Việt Văn Mới Newvietart
Việt Văn Mới






Ngôi Sao Băng :

Nguyễn Huệ - Quang Trung








C húng tôi đến Bình Đinh và thăm Qui Nhơn vào đầu tháng 5 dương lịch. Biển Qui Nhơn êm đềm trong gió lặng, trời yên, bầu trời xanh hòa với nước biển xanh.

Tắm biển và ngắm cảnh quan Qui Nhơn, đi tham quan các di tích lịch sử của Bình Định, và thấy, đây là vùng đất địa linh nhân kiệt.

Từ Quy Nhơn chúng tôi đi thăm vùng đất võ Tây Sơn, Bình Định, nơi thờ Tam kiệt Tây Sơn và Bảo tàng Quang Trung,  theo quốc lộ 19, khoảng 45 km, đến làng Kiên Mỹ, ấp Kiên Thành thuộc thị trấn Phú Phong, huyện Tây Sơn.

  Người ta nói, chính ba anh em Tây Sơn là những người khai sáng, phát triển,  hoàn thiện các phái võ có từ lâu đời ở Bình Định. Tương truyền, Nguyễn Huệ sáng tạo Yến phi quyền, Độc lư thương và đưa nhạc trống vào khích lệ ba quân chiến đấu ( Trống trận Quang Trung); Nguyễn Lữ sáng tạo Hùng kê quyền…

   Di tích còn đó, hồn người xưa phảng phất đâu đây. Trong không gian thoáng mát với nhiều cây xanh, người ta liên tưởng tới những anh hùng trong đoàn quân áo vải Tây Sơn như  Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyến Lữ, Bùi thị Xuân, Trần Quang Diệu, Ngô văn Sở…từng đến đây luyện tập võ nghệ và đàm đạo việc quân.  

  Trong ba anh em, Nguyễn Huệ là viên tướng tài giỏi nhất, hầu như cầm quân đánh đâu thắng đấy. Những trận lừng danh, như trận chiếm lại Phú Yên từ tay nhà Nguyễn khi Nguyễn Huệ mới 23 tuổi, đánh Gia Định bắt hai chúa Nguyễn 1777, thắng Xiêm 1784, hạ thành Phú Xuân 1786, tiến đánh Thăng Long diệt tập đoàn Lê Trịnh 1786, thống nhất đất nước, tiêu diệt hơn 20 vạn quân Thanh 1789, kết thúc bằng trận Ngọc Hồi, Đống Đa Hà Nội…

  Nguyễn Huệ được tôn vinh là một thiên tài quân sự, ông được các giáo sĩ phương Tây so sánh với Alexandros  Đại đế và Attila là những danh tướng vĩ đại trong lịch sử.

Chính sử của nhà Nguyễn phải thừa nhận: ”Quân Xiêm ( từ sau khi thua trận Rạch Ngầm- Xoài Mút) tuy ngoài miệng thì nói khoác nhưng trong bụng thì sợ Nguyễn Huệ như sợ cọp”.

Nguyễn Huệ không chỉ giỏi cầm quân mà ông còn sử dụng, phối hợp các loại vũ khí, phương tiện quân sự mới ở thời kỳ ấy để chiến thắng đối thủ.

Gras de Pre’ville, thuyền trưởng tàu Padour của Pháp ở Gia định đã viết về Nguyễn Huệ và quân đội của ông như sau: “ Tây Sơn rất mạnh; quân đội của Nguyễn Huệ nếu không thiện chiến  cũng rất đông; Nguyễn Huệ có voi để kéo pháo, và hơn nữa, Nguyễn Huệ có rất nhiều chiến thuyền, chiến hạm và tàu thuyền để chở quân đội. Nguyễn Huệ có nghị lực , tài năng…”

Trong baỏ tàng Quang Trung còn lưu lại nhiều loại vũ khí nhà Tây Sơn dùng trong các trận đánh.

Với ý chí bảo vệ non sông đất Việt bằng mọi giá, trong Chiếu xuất quân đi đánh quân Thanh ông đã viết:

Đánh cho để tóc dài

Đánh cho để răng đen

Đánh cho nó chích luân bất phản

Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn

Đánh cho sử trí Nam Quốc anh hùng chí hữu chủ…

Những trận đánh gay cấn, một mất một còn, Nguyễn Huệ cầm quân, xông lên quyết chiến với kẻ thù tiến tới giành chiến thắng. Cách đánh của ông kết hợp cả truyền thống ( giả hàng địch khi đánh quân Xiêm..)và cách đánh hiện đại của phương Tây, tốc chiến tốc thắng khi đại phá quân Thanh. Các trận chiến do Nguyễn Huệ  chỉ huy  “ bách chiến bách thắng”. Sau này, chiến dịch 1975 lịch sử, quân đội ta cũng đã dùng chiến thuật “ thần tốc” khiến cho đối phương không kịp trở tay, nhanh chóng thống nhất đất nước.

Nguyễn Huệ- Quang Trung không chỉ là tướng tài quân sự mà ông còn giỏi về ngoại giao và cai trị đất nước.

Khi mang quân ra Bắc đánh họ Trịnh chuyên quyền, ông đã dùng khẩu hiệu “ phù Lê diệt Trịnh” để tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân Bắc Hà. Khi diệt được nhà Trịnh ông vẫn tôn thờ vua Lê. Khi Lê Chiêu Thống cầu cứu nhà Thanh, Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế, hiệu là Quang Trung, cầm quân ra Bắc.  Sau khi đại phá quân Thanh, đuổi vua Lê Chiêu Thống ra khỏi nước Nam,  Quang Trung  thực thi hòa giải với nhà Thanh và triều cống khiến vua Thanh chấp nhận Tây Sơn thay thế nhà Lê. Cách trừ phản loạn của ông cũng rất khôn khéo khiến cho tướng lĩnh khâm phục ( như diệt Nguyễn Hữu Chỉnh và Vũ Văn Nhậm khi hai ông này định cát cứ, xưng hùng).

Đưa giang sơn về một mối, Quang Trung bước đầu thiết lập chế độ cai trị đất nước bằng cách cải tổ các đơn vị hành chính, tổ chức bộ máy cai trị và thu hút nhân tài. Ông ban Chiếu Cầu hiền, có đoạn: “ Trẫm đang ghé chiếu lắng nghe, thức ngủ mong mỏi mà có người tài cao, học rộng chưa từng thấy đến. Hay Trẫm ít đức không đáng để phò tá chăng? Hay đang thời đổ nát chưa thể ra phụng sự?...Trẫm nơm nớp lo nghĩ, một ngày hai ngày cũng có hàng vạn sự việc nảy sinh. Ngẫm cho kỹ: cái nhà to lớn- sức một cây không dễ gì chống đỡ, sự nghiệp thái bình – sức một người không thể đảm đương ”

Nhờ thực tâm cầu hiền tài để giữ non sông đất nước, Quang Trung vừa khiêm tốn vừa hiểu rõ sức mạnh của các bậc hiền tài khi họ giúp vua cai trị nên Chiều Cầu hiền của ông đã được các cựu hiền nhà Lê cũ như tiến sĩ Đoàn Nguyễn Tuấn, Vũ Huy Tấn, Bùi Dương Lịch, Nguyễn Thiếp…hưởng ứng,  ra trợ giúp.

Trong việc phát triển kinh tế ông coi trọng thương nghiệp, mở mang buôn bán với nước ngoài chứ không “ trọng nông ức thương” như trước đây và giảm thuế cho dân ở một số ngạch thuế…

Không may cho đất nước, khi Nguyễn Huệ- Quang Trung đang khôi phục đất nước sau nội chiến liên miên hàng thế kỷ, đất nước tan hoang, thì ông qua đời. Chỉ làm vua hơn bốn năm, ông ra đi, nhiều chính sách tiến bộ chưa được thực thi.  Sự nghiệp dang dở, như ngôi sao băng vụt sáng rồi tắt, Quang Trung vào cõi vĩnh hằng. Đô đốc Vũ Văn Dũng, đang đi sứ nhà Thanh ở Bắc Kinh đã viếng ông:

                        Bố y phấn tích ngũ niên trung

                        Kim cổ thi vi sự bất đồng,

                         Thiên vị ngô hoàng tăng nhất kỷ,

                        Bất ư Đường Tống thuyết anh hùng.

Dịch là:

                        Năm năm dấy nghiệp tự thôn nông,

                        Thời trước, thời sau khó sánh cùng

                        Trời để vua ta thêm chục tuổi,

                        Anh hùng Đường Tống hết khoe hùng.

Nhận định về vua Quang Trung có rất nhiều ý kiến . Về quân sự, nhiều người khẳng định, Quang Trung là một thiên tài. Còn về việc cai trị đất nước người xưa đã nói về ông như sau: .

- Về chính sách Cầu hiền, Ngô Trọng Khuê, một đại thần cũ nhà Hậu Lê đã nói :”Sáng đẹp hơn ngũ đế, lòng nhân hiếu cảm động đến trời…với các sĩ phu thì cuốn vào máy, thu vào lồng, tìm trong hang núi, hỏi chốn thôn quê, hái chẳng sót loài cỏ mọn”.

  - Nhà sử học Trần Trọng Kim viết về việc trọng người tài của ông: “Vua Quang Trung nhà Nguyễn Tây Sơn là ông vua anh dũng, lấy võ lược mà dựng nghiệp, nhưng ngài độ lượng, rất am hiểu việc trị nước, biết trọng những người hiền tài văn học. Khi ngài ra đất Bắc Hà, những người như Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích đều được trọng dụng nhất là đối với một nhân sĩ như Nguyễn Thiếp ( La Sơn Phu Tử) thì thật khác thường”.

Trong tác phẩm “Bút ký lịch sử về dân tộc An nam” Legrand de la Liraye viết:“Ông không chỉ là nhà cầm quân mà còn là nhà cai trị rất giỏi…Đồn binh vững vàng khắp đường sông, cửa biển; kỷ luật nghiêm minh, đồng thời lại rất nhân từ với nhân dân…”

- Về kinh tế ông có nhiều chủ trương tiến bộ

Tất cả đều nhận định, cách cai trị của vua Quang Trung là dựa vào dân, dựa vào các sĩ phu, nhân sĩ, những người tài, có học, có đức để cai trị đất nước.

Nếu vua Quang Trung không ra đi quá sớm, Việt Nam thời đó ắt hẳn phát triển, nước mạnh, dân yên. Vì, với những chính sách kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao… tiến bộ của ông, nước Việt đã có thể thoát khỏi ách xâm lăng của đế quốc, thực dân giống như Nhật và Thái Lan, giữ được độc lập tự chủ để có cơ hội phát triển ./.


( Bài viết có tham khảo trên Internets những tư liệu về vua Quang Trung).



. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ HàNội ngày 12.01.2017.

VIỆT VĂN MỚI NEWVIETART NHỊP CẦU NỐI KẾT VĂN HỌC NGHỆ THUẬT VIỆT NAM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC TỪ NĂM 2004