Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới




Mấy Kỉ Niệm Be Bé Trong 7 Năm Dạy Học

Tại Trường THPT Nguyễn Trãi (Ninh Thuận)




T háng 9 năm 1982, tôi được điều về trường THPT Nguyễn Trãi (Ninh Thuận, trước 1975 là trường Trung học Duy Tân), sau 7 năm dạy học tại trường THPT Ninh Hải (Ninh Thuận), từ 1975 đến 1982. Tôi không xin xỏ gì cả. Nghe đồn về trường THPT Nguyễn Trãi để phụ trách Tổ Văn. Nhưng đã có anh Duận rồi nên sau đó, tôi được bầu bổ sung làm Phó Thư kí Công đoàn năm học 1982-1983. Từ năm học sau, 1983-1984, cho đến khi tôi xin chuyển ra Trung tâm KTTH-HN-DN Ninh Thuận, tháng 9 năm 1989, 6 năm tôi liên tục làm Thư kí Công đoàn rồi Chủ tịch Công đoàn trường THPT Nguyễn Trãi (khoản năm 1883 hay1984 thì gọi là Chủ tịch Công đoàn thay vì Thư kí Công đoàn trường cho tới nay). Tôi xin thuật lại vắn tắt mấy kỉ niệm be bé trong 7 năm dạy học tại trường THPT Nguyễn Trãi (Ninh Thuận). Vui có, buồn có nhưng đều thật 100%.


1. Trồng dừa ở Bình Sơn


Bờ biển Bình Sơn trước đây, từ resort Hoàn Cầu cho đến khách sạn Sài Gòn – Ninh Chử đều bỏ hoang, gồm cỏ lông chông, xương rồng và các loại cỏ khác.

Lãnh đạo trường THPT Nguyễn Trãi mơ biến nơi đây thành một rừng dừa trĩu quả. Trường đã mua và huy động học sinh, phụ huynh học sinh góp được hơn 2000 cây dừa. Đang mùa mưa, thầy trò phấn khởi đưa dừa con đi trồng. Dừa đã phủ khắp khu vực các resort Thái Bình Dương, Đen Giòn, Hoàn Cầu bây giờ. Mấy tháng đầu, dừa con hầu hết sống, tươi xanh.


Họa sĩ Nguyễn Khoa Nhi đã vẽ một bức tranh lớn, khổ 2m x 3m, treo ở cuối Phòng họp Hội đồng. Bức tranh là một rừng dừa xanh tốt, chi chít quả.


Nhưng rồi mùa mưa qua đi, mùa nắng bắt đầu, lũ dừa con cũng bắt đầu héo lá rồi lần lượt từ giã cõi đời! Mấy năm sau, người ta chỉ thấy 5-7 cây còn sống! Đúng là chúng tôi duy ý chí, phi thực tế, phi khoa học. Bởi lẽ, trong mùa nắng, nếu đào xuống 2-3 mét thì cát vẫn khô ráo, rời từng hạt. Vậy, dừa con làm sao sống được?


Nếu ta đào rãnh sâu 1 mét, rộng 1 mét rồi đổ đất sét, đất thịt xuống và trồng thì dừa chắc chắn sẽ sống. Vì đất sét, đất thịt sẽ giữ ẩm cho cây.


Cuối cùng, hơn 2000 cây dừa hầu như biến mất. Bức tranh dừa bị rách và ai đó đã gỡ xuống, xếp lại, …


2. Học và làm thảm xơ dừa:


Lúc này, phong trào lao động sản xuất trong các trường rất rầm rộ. Chúng tôi gồm 5-6 giáo viên được trường cử ra Cam Ranh, đến Hợp tác xã dệt thảm xơ dừa Đồng Tâm để học nghề. Từ việc đập vỏ dừa khô để lấy xơ, đánh thành sợi thừng dài 20 mét, mắc các sợi thừng vào khung dệt, đứng tại khung dệt để dệt và cắt ra từng tấm 0,4 x 0,6 mét, khâu 2 đầu để thành một tấm thảm.


Học khoản 1 tuần, chúng tôi đã thông thạo. Trường mua 2 khung dệt. Hằng ngày, ngoài các tiết dạy, tôi đều đứng dệt. Sân trường, trước và sau, đầy vỏ dừa khô và tươi. Báo chí đưa tin: trường THPT Nguyễn Trãi (Ninh Thuận) sản xuất thảm xơ dừa, xe ra vào ăn hàng tấp nập! Ha ha …


Trong dịp tổng kết năm học tại trường Dục Thanh (Phan Thiết, lúc này là tỉnh Thuận Hải), trường chở theo một khung dệt và tôi sáng, chiều phải đứng dệt biểu diễn cho quan khách ngắm nghía, trầm trồ!


Cuối cùng, hàng trăm tấm thảm chẳng biết bán cho ai, phải đem tặng nơi này nơi kia. Và kế hoạch sản xuất thảm xơ dừa để xuất khẩu đã kết thúc cũng thảm như thảm xơ dừa!


3. Làm ruộng ở Dư Khánh (Khánh Hải, Ninh Hải, Ninh Thuận):


Nông dân chán làm ruộng, ruộng không người làm. Trường đã liên hệ và Hợp tác xã nông nghiệp Dư Khánh đã giao cho trường hơn 10 mẫu ruộng gồm 27 thửa ruộng rải rác từ núi Cà Đú đến trường Cao đẳng Sư phạm. Tôi lại được trường đặc cử đi làm ruộng bởi tôi thông thạo địa bàn này (7 năm dạy học tại trường THPT Ninh Hải). Thế là, mỗi tuần tôi chỉ dạy có mấy tiết, thời gian còn lại là “ nằm dưới ruộng”.


Cày, bừa ruộng bằng máy. Hằng ngày, tôi đứng trên máy cày, bên anh thợ cày. Không sướng đâu! Máy cày nhào lên, nhào xuống, nghiêng bên trái, nghiêng bên phải. Không khỏe sẽ xây xẩm mặt mày ngay. Bừa ruộng thì chỉ thợ làm thôi.


Trước khi bừa ruộng 3 hôm, tôi đã nhận giống của Hợp tác xã để ngâm, ủ cho ra mầm. Ngày gieo mạ, tôi và học trò, mỗi người mang 1 bao giống và 1 cái thúng ra ruộng. Chúng tôi gieo hết thửa ruộng này qua thửa ruộng khác. Trăng mọc lên, mới hoàn tất. Tôi bỗng nhớ bài thơ của đại thi-văn-hào Victor Hugo, bài « Saison des semailles, le soir » (Mùa gieo hạt, buổi chiều).


C'est le moment crépusculaire.

J'admire, assis sous un portail,

Ce reste de jour dont s'éclaire

La dernière heure du travail.


Dans les terres, de nuit baignées,

Je contemple, ému, les haillons

D'un vieillard qui jette à poignées

La moisson future aux sillons.


Sa haute silhouette noire

Domine les profonds labours.

On sent à quel point il doit croire

A la fuite utile des jours.


Il marche dans la plaine immense,

Va, vient, lance la graine au loin,

Rouvre sa main, et recommence,

Et je médite, obscur témoin,


Pendant que, déployant ses voiles,

L'ombre, où se mêle une rumeur,

Semble élargir jusqu'aux étoiles

Le geste auguste du semeur.


Hai dòng cuối hay và lãng mạn nhất!


Vung tay rộng mở đến sao trời
Hào hùng lắm người gieo hạt ơi!
(Phan Thành Khương dịch)


Bản dịch thơ tiếng Việt:

Mùa giao giống buổi chiều


Hoàng hôn đang xuống đó

Tựa cửa, ta ngắm trông

Ngày tàn còn soi tỏ

Giờ cuối buổi làm đồng


Bóng đêm đầm mặt ruộng

Tơi tả áo quần giây

Cụ già vung nắm giống

Mùa sau xuống luống cày


Dáng người cao đen sẫm

Vời vợi trên đồng sâu

Hẳn lòng người tin lắm

Tháng ngày kia đến đâu


Người bước, đồng mênh mông

Tới lui, tung hạt giống

Nắm mở bàn tay ông

Ta lặng nhìn, mơ mộng


Trong màn đêm lan rộng

Nghe lẫn tiếng rì rào

Cánh tay người gieo giống

Như vươn tới trời sao.

(Bản dịch của Tố Hữu)


Hằng ngày và cả đêm, tôi phải có mặt ở ruộng để lấy nước vào các thửa ruộng.


Làm cỏ ruộng cũng không dễ dàng. Cỏ phủ kín mất lúa. Thầy trò phải nhổ cỏ. Cỏ chất đầy bờ ruộng, có chỗ cao 0,5 đến 0,6 mét!


Bón phân cho lúa thì cũng do thầy trò thực hiện. Nhận phân NPK, phân đạm của Hợp tác xã. Thầy trò mỗi người mỗi bao và một thúng nhỏ. Chúng tôi vãi phân như gieo giống vậy thôi.


Rồi lúa trỗ, lúa chín. Lúa chín, ban đêm thầy trò phải xuống canh giữ. Chúng tôi trải ni lông nằm trong các bụi chuối, có đem theo súng AR15. Nửa đêm, nổ vài phát lên trời cho bọn trộm sợ rồi mình ngủ tiếp.


Thầy trò lại đi gặt lúa. Có máy suốt lúa. Tới gần tối thì xong. Năm ấy, được 12 tấn lúa. Thuê xe chở về trường và bán cho GV, CNV nào cần.


Nói chung, làm ruộng rất mệt, năng suất quá thấp nhưng cũng có thành quả dù nhiều dù ít.


4. Hái dừa cho cả trường làm mứt tết :


Năm 1984, cách tết chừng 10 ngày, các anh bảo Công đoàn hái dừa cho cả trường làm mứt. Chủ tịch Công doàn phải lo vụ này. Năm ấy, trường THPT Nguyễn Trãi quản lí khu vườn ở phía sau Nhà thờ Phan Rang. Vườn rộng hơn một mẫu. Trong vườn có chừng 30 cây dừa, 20 cây xoài, khế, ổi, bạc hà, rau lốt, sả, … Quanh vườn có mương nước với rất nhiều cá, lươn, …


Tôi, thầy Phố, thầy Đào, thầy Hỉ đi hái dừa. Dừa đã già lão, khá cao, trừ mấy cây dừa xiêm. Thầy Đào trèo được một cây, hái được mấy chục trái. Thầy Phố chỉ trèo được nửa cây rồi hai đầu gối run run không trèo lên được nữa! Thầy Phố trèo xuống còn khổ sở hơn trèo lên!


Thế là tôi phải trèo 7-8 cây nữa. Chủ tịch Công đoàn mà! Thưc ra, tôi là người sống cạnh rừng, vườn nhà tiếp giáp với rừng, từ bé tôi đã quen leo trèo. À, tôi nhớ có lần, cũng tại trường THPT Nguyễn Trãi, khi thầy cô, học sinh đã nghiêm chỉnh chuẩn bị chào cờ, thầy dạy thể dục đã hô "Nghiêm" nhưng hai học sinh kéo cờ không thể kéo cờ được, dây buộc cờ kẹt giữa ròng rọc với khung sắt. Thế là tôi chạy đến, bỏ giày và như con khỉ, tôi "đi" lên ngọn trụ cờ để gỡ sợi dây ra, đăt vào giữa cái ròng rọc rồi tụt xuống cái vèo. Trở lại chuyện hái dừa,tôi trèo lên ngọn và lựa những buồng dừa có thể làm mứt, đạp xuống ào ào. Thầy Hỉ đưa ba gác đến chở về trường. Hơn 300 trái, mối thầy, cô, công nhân viên được nhận 3 trái dừa về làm mứt tết. Mùa xuân ấy, toàn trường đều có mức dừa tự làm, không phụ gia, không hóa chất độc hại!


5. « Bị » dự giờ bất ngờ:


Giáo sư, Tiến sĩ, Thứ trưởng Bộ Giáo dục Nguyễn Văn Hạnh về thăm trường. Trong giờ ra chơi, tôi được thông báo thầy Hạnh sẽ dự tiết dạy sắp tới của tôi. Hôm ấy, tôi dạy bài văn nghị luận « Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt » của Phạm Văn Đồng ở lớp 12. Bài này dạy trong 2 tiết. Tiết trước, tôi đã giới thiệu về tác giả, bố cục, đại ý của bài văn. Tiết tiếp theo, sẽ đi vào phân tích và đánh giá chung bài văn.


Về sự giàu và đẹp của tiếng Việt, tôi phân tích :

- Tiếng Việt giàu về vốn từ : gồm từ thuần Việt (cá, đi, đẹp, …), toàn bộ từ tiếng Hán đã được Việt hóa hoàn toàn (học, tập, định, …) hoặc chỉ được Việt hóa về cách đọc, có thể dịch ra từ thuần Việt (hải = biển, mĩ = đẹp, tẩu = chạy, …) các từ vựng Anh, Pháp cũng được tiếp nhận thuận lợi (a xít, cà vạt, ô xi, …).

- Tiếng Việt giàu trong cách diễn đạt: một khái niệm có nhiều từ để dùng, một từ diễn đạt nhiều khái niệm khác nhau. Ví dụ : khái niệm « chết » có thể nói băng hà, qui tiên, qua đời, về với ông bà, … hoặc toi, ngủm, ngoẻo, ra Cà Đú, … Từ « ăn » có thể là : đưa thức ăn vào miệng, nhai, nuốt, có thể là thắng, hơn (Ván này, tôi ăn anh).

- Tiếng Việt đẹp bởi rất giàu âm điệu. Khi nói « hoa nở », miệng ta tròn và mở ra như hoa nở ; khi nói « khép », « ngậm », miệng ta cũng phải khép, ngậm lại. Có vô số từ láy tượng hình, tượng thanh : long lanh, róc rách, gập ghềnh, ríu rít, …

- Do học Pháp văn là sinh ngữ một, lại học ban C nên tôi đã so sánh tiếng Pháp và tiếng Việt để thấy rõ hơn sự giàu đẹp của tiếng Việt. Người Pháp chỉ dùng mỗi động từ « porter » : porter un chapeau, porter des souliers, porter une chemise, porter un enfant, porter une valise, porter un livre, … thì người Việt lại nói : đội một cái mũ, mang đôi giày, mặc một chiếc áo sơ mi, ẵm một em bé, xách một cái va li, cầm một quyển sách … Như vậy, « porter » phải dịch bằng nhiều từ tiếng Việt khác nhau: đội, mang, mặc, ẵm (hay bồng, bế), xách, cầm, … Rõ ràng tiếng Việt của chúng ta rất giàu và rất đẹp nhưng dĩ nhiên các thứ tiếng nói khác cũng có sự giàu đẹp riêng. Ta chỉ nên tự hào về tiếng Việt nhưng không nên chê bai các thứ tiếng nói khác.


Tổng kết bài dạy, tôi đánh giá chung : bài viết của Phạm Văn Đồng chặt chẽ, mạch lạc, lập luận và dẫn chứng giàu sức thuyết phục. Biết rõ sự giàu đẹp của tiếng Việt, chúng ta phải tích cực học tập tiếng Việt để nói và viết tiếng Việt vừa đúng vừa hay, đạt hiệu quả giao tiếp cao. Đó chính là giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.


Chiều đó, trong buổi họp Hội đồng đột xuất, Thứ trưởng Nguyễn Văn Hạnh bảo anh Khương dạy rất tốt, có thể dạy ở Đại học. Có lẽ ông quá thương tôi, thấy tôi hợp ý với ông hay sao mà khen « dữ » vậy? Chẳng biết!


Ninh Thuận, chiều 18-11-2016



. @ Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ NinhThuận ngày 11.03.2017.


VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004