranh giành quyết liệt, không ai chịu ai cả. Ai cũng viện ra đủ lý do để được phần hơn. Con Nhân bảo, nó là lớn nhất phải được hai phần. Thằng Đức không chịu, cho rằng dù lớn nhất nhưng chị là phận gái đã theo chồng, không có quyền gì cả. Thằng Phúc bồi thêm, đúng đấy, xét cho cùng thì bà( nó không xưng chị) với bà Hạnh thì ra rìa. Con Hạnh tứ lộn ruột, ném cái dao đang thái miếng thịt mang từ chợ về, bảo thằng Phúc nhắc lại điều vừa nói. Thằng Phúc mặt xanh như đít nhái, phân bua, là tui nói vậy thui mà. Từ nãy, ngồi ngoài hiên, dì Năm nghe hết nhưng giả vờ đuổi mấy con gà bươi mấy luống rau mới trồng, tiện tay nhặt viên sỏi ném bang quơ vào bụi cúc tần xanh rì mọc lấn lối đi. Chuyện bốn chị em giành đất càng lúc càng gay cấn, không ai chịu nhường ai. Họ đang trông cả vào phán quyết cuối cùng của mẹ.Tất cả đang mong mẹ sẽ yêu thương mình hơn mấy người kia mà chia phần hơn. Họ bắt đầu giở mọi mánh khóe nhằm hạ gục đối phương. Con Nhân hướng về mẹ, lên tiếng, mẹ nói gì đi chứ, mẹ coi đứa nào hay về với mẹ, cho mẹ tiền, nhất là từ khi cha mất, con đưa mẹ lên ở với con mà mẹ đâu có chịu? Con Hạnh nghe thế bĩu môi, chị nói vậy mà nghe được à, thế ai đêm hôm gọi điện cho tui bảo lên gấp mang mẹ về, vì mẹ cằn nhằn khó ngủ? Con Nhân cười gằn, mày giỏi thì chăm đi. Con Hạnh cũng chẳng vừa, không nói thì người ta cũng đã làm. Con Hạnh bảo thế, vì nó là đứa gần mẹ nhất, hay ghé về cho mẹ miếng bánh, đồng quà. Công bằng mà xét thì nó là đứa thương người, hay lam hay làm, chỉ tội nhan sắc kém tí mà dang dở duyên tình. Thấy hai người con gái không ai nhường ai, thằng Đức đứng dậy, hắn giọng, dù sao tui cũng trưởng nam, mẹ không quyết thì tui quyết vậy! Cái gì? Thằng Phúc cũng không vừa, đứng lên nghênh chiến. Ông mà quyết phần lợi về ông à. Vợ thằng Đức thấy đứa em chồng xấc xược, hỗn láo nên đã kéo tay chồng xuống rồi đứng lên xỉa xói, đay nghiến. Chị ta nói không chỉ cho mỗi thằng Phúc nghe. Mấy người coi thử, cái nhà này, dòng họ này, coi ai bằng ông Đức nhà tôi không. Lo cho gia đình, họ tộc. Mày nữa, chị ta hướng sang thằng Phúc, ai xin việc cho làm, ai đứng ra vay tiền khi mày vỡ nợ, thứ an hem gì mày… Hả? Vợ thằng Phúc, là giáo viên mầm non, thục nữa, thấy chị dâu chửi chồng như thế cũng không thể ngồi im. Chị toan đứng dậy thì thằng Phúc ấn vai vợ xuống rồi mạnh tay kéo tuột ra về. Cuộc tranh luận vẫn cứ tiếp diễn với những người còn lại. Chỉ có chồng con Nhân là không buồn xía vô. Họ cứ lên xuống, chỉ trỏ, chửi bới nhau nên không hề biết dì Năm Dình gục xuống sau tiếng hực đau đến xé lòng.

Dì Năm đã hai ngày rồi không ăn uống gì cả. Hễ thấy mấy người con bén mảng đến là dì cười hềnh hệch rồi bứt xé quần áo và xua đuổi. Bọn chúng chạy dài. Mẹ tôi qua bên nhà dì ở, tiện chăm sóc dì. Lúc tỉnh dì lại khóc, dì cứ bíu lấy mẹ tôi mà khóc. Mẹ tôi mủi lòng khóc theo. Tôi bảo mẹ hay là đưa dì đi viện chữa bệnh. Dì nghe, hiểu thì phải, nhìn tôi lắc đầu, mẹ tôi cũng lắc đầu.

Tôi phải về thành phố, lại đi một chuyến công tác dài ngày. Tôi hay gọi điện cho chị Hai hỏi thăm về dì. Chị hay buồn rầu, bảo vẫn vậy, không thấy tiến triển gì cả. Ba đứa con ở phố mất mặt, chỉ con Hạnh mang thức ăn về thì dì đều ném đổ. Dì chỉ cần mẹ tôi. Mẹ tôi chải tóc cho dì, dì ôm mẹ tôi như ôm một đứa trẻ và cất tiếng ru. Lời ru xưa cũ mà dì thường ru trong những ngày trời trở bấc. Ngọt ngào, dịu êm và tha thiết. Mẹ tôi kể, dì hát rất hay, giọng dì thanh, trong lại rất cảm tình.

Một hôm tôi đang trên đường về nhà sau chuyến công tác thì thằng Phúc gọi, bảo anh làm sao cứu mẹ em với, bệnh tình ngày càng nặng, mà bọn em lại không gần mẹ được. Tôi ậm ừ, bảo mày cứ về quê rồi tính. Đêm ấy, thằng Phúc ở nhà tôi. Hai anh em trải chiếu giữa sân, nhâm nhi vài cút rượu. Trăng quê rười rượi, tỏa mát khung cảnh yên bình. Tiếng dế kêu ran, tiếng chẫu chuột cũng phụ họa đôi hồi. Tôi nằm ngủa mặt ngắm trăng, thằng Phúc nằm một bên. Chốc chốc , nó xoay mặt vào phía tôi, hơi rượu phả làm tôi tỉnh táo, nhưng nó không nói gì. Có lẽ điều nó sắp nói ra hệ trọng lắm. Bần thần, bất an một chặp thì nó cũng mở lời. Điều nó nói ra thực ra tôi không hề tưởng tượng nổi. Thằng Phúc không phải con của dì Năm mà là của người đàn bà nào đó bỏ rơi ngay đầu làng mùa đông năm ấy. Tôi giật mình nhớ lại cái vụ đứa trẻ bị bỏ rơi. Năm đó tôi mới năm tuổi, một mùa đông dài lạnh cóng. Nghe kể, dì Năm đận ấy cũng gửi lại ba đứa con nheo nhóc cho ông bà ngoại rồi đi cùng chồng làm ăn xa. Trước hôm dì đi, người làng còn bàn tán về đứa trẻ bỏ rơi dưới gốc đa cạnh ao làng nhưng tờ mờ sáng thì không thấy đâu nữa. Chỉ lưu lại chiếc áo cũ và một tờ thư nhỏ. Một thời gian chuyện ấy cũng lắng dần rồi quên đi. Cho đến một năm sau vợ chồng dì Năm trở về lại ôm theo đứa con nhỏ. Người ta suy diễn tính toán thì đúng là đứa bé bỏ rơi. Hỏi, dì Năm chỉ trả lời gọn lỏn, con tui chứ con ai. Đứa bé ấy giờ đang nằm cạnh tôi, gần ba mươi tuổi.

Rồi sao? Tôi ngồi dậy, chụp tay thằng Phúc như muốn nó hãy nói mau cái điều nó cần chia sẻ. Nó nhìn sững vào mặt tôi. Dưới ánh sáng của vầng trăng giữa tháng, gương mặt nó đầm đìa nước mắt. Em mang ơn cứu mạng của mẹ, em trả ơn suốt đời không hết, nhưng bị đưa vào thế khó, em phải lên tiếng. Một miếng đất ở quê cũng thấm vào đâu số nợ em phải trả, em làm ăn bị thua lỗ anh ơi!

Nghĩ mà thương thằng Phúc quá chừng. Nó là đứa biết nghĩ, chẳng qua bởi hoàn cảnh mà thôi. Tôi động viên nó rằng dì Năm không sao đâu. Dì chỉ sốc nặng, và mọi chuyện sẽ ổn thôi. Và em, tôi bóp đôi vai đang rung lên của thằng Phúc, cứ lo làm ăn, nợ nần từ từ trả, có gì anh giúp cho một ít. Nhưng còn việc con rơi, con rớt chưa nên nói lúc này nha. Thằng Phúc nhìn tôi hàm ơn, lắc đầu nhè nhẹ trông đến tội. Mẹ tôi, từ nãy giờ ngồi ở bậc thềm, nghe cả nên từ tốn. Có gì đâu mà lo lắng, con nào chả là con, hãy yêu thương nhau mọi chuyện sẽ giải quyết ổn thỏa. Thôi, hai anh em đi ngủ đi, mai còn nhiều việc lắm đây. Nói rồi, mẹ tôi đập chiếc quạt nan vào cột xua muỗi rồi chìm khuất vào bóng đêm nơi khung cửa.

Lúc tôi và thằng Phúc về bên nhà dì thì dì không có nhà. Chỉ có con Nhân, con Hạnh. Tôi hỏi thằng Đức không về à, con Hạnh bảo không biết. Con Nhân thì làm thinh. Trông thấy thằng Phúc thất thiểu, buồn rầu bước vào nhà, hai người chị lảng đi, không thèm đá động đến. Thằng Phúc lại trước bàn thờ ông bà ngoại và cha nó, thắp hương. Nó lầm rầm khấn vái, đứng gần cũng không nghe được gì. Nó quay ra, hai tròng mắt đỏ hoe. Tôi biết nó đang xúc động mạnh nên hỏi một câu lạc để, về dự án chăn nuôi từng ấp ủ của nó. Thằng Phúc chưa kịp nói gì, thì tôi đã nghe đầu ngõ có tiếng người xôn xao, tiếng bước chân chạy dồn. Thì ra dì Năm bị ngã xuống ao đầu làng. Người dì ướt nhẹp, mùi bùn hôi hám bám đầy. Tôi giục con Nhân, con Hạnh đi lấy nước tắm gội cho dì. Thằng Phúc há hốc mồm, chân tay thừa thải, đứng luýnh quýnh một bên.

Có người kể lại, mấy nay dì thường ra đường cái, rồi lang thang vô định. Dì cười cợt với bóng nắng, dì hải hoa dọc đường cài đầu, dì dúi bánh kẹo cho tụi con nít chạy theo ê a mấy câu trêu chọc. Chỗ dì hay ngồi là rể đa to ngay cạnh ao làng. Dì ngồi ấy, ánh mắt dáo dác vô hồn. Có khi dì lùng sục trong các bụi cây thấp gần đó, như tìm kiếm một cái gì đánh mất. Thằng Phúc nghe kể vậy, quặn thắt từng khúc ruột. Rằng mẹ nó không điên đâu, mà đang rất tỉnh tảo. Bà đang tìm nguồn cội cho nó đấy. Nó ôm mặt khóc rồi chạy đến bên dì Năm đang thiêm thiếp ngủ.

Về sau, chuyện dì Năm phát điên vì sự tranh giành đất đai của con cái được truyền đi khắp nơi. Họ tội nghiệp cho dì bạc phước. Con cái hắt hủi, vô ơn. Đã lâu không thấy con Nhân, thằng Đức mò về. Nghe đâu chị em họ, từ nhau, không nhìn mặt nữa. Mảnh đất của dì nằm trong khu quy hoạch, tiền đền bù bao nhiêu dì bảo chia đều cho bốn đứa. Nhưng hình như sau lần ấy, đứa nào cũng xấu hổ nên dì đã gửi ngân hàng, phòng thân. Thằng Phúc sau đó dọn về quê, mua mảnh đất gần nhà, sớm hôm chăm sóc mẹ. Nó không mảy may nghĩ ngợi về gốc gác của nó nữa. Nó trồng cỏ, phát triển chăn nuôi bò sữa. Vợ nó dạy ở trường mầm non xã. Dì Năm giờ đau yếu suốt. Dăm bữa con Hạnh về thăm, mua sữa mua đường bồi dưỡng cho mẹ. Hôm tôi về lại thành phố, ngang cây đa đầu làng, nghĩ ngợi lẩn thẩn nên dừng xe ngắm ao sen đang mùa nở rộ. Một bà cụ bán quán gần đó, lụm cụm đi tới, nói một câu mà tôi giật điếng người: Có phải cháu về tìm mẹ không? Chỗ này này, bà cụ chỉ vào gốc đa, cái tấm áo và tờ giấy bà còn giữ đấy? Mấy hôm trước, có người đàn bà ở xóm dưới tìm con ngã xuống ao rồi đấy!

Tôi dường như mụ mị bởi niềm xúc động đang dâng ngập trong lòng. Có lẽ bà cụ này biết rõ nguồn cơn câu chuyện. Tôi tháo nón bảo hiểm, đấy xe vào sát hiên quán. Bà cụ rút ra trong ngăn kéo một bọc nhỏ, gói ghém kỹ lưỡng. Thật đúng như những gì người làm bàn tán dạo nọ. Tấm áo cũ quấn người đứa bé bỏ rơi và một mẩu giấy nhỏ, chữ nhòe đọc chữ được chữ mất. Tôi căng mắt vẫn không sao đọc hết được, chỉ biết rằng, đấy là một bi kịch về tình yêu, về sự trả giá, về sự trốn chạy, về sự hàm ơn. Tôi xâu chuỗi lại mọi điều, về chuyện mẹ tôi từng kể về người thợ bạc giàu sang nhưng đa tình, đào hoa, về số phận của người đàn bà nhan sắc rơi vào vòng xoáy tình tiền mà lạc bước, về dì Năm Dình nhân từ, độ lượng… Tất cả là một kế hoạch hoàn hảo mà dì Năm Dình đã vạch ra, dĩ nhiên để làm được điều này, dì đã đau lắm. Và người đàn ông thợ bạc là chồng dì cũng ăn năn, hối lỗi. Đứa trẻ vô tội, không cứu đời nó thì ân hận suốt đời. Vợ chồng dì Năm phải rời quê tạm thời và mang theo đứa con của người đàn bà bất hạnh đang mang trọng bệnh. Dì ôm con kẻ thù mà cứ ngỡ là núm ruột của mình. Yêu thương, chăm sóc. Chồng dì ăn năn nên đã dốc sức làm việc đến nỗi bệnh lao phổi hoành hành mà vẫn cứ chủ quan.

Bà cụ xếp lai tấm áo rồi dúi vào tay tôi. Tôi ngần ngại một lát rồi cầm lấy, dù không biết cầm để làm gì nữa. Nhưng ít ra ngay lúc này đây, cái kỉ vật bình dị tưởng chừng ngủ quên đã giúp tôi nghĩ đến những điều sâu xa nhất về con người, về đối nhân xử thế, về tình thương và sự tha thứ. Tôi quay xe lại, muốn nói với dì Năm những điều bình dị nhưng rất thiêng liêng đó, dù dì đã biết hết câu chuyện này rồi. Chẳng hề gì, tôi nhấn ga. Tới cổng nhà dì Năm, tôi nghe loáng thoáng trong gió chiều, một điệu ru êm đềm cất lên. Và lần đầu tiên trong đời tôi mới thấy, bên bậc thềm thằng Phúc đang ngả đầu vào vai dì Năm, còn dì thì đang cất lên từng điệu ru, nghe như xé lòng, nẫu ruột.



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ QuảngNgãi ngày 12.03.2017.

trích đăng lại bài vở đăng tải trong việt văn mới - newvietart.com xin vui lòng ghi rõ nguồn

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004